lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, sản phẩm của công ty luôn phải đối mặt sự cạnh
tranh của các sản phẩm cùng loại và những biến động không ngừng trong môi trờng
kinh doanh. Để đạt đợc các mục tiêu trong môi trờng kinh doanh luôn biến động
này các doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực nh: nguồn
lực về vốn, về con ngời, không ngừng tổ chức cơ cấu lại bộ máy hoạt động... Thực
chất những việc này là doanh nghiệp thực hiện hiệu quả kinh doanh và nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh là thớc đo tổng hợp, phản ánh năng lực sản xuất
và trình độ kinh doanh của một doanh nghiệp, là điều kiện quyết định sự
thành bại của tất cả các doanh nghiệp nói chung và Công ty Giầy Thăng
Long nói riêng. Để khai thác triệt để các nguồn lực khan hiếm nhằm tạo ra
các sản phẩm hàng hoá thoả mãn nhu cầu của ngời tiêu dùng, các Công ty cần
phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiến hành đánh giá các kết quả đã thực hiện
và đa ra các giải pháp, biện pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả.
Vấn đề hiệu quả kinh doanh luôn đợc ban lãnh đạo Công ty giầy
Thăng Long quan tâm xem đây là thớc đo và công cụ thực hiện mục tiêu
kinh doanh tại Công ty. Với những kiến thực thu đợc trong quá trình học tập
và xuất phát từ thực tế của Công ty, nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề
nâng cao hiệu quả kinh doanh, trong thời gian thực tập ở Công ty Giầy Thăng
Long cùng với sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS. Phan Kim Chiến em
đã chọn đề tài: "Hiệu quả kinh doanh ở Công ty Giầy Thăng Long thực trạng
và giải pháp" làm chuyên đề thực tập.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 phần:
Phần I: Nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục tiêu hàng đầu của các
doanh nghiệp.
Phần II: Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Giầy
Thăng Long
Phần III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và
định hớng phát triển giai đoạn 2005 - 2010 của Công ty Giầy Thăng Long
1
quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Việc phân bổ và sử dụng các nguồn
lực sản xuất trên đờng giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có
hiệu quả cao. Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đa ra là cao nhất, là lý
tởng và không có mức hiệu quả cao hơn nữa.
- Hai tác giả Wohe và Doring lại đa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế.
Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng
đơn vị giá trị. Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau: "Mối
quan hệ tỷ lệ giữa sản lợng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và l ợng các
nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu ) đ ợc gọi là tính
hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí
kinh doanh phải chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực
tế phải chi ra đợc gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị" và "để xác định tính
hiệu quả về mặt giá trị ngời ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lợng tính bằng tiền
và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền". Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng
đơn vị của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất
tiêu hao vật t, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả hoạt động quản trị chi
phí.
- Theo các tác giả khác:
Có một số tác giả cho rằng hiệu quả kinh tế đợc xác định bởi quan hệ
giữa tỷ lệ tăng lên của hai đại lợng kết quả và chi phí. Các quan điểm này mới
chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần
tham gia vào quy trình kinh tế.
Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế đợc xác định bởi tỷ số
giữa kết quả nhận đợc và chi phí bỏ ra để có đợc kết quả đó. Điển hình cho
quan điểm này là tác giả Manfred Kuhu, theo ông: "Tính hiệu quả đợc xác định
bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh". Đây
là quan điểm đợc nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính
hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế.
3
Một khái niệm đợc nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nớc quan tâm chú ý
kết quả nó là cơ sở để tính ra hiệu quả kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp có thể là những đại lợng có khả năng đong, cân, đo đếm nh số
sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, thị phần . nh vậy
kết quả sản xuất kinh doanh thờng là mục tiêu của doanh nghiệp.
- Thứ hai: phải phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp: hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi dụng
các nguồn lực nhằm đạt đợc các mục tiêu về xã hội nhất định. Các mục tiêu xã
hội thờng là: giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động trong phạm vi toàn
xã hội phạm vi từng khu vực, nâng cao trình độ văn hóa, nâng cao mức sống,
đảm bảo vệ sinh môi trờng Còn hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh trình độ lợi
dụng các nguồn lực nhằm đạt đợc các mục tiêu cả về kinh tế xã hội trên phạm
vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng nh trên phạm vi từng vùng, từng khu vực
của nền kinh tế.
