Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Nguồn nhân lực luôn là một yếu tố quan trọng hàng đầu trong mọi lĩnh vực.
Một quốc gia có cường thịnh hay không phụ thuộc vào chất con người nước đó.
Đất nước ta đang trong quá trình phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá, hội
nhập kinh tế khu vực và thế giới, vì vậy yếu tố con người càng phải được đặt lên
hàng đầu. Đảng ta luôn khẳng định nguồn lực quan trọng nhất CNH-HĐH đất
nước là con người. Văn kiện đại hội VIII của Đảng đã nhấn mạnh rằng phát huy
nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Một doanh nghiệp, một tổ chức cũng vậy, nguồn nhân lực không những
đóng vai trò là yếu tố đầu vào quan trọng mà còn yếu tố quyết định tới khả năng
cạnh tranh của chính Công ty đó. Vấn đề nhân lực nói đến ở đây không chỉ hạn
hẹp trong số lượng (luôn đủ về số lượng) mà là chất lượng, chất lượng phải cao
đáp ứng tốt được các yêu cầu công việc nói chung và yêu cầu đạt ra trước vận
định của xã hội riêng. Vì vậy, vấn đề đặt ra là việc thường xuyên phải nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng trong quản lý nguồn nhân lực.
Là sinh viên chuyên ngành quản trị kinh doanh, hiểu rõ được vai trò to lớn
của nguồn nhân lực trong việc cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa,
dịch vụ, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế phát triển nói
chung. Do đó cần luôn luôn chăm lo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhận
thức rõ vấn đề nêu trên, trong thời gian thực tập tại Công ty sứ Thanh trì, kết
hợp giữa lý thuyết được học tại nhà trường, và việc nghiên cứu tìm hiểu tình
hình thực tế. Em đã chọn đề tài nghiên cứu chuyên đề thực tập là: “Quản lý chất
lượng nguồn nhân lực ở Công ty sứ Thanh trì - Thực trạng và giải pháp”.
Ngoài phần mục lục và tài liệu tham khảo, báo cáo được trình bầy theo
kết cấu như sau:
Phần I: Khái quát về sự hình thành và phát triển của Công ty
Phần II: Thực trạng về nguồn nhân lực và Công tác Quản lý nguồn
nhân lực tại Công ty.
Phần III: Kiến nghị và giải pháp.
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 441
duyệt và tổ chức thực hiện sản xuất theo kế hoạch được giao.
Quản lý, sử dụng vốn kinh doanh theo đúng chế độ chính sách đạt hiệu
quả kinh tế cao, đảm bảo phát triển vốn và trang trải về tài chính.
Thực hiện chế độ báo cáo thống kê kế toán theo yêu cầu của Tổng công
ty.
Chấp hành đầy đủ những cam kết trong hợp đồng mua bá, liên doanh hợp
tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Chủ động và điều phối hoạt động kinh doanh và quản lý các đơn vị trực
thuộc theo phương án tối ưu, thực hiện mục tiêu đề ra.
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 443
Chuyên đề tốt nghiệp
Quản lý đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong Công ty theo chế độ, chính
sách, pháp luật của nhà nước và phân cấp của Tổng Công ty và Bộ Xây
Dựng.
PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY.
I. TỔNG QUAN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY.
Công ty sứ Thanh trì bắt nguồn từ một cơ sở sản xuất bát tư nhân từ những
năm 60. Trải qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, cho đến ngày nay Sứ
thanh trì đã trải qua rất nhiều những khó khăn và thử thách để đạt được những
thành công như ngày nay. Có thể tóm tắt các giai đoạn hình thành và phát triển
của Công ty qua các giai đoạn sau:
1. giai đoạn 1962-1987.
Tháng 3 năm 1961 xưởng gạch Thanh trì trực thuộc liên hiệp xí nghiệp sành,
sứ thuỷ tinh được thành lập. Nhiệm vụ chủ yếu của xí nghiệp là sản xuất các loại
gạch lá nem, gạch chịu lửa cấp thấp, gạch lát vỉa hè, ống máng thoát nước… sản
lượng sản xuất giai đoạn rất nhỏ.
