Phân tích bài thơ "Khóc Dương Khuê - Pdf 11

Phân tích bài thơ
"Khóc Dương Khuê"
Tác giả
Nguyễn Khuyến (1835 –
1909), người Yên Đổ,
Bình Lục, Hà Nam. Nhà
nghèo, rất hiếu thảo, học
giỏi và có chí lớn. Đỗ
đầu ba kỳ thi, được
người đời ái mộ gọi là
“Tam nguyên Yên Đổ”.
Làm quan dưới triều
Nguyễn. Yêu nước
nhưng bất lực trước thời
cuộc, cáo quan về quê,
không cam tâm làm tôi
tớ - tay sai cho thực dân
Pháp.
Tác phẩm: Còn để lại
trên 800 bài thơ nôm và
thơ chữ Hán, vài chục
câu đối nôm. Thơ
Nguyễn Khuyến bình dị
mà điêu luyện, mộc mạc
mà thâm trầm, hóm hỉnh.
Ông là nhà thơ của làng
quê. Một hồn thơ thanh
cao, chứa chan nghĩa
tình đối với quê hương,
gia đình, bằng hữu.
Những bài thơ thu,

kỷ niệm đẹp của một
tình bạn đẹp, càng cảm
thấy cô đơn và đau đớn
hơn bao giờ hết.
Phân tích
1. Bạn thân qua đời đột
ngột. Được tin đau đớn
bàng hoàng:
“Bác Dương thôi đã thôi
rồi
Nước mây man mác
ngậm ngùi lòng ta”
Bốn tiếng “thôi đã thôi
rồi” thốt lên như bất ngờ
đánh rơi mất một cái gì
vô cùng thiêng liêng.
Nỗi đau xót ngậm ngùi
thấm sâu từ lòng ta, mà
tỏa rộng khắp “nước
mây man mác” bao la.
Ngôn ngữ bình dị mà
tiếng khóc lâm ly thấm
thía. Thật vô cùng điêu
luyện.
2. Nhớ từ thuở…
Giờ đã âm dương đôi
đường cách trở, nhưng
những kỷ niệm đẹp ngày
nào vẫn nhớ mãi không
nguôi. Nhớ kỷ niện xưa

Biết bao đông bích điển
phần trước sau”
- Cùng chung hoạn nạn.
Cùng chung tuổi già. Ba
chữ “thôi” như một tiếng
thở dài ngao ngán:
“Bác già tôi cũng già rồi
Biết thôi thôi thế thì thôi
mới là!”
- Kỷ niệm cuối cùng đôi
bạn già gặp nhau. Nhiều
mừng vui bịn rịn. Phảng
phất lo âu. Xúc động bồi
hồi. Bạn đã mất rồi mà
nhà thơ tưởng như bạn
còn hiển hiện:
“Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh
thần chưa can”
3. Chợt nghe tôi bỗng
chân tay rụng rời…
- Bạn đã mất rồi. Tin
buồn đến quá đột ngột.
Đau đớn cực độ như
chết đi nửa con người.
Không thể nào tin được
“sự việc” đã xảy ra. Vừa
bàng hoàng ngạc nhiên
vừa tái tê đau đớn! Nhà
thơ như tự hỏi mình:

láy: “hững hờ”, “ngẩn
ngơ” – cho thấy nghệ
thuật sử dụng ngôn từ
cực kỳ điêu luyện, thơ
liền mạch – của Tam
nguyên Yên Đồ:
“Rượu ngon không có
bạn hiền,
Không mua không phải
không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo
không viết,
Viết đưa ai ai biết mà
đưa.
Giường kia treo những
hững hờ,
Đàn kia gảy cũng ngẩn
ngơ tiếng đàn”
- Nỗi đau đớn, tiếc
thương bạn không thể
nào kể xiết. Nhà thơ như
“lặng” đi. Tuổi già vốn ít
lệ. Chỉ biết khóc bạn
trong lòng:
“Tuổi già hạt lệ như
sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng
chứa chan”
Câu thơ chữ Hán diễn tả
ý thơ này, nỗi đau như

xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ
thơ gió hắt hiu.
Nước biếc
trông như từng khói phủ,
Song thưa
để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm
trước giậu hoa năm
ngoái,
Một tiếng
trên không ngỗng nước
nào.
Nhân hững
cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại
thẹn với ông Đào.
Cảm hứng chủ đạo
Thu vịnh có nghĩa là
vịnh mùa thu, cũng có
thể hiểu mùa thu làm thơ
ngâm vịnh. Bài thơ nói
lên những rung động của
tâm hồn. Nguyễn
Khuyến, trước cảnh đẹp
mùa thu; ngập ngừng
bày tỏ một nỗi niềm
thầm kín trước thời
cuộc.
Phân tích

tình, gợi tả tâm hồn rộng
mở và thanh cao của thi
nhân. Nguyễn Khuyến
thưởng trăng nào có
khác gì Nguyễn Trãi 600
năm về trước: “Hé cửa
đêm chờ hương quế lọt”
(Hương quế: trăng).
Phần thực tả trăng nước
mùa thu mang vẻ đẹp êm
đềm, thơ mộng. Nhà thơ
như đang chan hòa, đang
trang trải lòng mình với
thiên nhiên.
3. Luận
Lấy hoa để nhắc lại hoài
niệm; lấy tiếng ngỗng
không chỉ mượn động để
tả tĩnh mà còn để gợi tả
nỗi niềm cô đơn của
mình. “Hoa năm ngoái”
như một chứng nhân
buồn. Có khác gì Đỗ
Phủ xưa: “Khóm cúc
tuôn rơi dòng lệ cũ”?
“Ngỗng nước nào”, một
câu hỏi nhiều bâng
khuâng. Quê hương
mình, đất nước mình…
nhưng hồn quê nay đã

khẳng định lương tâm
một nhà nho quyết giữ
vững khí tiết: “Rằng
quan nhà Nguyễn cáo về
đã lâu” (Di chúc).
Kết luận
Có yêu mùa thu nhiều
lắm mới tả, mới vịnh
mùa thu hay như vậy.
Một nét thu là một nét vẽ
thoáng và nhẹ, thanh và
trong, thực và mộng.
Bầu trời và mặt nước,
ngọn tre và làn gió thu,
bóng trăng và màn
sương khói, chùm hoa và
tiếng ngỗng trời… chứa
đựng cả một hồn thu
đồng quê xa xưa. Trong
cái hồn thu ấy thoáng
hiện tâm tình, tâm hồn
thi nhân: thanh cao, giàu
khí tiết, lặng lẽ và cô
đơn. Cảnh thu, tình thu
đẹp mà thoáng buồn, đầy
chất thơ. “Thu vịnh” là
một bài thơ kiệt tác.
Thu điếu
Nguyễn Khuyến
Ao thu lạnh

chỉ có thể được Nguyễn
Khuyến viết vào thời
gian sau khi ông đã từ
quan về sống ở quê nhà
(1884).
Phân tích
1. Đề
Mở ra một không gian
nghệ thuật, một cảnh sắc
mùa thu đồng quê. Chiếc
ao thu “nước trong veo”
có thể nhìn được rong
rêu tận đáy, tỏa ra khí
thu “lạnh lẽo” như bao
trùm không gian. Không
còn cái se lạnh đầu thu
nữa mà là đã thu phân,
thu mạt rồi nên mới
“lạnh lẽo” như vậy.
Trên mặt ao thu đã có
“một chiếc thuyền câu
bé tẻo teo” tự bao giờ.
“Một chiếc” gợi tả sự cô
đơn của thuyền câu. “Bé
tẻo teo” nghĩa là rất bé
nhỏ; âm điệu của vần
thơ cũng gợi ra sự tun
hút của cảnh vật (trong
veo – bé tẻo teo) – Đó là
một nét thu đẹp và êm