- Thứ ba: hiệu quả trớc mắt với hiệu quả lâu dài: các chỉ tiêu hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào mục tiêu của doanh nghiệp
do đó mà tính chất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở các giai đoạn khác
nhau. Xét về tính lâu dài thì các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ các hoạt
động sản xuất kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp là
lợi nhuận và các chỉ tiêu về doanh lợi. Xét về tính hiệu quả trớc mắt (hiện tại)
thì nó phụ thuộc vào các mục tiêu hiện tại mà Doanh nghiệp đang theo đuổi.
Trong thực tế để thực mục tiêu bao trùm lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hóa
lợi nhuận, có rất nhiều doanh nghiệp hiện tại không đạt đợc mục tiêu là lợi
nhuận mà lại thực hiện các mục tiêu nâng cao năng suất và chất lợng của sản
phẩm, nâng cao uy tín danh tiếng của doanh nghiệp, mở rộng thị trờng cả về
chiều rộng lẫn chiều sâu do đó mà các chỉ tiêu hiệu quả ở đây về lợi nhuận là
không cao nhng chỉ tiêu có liên quan đến các mục tiêu đã đề ra của doanh
nghiệp là cao thì chúng ta không thể kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động
không có hiệu quả, mà phải kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu
quả. Nh vậy các chỉ tiêu hiệu quả mà tính hiệu quả trớc mắt có thể là trái với
5
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị
doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh: Khi tiến hành bất kỳ một
hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và
sử dụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng có thể tạo ra kết quả phù
hợp mà doanh nghiệp đã đề ra. Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng
nh các mục tiêu khác, các nhà doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phơng pháp,
nhiều công cụ khác nhau. Hiệu quả kinh doanh là một trong những công cụ hữu
hiệu nhất là để cho nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình.
Thông qua việc tính toán hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt đợc ở mức
độ nào), mà cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hởng
đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đa ra đợc các
biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phơng diện giảm chi phí, tăng kết
quả nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Với t cách là một
công cụ quản trị kinh doanh, hiệu quả kinh doanh không chỉ đợc sử dụng để
kiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào
trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn đợc sử dụng để kiểm tra đánh giá trình
độ sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vi doanh nghiệp cũng nh ở từng bộ
phận cấu thành của doanh nghiệp. Do vậy xét trên phơng diện lý luận và thực
tiễn thì phạm trù hiệu quả kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng và không thể
thiếu đợc trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm đa ra các giải pháp tối
u nhất, lựa chọn đợc các phơng pháp hợp lý nhất để thực hiện các mục tiêu của
doanh nghiệp đã đề ra.
Ngoài ra, trong nhiều trờng hợp các nhà quản trị còn coi hiệu quả kinh tế
nh là các nhiệm vụ, các mục tiêu để thực hiện. Vì đối với các nhà quản trị khi
nói đến các hoạt động sản xuất kinh doanh thì họ đều quan tâm đến tính hiệu
quả của nó. Do vậy mà hiệu quả kinh doanh có vai trò là công cụ để thực hiện
nhiệm vụ quản trị kinh doanh đồng thời vừa là mục tiêu để quản trị kinh doanh.
3.2. Hiệu quả kinh tế xã hội
7
8
không phải các yếu tố chi phí thành phần đều đợc sử dụng có hiệu quả, tức là có
trờng hợp sử dụng yếu tố này nhng lại lãng phí yếu tố khác. Nói chung muốn
thu đợc hiệu quả kinh tế, hiệu quả do sử dụng các yếu tố thành phần nhất thiết
phải lớn hơn so với tổn thất do lãng phí các yếu tố khác gây ra.
3.4. Hiệu quả của từng yếu tố
- Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đợc thể hiện qua hiệu suất sử
dụng vốn, hiệu quả sử dụng vốn lu động và vốn cố định của doanh nghiệp.
+ Vốn lu động:
Cần có những biện pháp tích cực hơn để đẩy nhanh tốc độ quay của vốn
lu động, rút ngắn thời gian thu hồi vốn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp.
+ Hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp đợc thể hiện qua sức sản
xuất và mức sinh lợi của tài sản cố định. Hai chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả
sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp càng cao.
- Hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp
Đánh giá ở mức sinh lợi bình quân của lao động trong năm. Năng suất
lao động bình quân đầu ngời của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần chú trọng
đến việc sử dụng lao động, biểu hiện bằng số lao động giảm và sản lợng tăng
dẫn đến chi phí thấp về tiền lơng.