Năm 1980 xí nghiệp đổi tên thành nhà máy sành sứ xây dựng thanh trì và
bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất các sản phẩm gốm sứ có tráng men.
Sản lượng những năm 1980:
Năm 2005, theo Quyết định số 225/TCT- HĐQT của HĐQT Tổng công ty
Thuỷ tinh và gốm Xây dung thuộc Bộ xây dựng sáp nhập nhà máy sứ Bình
Dương vào Công ty sứ Thanh trì nâng tổng công suất đạt hơn 800.000 sản phẩm
mỗi năm.
Trải qua hơn 40 năm lịch sử hình thành và phát triển đến nay công ty ngày càng
phát triển và lớn mạnh , sản phẩm với tính năng ưu việt và chất lượng cao, thị
trường rộng lớn và thuận lợi.
II. các đặc điểm kinh tế kỹ thuật của công ty sứ thanh trì.
1.Đặc điểm về cơ cấu tổ chức quản lý.
Do đặc trưng về ngành nghề sản xuất sứ vệ sinh nên đội ngũ cán bộ, công
nhân đòi hỏi phải được tuyển dụng một cách kỹ càng nhằm tuyển chọn được
những người có trình độ tay nghề cao, có ý thức chất chức kỷ luật tốt.
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 445
Chuyên đề tốt nghiệp
Trước đây, do sản lượng sản xuất nhỏ, công nghệ kỹ thuật còn đơn giản, số
lượng công nhân còn ít nên cơ cấu tổ chức của công ty được tổ chức theo kiểu
trực tiếp. Cơ cấu này đảm bảo chế độ một thủ trưởng, giám đốc trực tiếp điều
hành các phòng, phân xưởng. Tuy nhiên, mô hình này chỉ phù hợp với sản xuất
kinh doanh có quy mô nhỏ. Đến nay qui mô sản xuất kinh doanh đã tăng lên
nhiều lần so với dây chuyền công nghệ mới, hiện đại cùng với nó là đội ngũ cán
bộ công nhân viên ngày càng tăng, cơ cấu trực tuyến không còn phù hợp nữa.
Do đó, ban lãnh đạo công ty đã chuyển sang mô hình tổ chức theo kiểu trực
tuyến- chức năng. Cơ cấu này vừa đảm bảo thực hiện được chế độ một thủ
trưởng vừa phát huy được quyền dân chủ, sáng tạo, độc lập, tương đối của các
phòng ban trong tổ chức.
Cơ cấu tổ chức của Công ty Sứ Thanh trì được tổ chức theo mô hình trực
tuyến – Chức năng. Theo cơ cấu này, giám đốc được sự giúp đỡ của các nhà
quản trị chức năng để phân ra quyết định. Bên cạnh đó giám đốc vẫn phải chịu
trách nhiệm về mọi hoạt động của công ty. Mặc khác, việc ra quyết định vẫn
theo tuyến quyết định. Các trưởng phòng vẫn phát huy được tài năng và đóng
là bộ phận quan trọng tạo dựng nên hình dáng .
Nhà máy sứ Thành Trì (trung tâm sản xuất của công ty): là đơn cị kinh
tế có qui mô lớn nhất và quan trọng nhất của công ty. Nhà máy bao gồm 4
phân xưởng: phân xưởng gia công tạo hình; phân xưởng kỹ thuật men;
phân xưởng sấy nung và phân xưởng phân loại, đóng gói sản phẩm.
Nhà máy sứ Bình Dương: là nhà máy bao gồm các phân xưởng, có cơ
cấu gần giống với cơ cấu của nhà máy sứ Thanh Trì.
Mỗi bộ phận trong Công ty là một mắt xích quan trọng trong chuỗi thống
nhất. Sự cân đối, nhịp nhàng hoạt động của tất cả các phòng ban, bộ phận sẽ góp
phần vào thắng lợi chung trong hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty.