Bức tranh thu được mở
rộng dần ra. Bầu trời thu
“xanh ngắt” thăm thẳm,
bao la. Áng mây, tầng
mây (trắng hay hồng?)
lơ lửng nhè nhẹ trôi.
Thoáng đãng, êm đềm,
tĩnh lặng và nhẹ nhàng.
Không một bóng người
lại qua trên con đường
làng đi về các ngõ xóm:
“Ngõ trúc quanh co
khách vắng teo”. “Vắng
teo” nghĩa là vô cùng
vắng lặng không một
tiếng động nhỏ nào,
cũng gợi tả sự cô đơn,
trống vắng. “Ngõ trúc”
trong thơ Tam nguyên
Yên Đổ lúc nào cũng gợi
tả một tình quê nhiều
bâng khuâng, man mác:
“Dặm thế, ngõ đâu từng
trúc ấy
Thuyền ai khách đợi bến
dâu đây?”
(Nhớ núi Đọi)
“Ngõ trúc” và “tầng
mây” cũng là một nét
thu đẹp và thân thuộc

với “Một tiếng trên
không ngỗng nước nào”,
như đưa hồn ta về với
mùa thu quê hương.
Người câu cá đang sống
trong một tâm trạng cô
đơn và lặng lẽ buồn.
Một cuộc đời thanh
bạch, một tâm hồn thanh
cao đáng trọng.
Kết luận
Xuân Diệu đã hết lời ca
ngợi cái điệu xanh trong
Thu điếu. Có xanh ao,
xanh sóng, xanh trời,
xanh tre, xanh bèo… và
chỉ có một màu vàng của
chiếc lá thu “đưa vèo”.
Cảnh đẹp êm đềm, tĩnh
lặng mà man mác buồn.
Một tâm thế nhàn và
thanh cao gắn bó với
mùa thu quê hương, với
tình yêu tha thiết. Mỗi
nét thu là một sắc thu
tiếng thu gợi tả cái hồn
thu đồng quê thân thiết.
Vần thơ: “veo - teo - vèo
- teo – bèo”, phép đối
tạo nên sự hài hoà cân

thanh cao của các tao
nhân mặc khách xưa
nay. Bài thơ “Nâng
chén, hỏi trăng” của Lý
Bạch được nhiều người
yêu thích:
“… Người nay chẳng
thấy trăng thời trước,
Người trước, trăng nay
soi đã từng
Người trước, người nay
như nước chảy
Cùng xem trăng sáng
đều thế đấy.
Chỉ ước vui ca thưởng
chén quỳnh.
Be vàng, trăng sáng vào
rọi mãi”
(Tương Như dịch)
Tam nguyên Yên Đổ
cũng có nhiều câu thơ
rất đậm đà ý vị nói về
rượu
- “Khi vui chén rượu say
không biết
Ngửa mặt lờ mờ ngọn
núi xa.”
(Cáo quan về ở nhà)
- “Em cũng chẳng no mà
chẳng đói

Khi buồn ngâm láo một
câu thơ” (Đại lão).
Sáu câu thơ đầu thì 5 câu
đều có màu sắc, thể hiện
một cái nhìn đêm thu lúc
ngồi uống rượu một
mình. Có màu đen thẫm
mịt mùng của đêm sâu
“ngõ tối”. Có ánh sáng
“lập lòe” của bầy đom
đóm. Có sắc trắng mờ
của “màu khói nhạt” nhẹ
bay “phất phơ” trên lưng
giậu cúc tần quanh năm
gian nhà cỏ bình dị. Có
màu vàng của “bóng
trăng loe” tan ra “lóng
lánh” trên làn ao “gợn
tí” trong veo. Có da trời
màu “xanh ngắt” rất đẹp.
Và sắc “đỏ hoe” của đôi
mắt ông lão, của thi nhân
đang uống rượu âm
thầm.
Cảnh vật có đường nét
cao, thấp, xa, gần, mỏng
và nhẹ. Độ “thấp le te”
của ngôi nhà cỏ 5 gian.
Độ “sâu” của đêm
khuya và “ngõ tối” nơi