4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
4.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
a. Hiệu quả tổng hợp
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh sử dụng từng yếu tố tham gia vào quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp thì có thể sử dụng hệ thống các chỉ tiêu để
đánh giá.
- Tỷ suất lợi nhuận theo giá thành: Đó là tổng lợi nhuận so với tổng giá
thành sản phẩm hàng hóa tiêu thụ.
Điều này cho biết mỗi lao động sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu của
mỗi doanh nghiệp.
10
- Mức lợi nhuận bình quân mỗi lao động đợc tính bằng tổng lợi nhuận:
=
Thông qua chỉ tiêu này mà ta biết đợc tình hình sử dụng lao động, số lao
động hiện có của doanh nghiệp đã sử dụng hết cha , từ đó mà xác định các giải
pháp phù hợp để sử dụng có hiệu quả lao động.
=
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian lao động thực tế so với thời gian định
mức, nó cho biết tình hình sử dụng thời gian lao động trong doanh nghiệp
* Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định và vốn cố định
=
Chỉ tiêu này cho biết tình hình sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp.
=
=
=
=
* Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lu động
=
=
Vốn lu động luôn luôn vận động, bảo đảm cho quá trình tái sản xuất. Do
đó nó đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vón lu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu
về vốn đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
=
Chỉ tiêu này cho biết vốn lu động quay đợc bao nhiêu vòng trong kỳ kinh
doanh. Tốc độ của vòng quay càng tăng nhanh thì hiệu quả sử dụng vốn càng
tăng và ngợc lại.
=
Sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tế xã hội giữa các vùng lãnh
thổ trong một quốc gia đợc xem là một hiện tợng khá phổ biến ở hầu hết các
quốc gia, đặc biệt là những nớc đang phát triển nh nớc ta trong giai đoạn hiện
nay. Để từng bớc xóa bỏ sự cách biệt về mặt kinh tế - xã hội, góp phần tái phân
12
phối lợi tức xã hội giữa các vùng, đòi hỏi cần có những chính sách khuyến
khích đầu t phát triển vào các vùng kinh tế phát triển.
Theo quan điểm hiện nay của các nhà kinh tế, hiệu quả kinh tế xã hội còn
thể hiện qua các chỉ tiêu nh:
- Bảo vệ nguồn lợi môi trờng
- Hạn chế gây ô nhiễm môi trờng
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
II. nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục tiêu hàng đầu của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp
Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đợc
thể hiện trên 3 lĩnh vực sau:
Trong cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc, nền kinh tế càng phát
triển thì môi trờng cạnh tranh càng trở nên gay gắt và khốc liệt. Để tồn tại và
phát triển đợc đòi hỏi các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh và thắng thế
trong cạnh tranh, muốn nh thế doanh nghiệp phải nâng cao đợc hiệu quả. Do đó
nâng cao hiệu quả của kinh doanh là một điều tất yếu.
* Đối với doanh nghiệp
- Muốn tham gia cạnh tranh và thắng thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp
phải trả lời đợc các câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất nh thế nào? sản xuất cho
ai? Muốn trả lời đợc những câu hỏi này doanh nghiệp phải tiến hành hết sức
thận trọng, có sự tính toán kỹ lỡng và chắc chắn vì hầu hết các nguồn lực của
doanh nghiệp, của xã hội là có hạn, mà nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
ngày càng tăng, chất lợng sản phẩm hàng hóa dịch vụ ngày càng cao.
Nhân tố này tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng hợp lý và tiết kiệm
các yếu tố vật chất trong quá trình kinh doanh, giúp lãnh đạo doanh nghiệp đa
ra những quyết định chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp chính xác, kịp thời
tạo ra những động lực to lớn để khuyến khích sản xuất phát triển.
14
* Nhân tố về lực lợng lao động
Trong doanh nghiệp, lực lợng lao động tác động trực tiếp đến việc nâng
cao hiệu quả kinh doanh. Bằng lao động sáng tạo của con ngời có thể tạo ra
công nghệ mới, thiết bị máy móc mới, nguyên vật liệu mới có hiệu quả hơn
hoặc cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất hiệu quả kinh tế so với trớc. Trong
thực tế máy móc hiện đại đến đâu nếu không có con ngời sử dụng thì cũng
không thể phát huy đợc tác dụng. Ngợc lại nếu có máy móc thiết bị hiện đại mà
con ngời không có trình độ sử dụng, trình độ kỹ thuật và trình độ tổ chức quản
lý không những tăng đợc hiệu quả kinh doanh mà còn tốn kém chi phí bảo dỡng
sửa chữa vì những sai lầm, hỏng hóc do không biết sử dụng gây ra.
