Các loại gen liên quan đến
ung thư
Các gen bình thường điều hòa sự sinh trưởng và phân chia tế bào trong chu
kỳ tế bào gồm các gen mã hóa cho các yếu tố sinh trưởng, các thụ thể của
chúng và các phân tử tham gia vào các con đường truyền tín hiệu giữa các tế
bào. Các đột biến làm thay đổi ở những gen này trong các tế bào soma có thể
dẫn đến ung thư. Tác nhân của thay đổi như vậy có thể là các đột biến tự phát
ngẫu nhiên. Tuy vậy, nhiều đột bién phát sinh ung thư có xu hướng là do các
tác nhân của môi trường, chẳng hạn như các loại hóa chất độc hại gây ung
thư, tia X và các nguồn tia xạ năng lượng cao khác hoặc do một số virut nhất
định.
Một trong những phát hiện mang tính bước ngoặt về ung thư xuất hiện vào
năm 1911, khi một nhà bệnh học người Mỹ là Peyton Rous phát hiện ra một
loại virut gây ung thư ở gà. Kể từ đó, các nhà khoa học đã tìm ra một số virut
khối u gây bệnh ung thư ở các loài động vật khác, trong đó có cả ở người.
Virut Epstein - Barr gây tăng bạch cầu đơn nhân truyền nhiễm có liên quan
đến một số loại ung thư, trong đó đáng chú ý là bệnh bạch cầu lympho
Burkitt. Các Papillomavirut liên quan đến ung thư cổ tử cung và một số loại
virut có tên là HTLV-1 gây nên một loại bệnh bạch cầu ở người trưởng
thành. Xét trên toàn thế giới, virut có liên quan đến sự phát sinh ung thư ở
khoảng 15% số ca ung thư ở người.
Gen gây khối u và gen tiền khối u
Các nghiên cứu về các virut khối u đã dẫn đến việc phát hiện ra các gen gây
phát sinh ung thư và được gọi tắt là gen gây khối u (oncogen- khối u) ở một
số retrovirut nhất định. Sau này, những bản sao gần giống với những gen gây
khối u này được tìm thấy trong hệ gen người và các loài động vật khác.
Những bản sao bình thường này có trong hệ gen của tế bào, được gọi là các
gen tiền khối u, mã hóa cho các prôtêin có vai trò thúc đẩy sự sinh trưởng và
phân chia bình thường của tế bào.
Vậy, bằng cách nào một gen tiền khối u - thường là gen có chức năng thiết
của tê bào. Mọi đột biến làm giảm hoạt động bình thường của một prôtêin ức
chế khối u có thể góp phần gây phát sinh ung thư, trong thực tế là kích thích
hoạt động sinh trưởng do thiếu hoạt động ức chế.
Sản phẩm prôtêin của các gen ức chế khối u có nhiều chức năng khác nhau.
Một số prôtêin ức chế khối u có chức năng sửa chữa ADN; chức năng này
giúp tế bào trảnh khỏi việc tích lũy các đột biến gây ung thư. Các prôtêin ức
chế khối u có vai trò điều khiển hoạt động đính kết giữa các tế bào với mạng
ngoại bào; sự định vị đúng của các tế bào có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức
ở các mô bình thường, nhưng thường thiếu ở các mô ung thư. Bên cạnh đó,
các prôtêin ức chế khối u còn có thể là thành phần thuộc các con đường
truyền tín hiệu trong tế bào có tác động ức chế sự diễn tiến của chu kỳ tế bào.