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 447
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 44
Sơ đồ 1: Tổ chức quản lý công ty sứ Thanh trì
Văn
phòng
P. GĐCT
Phòng
XK
Phòng
TCLĐ
Phòng TC
- KT
Phòng
KH - ĐT
PX phân
loại
P. GĐCT
P. GĐCT
công hồ
Bộ phận
men + HT
PX cơ điện
Phòng bán
hàng
Chi nhánh
Đà Nẵng
PX sản xuất
Chí nhánh
TP HCM
GiáM Đốc công ty
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 449
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Đặc điểm về sản phẩm và thị trường :
a. Đặc điểm sản phẩm
Hệ thống sản xuất sản phẩm sứ vệ sinh của mình theo hướng chuyên môn
hoá. Các sản phẩm sản xuất được thực hiện qua nhiều công đoạn và các khâu
khác nhau. Công ty không theo đuổi chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, song các
sản phẩm sứ của công ty khá phong phú về màu sắc và phải đạt chất lượng cao.
Vì thế các sản phẩm hiện được tung ra thị trường cũng khá đa dạng về chủng
loại. Khi sản phẩm được tung ra thị trường mà không còn phù hợp với đặc điểm
của thị hiếu người tiêu dùng nữa, thì công ty ngừng sản xuất và tập trung vào
nghiên cứu công nghệ và ý tưởng mới cho sản phẩm mới, chất lượng mới đáp
ứng được các nhu cầu mới của người tiêu dùng.
Về chủng loại sản phẩm: các loại chủ yếu của công ty đang tiêu thụ trên thị
trường :
• Bệt: VI1T; VI1TP; VI3P; VI32; VI5M; VI55; VI66; VI77; VI88; VI15;
Trắng: 70 %
Cốm, ngà, hồng : 20%
Mận, xanh nhạt: 5%
Đen, xanh đậm: 5%
Công ty luôn giữ uy tín chất lượng sản phẩm của mình, sản phẩm sản xuất
phải qua một quá trình kiểm tra nghiêm ngặt của phòng Kỹ thuật- KCS. Các sản
phẩm loại I được đưa ra thị trường tiêu thụ. Đồng thời chất lượng sản phẩm của
công ty đạt tiêu chuẩn “Vitreous China ” và tiêu chuẩn châu Âu. Đây là một lơị
thế của công ty trên thị trường trong nước và quốc tế. Nhưng để nâng cao hơn
nữa chất lượng, giảm tỷ lệ sản phẩm sai hỏng, phế phẩm, công ty cần phả áp
dụng nhiều biện pháp như nâng cao tay nghề cho người lao động, giảm tỷ lệ phế
phẩm và các biện pháp quản lý chất lượng để luôn duy trì và cải tiến chất lượng.
Về hình thức bao gói sản phẩm của công ty cũng đựơc chú ý để đảm bảo
sự bắt mắt bên ngoài và quan trọng hơn, nó đảm bảo an toàn hơn cho sản
phẩm khi vận chuyển hàng hóa. Công ty cũng thực hiện đóng gói toàn bộ
cá phụ kiện của sản phẩm một cách chọn gói, để tránh các hình thức
đánh tráo các phụ kiện của sản phẩm công ty. điều đó là để đảm bảo uy
tín và chất lượng cũng như là lòng tin của người tiêu dùng đối sản phẩm
của công ty.
b. Đặc điểm thị trường
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 4411
Chuyên đề tốt nghiệp
Ngày trước thị trường tiêu thụ của công ty chủ yếu là các tỉnh miền bắc,
các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra. Cho đến nay, thị trường được mở rộng khắp cả nước,
một thị trường khá rộng lớn nam trong phía nam. Đó là thành phố HCM và các
tỉnh phí nam, nơi mà công ty đặt chi nhánh của mình là công ty sứ Bình Dương
và các đại lý ở thành phô HCM. Mặt khác, thị trường xuất khẩu cũng mang lại
nguồn thu lớn cho Sứ Thanh Trì.
Đối tượng tiêu thị chủ yếu của Sứ Thanh Trì là các hộ gia đình và các
công ty xây dựng. Đây là đối tượng khách hàng khá quan trọng, nếu như
100.000 sản phẩm / năm. Đây cũng là một trong những mối đe doạ lớn
đến khả năng tiêu thụ của Sứ Thanh Trì, đặc biệt là ở khu vực các tỉnh
phía nam.