* Nhân tố thông tin
Thông tin đợc coi là đối tợng lao động của các nhà quản trị và nền kinh
tế. Để kinh doanh thành công đợc trong điều kiện cạnh tranh gay gắt ở cả trong
nớc và quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt đợc nhiều thông tin.
* Nhân tố về vận dụng đòn bẩy kinh tế
Nhân tố này cho phép doanh nghiệp khai thác tới tối đa tiềm năng về lao
động, tạo điều kiện cho mọi ngời, mọi khâu và các bộ phận trong doanh nghiệp
phát huy đợc đầy đủ quyền chủ động sáng tạo trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
3. Các biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh
3.1. Nghiên cứu khảo sát và nắm bắt nhu cầu thị trờng
Thị trờng là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi giữa ngời mua
và ngời bán, sản xuất hàng hóa phát triển một mức độ nào đó sẽ hình thành cơ
chế thị trờng, cơ chế thị trờng là một mô hình kinh tế xã hội lấy giá trị, giá cả và
lợi nhuận làm nền tảng cho việc điều chỉnh những ứng xử của các tổ chức và cá
trả lời đợc các câu hỏi sau:
- Những loại thị trờng nào có triển vọng nhất đối với hàng hóa - dịch vụ
của doanh nghiệp
16
- Giá cả, chi phí và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp với nhu cầu về
hàng hóa - dịch vụ của những loại thị trờng đó.
Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ xác định cho mình một chiến lợc phát
triển thị trờng tối u, xây dựng phơng án kinh doanh giúp cho doanh nghiệp luôn
chủ động trong kinh doanh, xử lý kịp thời các tình huống có thể xảy ra trong
quá trình kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp có thể hạn chế đến mức tối đa các
rủi ro.
3.2. Chuẩn bị tốt các điều kiện, yếu tố cần thiết cho quá trình kinh
doanh
Chuẩn bị tốt các điều kiện, yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh có ý
nghĩa quan trọng, nó là điều kiện để nâng cao hiệu quả kinh doanh góp phần
làm tăng khả năng hoàn thành và hoàn thành vợt mức kế hoạch và phơng án
kinh doanh cả về số lợng, chất lợng và tiến độ thực hiện.
Việc chuẩn bị đầy đủ các điều kiện và yếu tố cho quá trình kinh doanh
bao gồm:
* Nhân tố đầu vào nguyên vật liệu
Nội dung cơ bản nhất của quá trình sản xuất đó là quá trình lao động.
Quá trình lao động làm thay đổi hình dáng, kích thớc tính chất hóa lý của đối t-
ợng lao động để tạo ra sản phẩm công nghiệp với chất lợng càng cao thỏa mãn
ngày càng đầy đủ nhu cầu đa dạng của thị trờng. Nh vậy, nguyên vật liệu là một
trong ba yếu tố của quá trình sản xuất, trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản
phẩm. Mặt khác nhân tố đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất vật chất là
nguyên vật liệu. Do đó trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp đợc tiến
hành một cách liên tục, không bị gián đoạn hoặc không thể tiến hành đợc.
- Nguyên vật liệu phải đầy đủ vì thiếu nguyên vật liệu dẫn tới các quá
trình sản xuất sẽ bị gián đoạn hoặc không thể tiến hành đợc.
truyền đạt thông tin kinh tế xã hội phục vụ cho hoạt động kinh doanh và lu trữ
thông tin từ đó tạo ra các điều kiện phát triển cho doanh nghiệp.