Nhà máy Sứ Việt Trì là một công ty trực thuộc Tổng công ty Thuỷ tinh và
Gốm xây dựng. Đây là công ty sớm đi vào cổ phần hoá. Hiện nay các sản
phẩm Sứ vệ sinh của Công ty sứ việt Trì được đánh giá là tương tương về
chất lượng của Sứ Thanh Trì tuy nhiên giá thành rẻ hơn. Đó là lý do ảnh
hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của công ty.
Ngoài ra công ty Sứ Thanh Trì được đánh giá là chuyên sản xuất các sản
phẩm sứ vệ sinh cao cấp nên các sản phẩm nhập ngoại trên thị trường hiện nay
là một mối đe doạ lớn. Bởi quan điểm tiêu dùng trong nước có tư tưởng sính
hàng ngoại. Để cạnh tranh được thì công ty Sứ Thanh Trì cần phải nỗ lực rất
lớn.
Về thị phần: Theo đánh giá của Viện vật liệu xây dựng thì hiện nay thị
trường các sản phẩm nhập ngoại chiếm 40% thị trường Việt Nam. Cũng
theo đánh gía của cơ quan trên thì thị phẩm của Công ty qua một số năm
như sau:
• Năm 2001 chiếm: 24,45%
• Năm 2002 chiếm: 23,87%
• Năm 2003 chiếm: 23,59%
• Năm 2004 chiếm: 28,68%
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 4413
Chuyên đề tốt nghiệp
Hiện nay thị phần của công ty chiếm khoảng gần 30% thị trường sứ vệ sinh
trong nước. đây là một tỷ lệ được đánh giá là cao và mạnh. Điều này càng khẳng
định được chất lượng của sản phẩm của công ty trên thị trường và là kết quả
những chính sách, chiến lược của ban lãnh đạo của công ty là rất đúng đắn, kịp
thời và sáng suốt.
Tại thị trường xuất khẩu,với doanh thu đạt được hàng năm khoảng 23%.
Bao gồm các khối và nước như: SNG, Nga và một số nước Châu Phi…tuy nhiên
trọng tới chất lượng và thương hiệu riêng của sản phẩm sứ.
Tạo hình là khâu mà các dạng sản phẩm đã đựơc hình dáng cơ bản ở dạng
khuôn (thực hiện trong phân xưởng khuôn mẫu) bán thành phẩm này sẽ
được các công nhân có tay nghề hoàn thiện hoàn chỉnh. hình dáng sản
phẩm đã đựơc định hình trứơc khi đem vào khâu sấy.
Các sản phẩm vẫn ở dạng ẩm được đưa vào hệ thống sấy mộc làm khô
đều và bảo quản môi trường khô dáo
hoàn thiện là một khâu trong quy trình công nghệ sản xuất dự phòng. là
khâu kiểm tra và hoàn thiện nốt các thiếu sót của sản phẩm ở dạng đất có
thể thay đổi và sửa chữa
Khi men được chế tạo thành công và được chuẩn bị sẵn sàng. quá trình
phun men lên sản phẩm phôi bắt đầu. quá trình đòi hỏi sự khéo léo và đầy
đủ của lượng men phun. nó quyết định tính kinh tế và chất lượng, cũng
như độ bền của sản phẩm.
Bộ phận dán chữ thực hiện chức năng của minh gắn các tên sản phẩm,
nhãn hiệu và thương hiệu lên sứ.
Lò nung là khâu quyết định tất cả. cũng giống như các sản phẩm sứ thông
thườnh, sản phẩm sứ vệ sinh cần một lượng cần nhiệt cần thiết theo yêu
cầu của sản phẩm. đồng thời cũng là quá trình tạo nên hình dáng cuối
cùng của sản phẩm. hỏng hay đạt thông qua quá trình phân loại.