* Nhân tố lao động
Lao động là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất, trong đó lao
động là yếu tố quan trọng. Muốn cho mọi hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao,
cần phải hình thành một cơ cấu lao động tối u trong doanh nghiệp. Cơ cấu lao
18
động tối u khi lực lợng lao động đảm bảo đủ số lợng ngành nghề, chất lợng, giới
tính và lứa tuổi, đồng thời đợc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
mối quan hệ công tác giữa các bộ phận và các cá nhân với nhau, bảo đảm mọi
ngời đều có việc làm,mọi khâu, mọi bộ phận đều có ngời phụ trách và sự ăn
khớp, đồng bộ trong từng đơn vị và trên phạm vi toàn doanh nghiệp. Cơ cấu lao
động tối u là cơ sở để đảm bảo cho quá trình sản xuất đợc tiến hành cân đối,
nhịp nhàng liên tục, là cơ sở để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
Mặt khác doanh nghiệp phải xây dựng cho mình các định mức lao động
để làm căn cứ xác định chất lợng sản phẩm, lợng lao động hao phí, không
những thế doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm sức lao động là biện
pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.3. Tổ chức quá trình kinh doanh theo phơng án kinh doanh đã đề ra
* Tăng sản lợng sản xuất và tiêu thụ
Trong cơ chế thị trờng để tồn tại đứng vững trong điều kiện cạnh tranh,
bản thân các doanh nghiệp ngoài việc tăng sản lợng hàng hóa sản xuất ra còn
phải tăng sản lợng tiêu thụ từ đó tăng lợi nhuận. Sản phẩm sản xuất ra phải tiêu
thụ đợc sao cho phù hợp với quy luật tái sản xuất mở rộng, tăng đợc sản lợng
hàng hóa sản xuất tức là doanh nghiệp đã tận dụng đợc các yếu tố lao động,
máy móc thiết bị, thời gian và sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm nguyên vật
liệu để từ đó hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm
trên thị trờng nh vậy sẽ tăng đợc sản lợng hàng hóa tiêu thụ
* Giảm chi phí
doanh thì sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động.
3.4. Tổ chức quá trình tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ
Việc tổ chức quá trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ sẽ làm cho hàng hóa
dịch vụ của doanh nghiệp lu thông, không bị ứ đọng, giúp cho vòng quay của
vốn lu động tăng nhanh, làm giảm chi phí tiêu thụ và do đó lợi nhuận thu đợc
cao dẫn tới tăng hiệu quả kinh doanh. Muốn vậy phải thực hiện các biện pháp
cụ thể để tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng tăng.
20
* Tổ chức kênh tiêu thụ
Doanh nghiệp có thể áp dụng tiêu thụ phù hợp với doanh nghiệp sao cho
có lợi nhất.
- Kênh trực tiếp
Hàng hóa từ doanh nghiệp sản xuất đợc bán thẳng đến ngời tiêu dùng.
Hình thức này đảm bảo mối quan hệ trực tiếp giữa ngời sản xuất và ngời tiêu
dùng, giúp doanh nghiệp có thể nắm bắt đợc nhu cầu của ngời tiêu dùng một
cách nhanh chóng nhất để đáp ứng nhu cầu đó.
- Kênh gián tiếp
Là hình thức trong đó sử dụng trung gian tùy theo số lợng trung gian mà
có thể có kênh tiêu thụ dài hay ngắn khác nhau. Qua việc tiêu thụ bằng trung
gian sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng đợc thị trờng, chi phối đợc thị trờng rộng
lớn, tăng khả năng cạnh tranh thông qua lợi thế của trung gian về vị trí đặt cửa
hàng, kinh nghiệm tiêu thụ.
* Tổ chức mạng lới phân phối, khuyến khích đại lý
Để thực hiện tốt kế hoạch tiêu thụ của mình, doanh nghiệp không ngừng
mở rộng mạng lới tiêu thụ sản phẩm. Với mạng lới phân phối rộng sẽ giúp cho
hàng hóa tới tay ngời tiêu dùng một cách nhanh nhất. Mặt khác doanh nghiệp
cũng phải có chế độ khuyến khích các đại lý tự tìm kiếm những khách hàng lớn
tại cơ sở của mình.
* Sử dụng các phơng pháp hỗ trợ tiêu thụ
Đây là biện pháp góp phần không nhỏ đến kết quả tiêu thụ sản phẩm
nhánh của công ty nhằm khuyến khích họ mua lợng hàng lớn và bán đợc nhiều
hàng, tích cực hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm.
- Chính sách giá cả theo thị trờng. Tại mỗi khu vực, vùng địa lý khác
nhau nên có những mức giá khác nhau sao cho phù hợp với cùng loại sản phẩm.