Bước phân loại là bước quan trọng, quá trình này nhằm phân ra các sản
phẩm cùng loại, cùng chất lượng vào các nhóm. đồng thời loạ bỏ các phế
phẩm hoặc chế lại. đóng gói và giai đoạn cuối là nhập kho, sản phẩm hoàn
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 4415
Chuyên đề tốt nghiệp
toàn hoàn thiện và tung ra thị trường. Nhiễm vụ cuối cùng này thuộc về
phòng kinh doanh. Hiện nay Công ty đã áp dụng hệ thống 5S của Nhật
nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao.
Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ sản xuất sứ vệ sinh
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 44
đặt thiết bị bắt đầu được thực hiện. Ngày 02/09/1994 nhân dịp kỉ niệm
quốc khánh nước ta, dây chuyền sản xuất mới với các thiết bị máy móc
hiện đại, đồng bộ chính thức được đi vào hoạt động. Các sản phẩm sứ vệ
sinh cao cấp đạt tiêu chuẩn Châu Âu đã ra đời.
Ý tưởng ban đầu của công ty là nhập một dây chuyền sản xuất đồng bộ loại
nhỏ nhưng để tranh thủ tiếp cận nhanh với trình độ sản xuất của Thế giới và tận
dụng thiết bị, công nghệ hiện đại, tiên tiến các bí quyết như bài xương men,
đường cong nung, mẫu mã sản phẩmvà các công cụ sản xuất nhỏ, các thao tác
của công nhân sản xuất ở dây chuyền mới đã nhanh chóng được áp dụng cho cả
dây chuyền sản xuất của công ty và bước đầu đem lại hiệu quả tốt.
Không dừng ở đó, với công suất thiết kế 75.000 sản phẩm/ năm. nhưng với
ý thức tiết kiệm, tận dụng tối đa năng lực của công đoạn và kêt hợpvới sự sáng
tạo, khoa học của tập thể cán bộ và công nhân trong công ty đã mở ra khả năng
đưa ra công xuất 75000 sản phẩm/ năm lên 100.000 sản phẩm/ năm.
Dựa trên cơ sở sản xuất, các kết quả thu được qua việc đầu tư và sản xuất
sứ vệ sinh dựa trên dây chuyền công nghệ sản xuất mới căn cứ vào dự tính của
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 4417
Chuyên đề tốt nghiệp
Bộ Xây Dựng về sự phát triển của công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng. Tháng
7/ 1997 công ty đã thực hịên việc đầu tư lần hai cải tạo và mở rộng dây chuyền
được xây dựng năm 1992 nâng công suất từ 100.000 lên 400.000 sản phẩm /
năm, với số máy móc thiết bị nhập từ chủ yếu từ Italia, Anh và Mỹ…Tổng số
vốn đầu tư trên 90 tỷ đồng Việt Nam. Dự án đã được bộ Xây Dựng phê duyệt và
triển khai vào quí II năm 1996 đưa sản lượng của công ty lên 500.000 sản phẩm/
năm.
Hiện nay, các dây chuyền sản xuất này hoạt động và tạo ra năng lực sản
xuất lên 600.000- 800.000 sản phẩm/ năm, đứng đầu về sản lượng so với các
nhà máy sứ sản xuất sứ vệ sinh trong nước. Ngoài ra, bằng một số mấy móc của
dây chuyền sản xuất số 1 không sử dụng tốt sau đó cải tạo, mở rộng. Công ty đã
liên kết với xí nghiệp vật liệu xây dựng Việt Trì xây dựng và đưa vào họat động
18 Cabin phun men 4 Việt Nam 1996
19 Hệ thống sấy MT
2 Italy 1996
20 Hầm sấy mộc
2 Italy 1996
21 Lò nung Tulel
1 Mỹ 1996
22 Lò nung Shuttle
1 Italy 1993
23 Sàng nung
4 Italy 1996
24 Bơm dầu
2 Italy 1993
25 Máy thử nước
2 Việt Nam 1996
26 Máy mài
1 Anh 2000
27 Máy mài
3 Việt Nam 1993
28 Băng phân loại sản phẩm
1 Italy 1993
29 Máy phát điện 500 KVA
1 Đức 1993
30 Máy nén khí Đức
2 Đức 1996
31 Máy nén khí Mỹ
2 Mỹ 1993
32 Máy khoan đứng
1 SNG 1993
33 Máy bàn
9 Nhà máy sứ Thanh trì 290 285 5
10 Xí nghiệp sản xuất khuôn mẫu 136 132 4
Tổng số 522 505 17
( Nguồn: phòng Lao động tổ chức)
Trong đó, số lao động nữ là 99 người chiếm 19 %, lao động nam là 423
người chiếm 81% tổng lao động toàn công ty.