- Chính sách giá cạnh tranh: Doanh nghiệp áp dụng mức giá thấp khi
muốn xâm nhập thị trờng mới hay muốn cạnh tranh với đối thủ trên thị trờng,
điều này giúp sản phẩm tiêu thụ nhanh hơn, khách hàng dễ chấp nhận hơn sản
phẩm của doanh nghiệp.
22
3.5. Thực hiện đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhanh chóng nhu cầu
của thị trờng
Để thực hiện hệ thống các mục tiêu kinh tế xã hội đã định, trong quá
trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải xác định đợc cơ cấu sản xuất
sản phẩm chính. Đó là cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trờng, trên
cơ sở khả năng của doanh nghiệp cho phép tối đa hóa lợi nhuận.
Trong điều kiện nhu cầu thị trờng rất đa dạng và thờng xuyên biến động,
tiến bộ khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, cơ cấu sản phẩm của doanh
nghiệp phải đợc coi là cơ cấu động, nghĩa là phải liên tục hoàn thiện và đổi mới.
Đó là một trong những điều kiện bảo đảm doanh nghiệp thích ứng với môi trờng
kinh doanh để tồn tại và phát triển. Đổi mới cơ cấu sản phẩm đợc thực hiện theo
nhiều hớng khác nhau:
- Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi
thời, những sản phẩm có sức cạnh tranh kém và những sản phẩm không có khả
năng tạo ra lợi nhuận
- Giữ nguyên chủng loại sản phẩm đang sản xuất nhng cải tiến, hoàn
thiện về hình thức, hoàn thiện về nội dung, tạo ra nhiều kiểu dáng.
- Bổ sung thêm vào danh mục sản phẩm những sản phẩm mới phù hợp
với nhu cầu thị trờng và xu hớng phát triển của khoa học công nghệ.
- Chuyển hóa vị trí các sản phẩm trong cơ cấu sản phẩm của doanh
nghiệp, bằng cách thay đổi định lợng sản xuất của mỗi loại.
công trình phục vụ sản xuất kinh doanh. Nhưng đến năm 1992, tình hình kinh
tế chính trị ở các nước Liên Xô và Đông Âu có nhiều biến động, các đơn đặt
hµng với các nước này bị cắt đứt. Mặt khác, quá trình sản xuất kinh doanh của
công ty lại mang tính thời vụ, thời gian ngừng sản xuất kéo dài ( khoảng 3
tháng : tháng 5, tháng 6 và tháng 7 ) đã gây ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Trước tình hình đó, lãnh đạo công ty
cùng toàn thể công nhân viên đã cùng nhau tìm hướng đi mới cho công ty.
Kết quả là công ty đã tìm được thị trường mới, cải tiến sản xuất, chuyển sang
giầy vải xuất khẩu.Công ty vừa đầu tư xây dựng, vừa đào tạo lại đội ngũ công
nhân viên để chuẩn bị sản xuất cho giại đoạn sau
Từ sau năm 1993 tới nay
Đây là giai đoạn công ty thực sự chuyển hẳn từ sản xuất kinh doanh theo
cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Công ty đã chủ động tìm kiếm thị
trường để ký hợp đồng trực tiếp với các công ty nước ngoài. Hàng năm, công
ty luôn tổ chức chế thử và cải tiến mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của khách
hµng, chú trọng việc nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm.
Công ty đã tạo ra uy tín về chất lượng mặt hµng và khả năng đáp ứng nhu cầu
của khách hµng. Các hoạt động, các giá trị tạo ra của công ty tăng không
ngừng
Kể từ năm 1996 công ty đã bắt đầu làm ăn có lãi với những bạn hµng
lớn, tên tuổi sản phẩm của công ty ngày càng có uy tín lớn trong nước và trên
thị trường quốc tế
Ngoài việc phát triển sản xuất, công ty cßn nhận Nhà máy giầy Chí Linh
(đóng trên địa bàn Chí Linh-Hải Dương ) làm đơn vị thành viên vào năm
1999 và đến năm 2000, với tinh thần tương thân tương ái, công ty đã nhận
thêm xí nghiệp giầy Thái Bình (đóng trên địa bàn thÞ xã Thái Bình ) làm đơn
vị thành viên. Vì 2 đơn vị này đều không có khả năng duy trì và phát triển sản
xuất, công nhân không có công ăn việc làm
Trong suốt quá trình từ khi thành lập đến nay, công ty luôn hoàn thành
kế hoạch đặt ra, hoàn thành suất sắc nghĩa vụ đối với nhà nước. Công ty đã