Là vốn nhà nước 100% Sứ Thanh Trì là loại hình sở hữu nhà nước. Do vậy lao
động của trong công ty yếu là lao động hợp đồng lâu dài và ngắn hạn. chiếm 95
% tổng lao động. Số biên chế chính thức của công ty là các cán bộ, nhân viêc
chủ chốt và gắn bó rất lâu năm với công ty, chiếm 5 %. Lực lượng này chủ yếu
là các cán bộ trong bộ máy quản lý, đứng đầu các phòng ban, như giám đốc và
các phó giám đốc.
5. Đặc điểm về nguyên vật liệu và nguồn cung ứng.
Trong mỗi giai đoạn yêu cầu số lượng và chất lượng của nguyên vật liệu
khác nhau.Trước khi đưa vào chế biến các nguyên vật liệu được kiểm tra bất kỳ
của phòng Kỹ thuật - KCS theo nguyên tắc đủ về số lượng và đảm bảo về chất
lượng.
Nguyên vật liệu: Để sản xuất ra được sản phẩm sứ vệ sinh thì nguyên vật
liệu chính thường là:
Feldspar, cao lanh, đất sét, thạch anh, BaCO
3
, thuỷ tinh lỏng, men, các chất
phụ gia khác như CMC, ZrSiO
4
, sô đa (Na
2
CO
3
), bột nhẹ...
Ngoài ra còn có các nguyên liệu khác như bi nghiền, khuôn, thạch cao.
mộc bị lỗi
6 Men Kg Trong nước 0,1010
Nguyên
vật liệu
chính
7 Thuỷ Tinh lỏng Kg Trong nước 0,0067
8 BaCO3 Kg Trong nước 0,0009
9 Bi nghiền Kg NT 0,0033
10 Thạch cao Kg NT 0,1300
Nguyên
vật liệu
phụ
11 Gas Kg NT 0,258
12 Dầu hoả Kg NT 0,777
13 Điện năng KW /h NT 0,761
Nhiên
liệu
Nguồn: Phòng kỹ thuật - KCS
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 4421
Chuyên đề tốt nghiệp
Việc xuất nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất căn cứ vào định mức tiêu
hao vật tư và kế hoạch sản xuất sản phẩm. Căn cứ vào đó phòng Kế hoạch và
Đầu tư còn quản lý việc cấp phát nhiên liệu, năng lượng phục vụ cho sản xuất
cũng theo định mức đã định.
Mặc dù đã tận dụng triệt để các nguồn nguyên liệu nội địa song một số chất
phụ gia khác công ty vẫn phải nhập từ Đài Loan, Nhật, Anh như chất tạo keo
CMC, chất tạo đục cho men ZrSiO
4
...
6.Đặc điểm về tài chính của công ty.
phí sử dụng vốn là thấp hơn so với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đây là
một lợi thế của công ty. Mặc khác, vốn tự có của công ty sẽ bổ sung giúp cho
công ty có lợi thế hơn nữa trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình,
đặc biệt trong trường hợp công ty chuyển sang cổ phần hoá, khi phát hành cổ
phiếu, trái phiếu.
Tuy nhiên nguồn vốn ngân sách nhà nước lớn sẽ làm công ty khó bố trí và
sắp xếp nhân lực, bộ máy quản lý trong mở rộng ngành nghề. Hơn nữa, đôi khi
nhà nước thường hay áp đặt phải tham gia một số các lĩnh vực khác.
Nguồn vốn vay chiếm tỷ lệ nhỏ, chứng tỏ công ty có khả năng thanh toán tốt,
các hệ số thanh toán thấp và chủ động về tài chính. Ngược lại, với tiềm năng của
công ty thì tỷ lệ 21,08 % là quá nhỏ, điều này cũng cho thấy khả năng quan hệ
tín dụng của công ty chưa tốt.
7. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Sứ Thanh Trì trong những
năm gần đây.
Bảng 6: kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong một vài năm.
STT chỉ tiêu ĐVT Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
1 KQHĐSXKD Tr. đ
Tổng gía trị sản xuất Tr. đ 112.565,975 117.258,035 120.724,520 160.346,250
2 Sản lượng sản xuất Sp 560.000 590.000 620.000 830.000
3 Tổng doanh thu Tr. đ 113.356,750 120.325,650 125.560,852 165.750,258
4 Thanh toán lãi vay Tr. đ 6.125,457 7.452,025 8.230,258 12.354,450
5 Lợi nhuận Tr. đ 10.345,546 12.456,520 14325,454 21.548,520
6 Nộp ngân sách Tr. đ 4.345,560 5.230,560 6.005,540 12.540,467
Thu nhập và lao
động
Tr. đ 2.460 2.765 2.879 2.950
Lao động Người 460 495 522 720
Quỹ tiền lương Tr. đ 11.250,525 12.256,820 13.870,250 20.805.500
Thu nhập bình quân Tr. đ 2,110 2,3185 2,450 2,754
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 4423
Nguyễn Xuân Tuyến Quản trị chất lượng - 4424
Chuyên đề tốt nghiệp
đổi không lớn qua các năm, chiếm khoảng 25 % tổng doanh thu của
doanh nghiệp.
Công ty Sứ Thanh Trì trong những năm gần đây được biết đến với nhãn
hiệu Viglacera, Monaco và đã dần đi vào tiềm thức của khách hàng. Có được kết
quả đó kết quả đó công ty đã có những định hướng chung cho mình: không chỉ
thuyết phục khách hàng bằng hệ thống giá phù hợp với mọi đoạn thị trường mà
còn phải làm hài lòng họ bằng chất lượng, mẫu mã, màu sắc và kiểu dáng, đảm
bảo bền đẹp. Tuy nhiên, giữa nhận thức và hành động đôi khi là một khoảng
cách rất lớn. Công ty đã cố gắng xoá bỏ khoảng cách này thông qua việc đạt
được tiêu chuẩn và công nhận hệ thống Quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9002 và đã duy trì, phát triển nó.
Với phương châm hoạt động: sự hài lòng của quý khách là mục đích của
công ty, Sứ Thanh Trì đã không ngừng tiếp thu và sáng tạo ra những sản
phẩm mới với những tính năng ưu việt luôn đáp ứng được mọi các thị
hiếu của khách hàng khó tính với thời gian nhanh nhất choc ho dù khách
hàng là ai, ở đâu thị trường trong nước hay ngoài nước.
Mặc dù nền kinh tế Việt Nam trong vài năm trở lại đây, vẫn đạt tốc độ tăng
trưởng khá cao nhưng do việc thực thi một số hiệp định về kinh tế, tham gia vào
khu vực thị trường mậu dịch tự do. đối với các doanh nghiệp, đây là một cơ hội
lớn những cũng là một thử thách rất khó khăn. Đối với các doanh nghiệp sản
xuất sứ vệ sinh khi mà các sản phẩm nhập khẩu vẫn chiếm tới 4/5 thị phần thì
đây thực sự là một thách thức rất lớn. Ngay trước khi Việt Nam tham gia AFTA,
sức mua của người tiêu dùng đã bắt đầu chững lại với lý do chờ đợi sự giảm giá.
Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất sứ vệ sinh trong thời gian này đều gặp khó
khăn trong quá trình tiêu thụ. Đứng trước tình trạng này, công ty Sứ Thanh Trì
đã có những biện pháp củ động hội nhập bằng cách tập trung vào chất lượng
sản phẩm, thay đổi mô hình cơ cấu trong tổ chức trong công ty từ trực tuyến
sang trực tuyến- chức năng, để nâng cao tình thần trách nhiệm của cán bộ công