nửa đầu thế kỷ 19 chỉ
“uống rượu tiêu sầu”.
Còn Nguyễn Khuyến,
“đêm thu nay” uống
rượu cho vợi đi nỗi buồn
thế sự “rằng quan nhà
Nguyễn cáo về đã lâu”.
Uống rượu để thao thức,
thao thức nên uống rượu
để quên đi nỗi đau cuộc
đời: “Có phải tiếc xuân
mà đứng gọi - Hay là
nhớ nước vẫn nằm mơ”
(Cuốc kêu cảm hứng).
Vợ chết, con mất, bạn
chí thân qua đời, tuổi
già, yếu đau, Nguyễn
Khuyến mược “năm ba
chén” rượu để vợi đi ít
nhiều cô đơn:
“Đời loạn đi về như hạc
độc,
Tuổi già hình bóng tựa
mây côi”
(Gửi bạn)
Hình như chén rượu của
nhà thơ đã tràn đầy nước
mắt? Hai câu kết ý tại
ngôn ngoại. Thấm một
nỗi buồn mênh mông.

(Tự thán - 10)
Sau khi Nguyễn Khuyến
mất gần nửa thế kỷ, nhà
thơ Hồ Chí Minh cũng
có câu thơ nói về rượu:
“Du kích quy lai tửu vị
tàn” - Thu dạ, 1948.
Đó là những chén rượu
một thời, cũng là những
chén rượu một đời. Chén
rượu của các thi nhân -
chén rượu thanh cao và
sang trọng.
Thương vợ
Tú Xương
Quanh năm buôn bán ở
mom sông.
Nuôi đủ năm con với
một chồng.
Lặn lội thân cò khi
quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò
đông.
Một duyên hai nợ âu
đành phận
Năm nắng mười mưa
dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở
bạc.
Có chồng hờ hững cũng

Bài thơ ca ngợi những
phẩm chất tốt đẹp của
người vợ, của người phụ
nữ đảm đang chịu
thương chịu khó vì
chồng con.
Hình ảnh bà Tú, người
vợ hiền thảo
- Câu 1, 2 giới thiệu bà
Tú là một người đàn bà
giỏi buôn bán, tần tảo
“quanh năm”, buôn bán
kiếm sống ở “mom
sông”, cảnh đầu chợ, bến
đò, buôn thúng bán mẹt.
Chẳng có cửa hàng cửa
hiệu. Vốn liếng chẳng có
là bao. Thế mà vẫn
“Nuôi đủ năm con với
một chồng?”. Chồng đậu
tú tài, chẳng là quan
cũng chẳng là cùng đinh
nên phải “ăn lương vợ”.
Một gia cảnh “Vợ quen
dạ để cách năm đôi”.
Các số từ: “năm” (con),
“một” (chồng) quả là
đông đúc. Bà Tú vẫn cứ
“nuôi đủ”, nghĩa là ông
Tú vẫn có “giày giôn

“dám quản công” như
một tiếng thở dài. Có
đức hy sinh. Có sự cam
chịu số phận. Có cả tấm
lòng chịu đựng, lo toan
vì nghĩa vụ người vợ,
người mẹ trong gia đình.
Tú Xương có tài dùng số
từ tăng cấp (1-2-5-10) để
nói lên đức hy sinh thầm
lặng cao quý của bà Tú:
“Một duyên hai nợ/âu
đành phận,
Năm nắng mười
mưa/dám quản công”.
Tóm lại, bà Tú là hiện
thân của cuộc đời vất vả
lận đận, là hội tụ của bao
đức tính tốt đẹp: tần tảo,
gánh vác, đảm đang,
nhẫn nại,… tất cả lo toan
cho hạnh phúc chồng
con. Nhà thơ bộc lộ lòng
cảm ơn, nể trọng.
Nỗi niềm nhà thơ
- Câu 7 là một tiếng
chửi, đúng là cách nói
của Tú Xương vừa cay
đắng vừa phẫn nộ: “Cha
mẹ thói đời ăn ở bạc”.

thành ngữ và tiếng chửi.
Chất thơ mộc mạc, bình
dị mà trữ tình đằm thắm.
Trong khuôn phép một
bài thơ thất ngôn bát cú
Đường luật, từ thanh
điệu, niêm đến phép đôi
được thể hiện một cách
chuẩn mực, tự nhiên,
thanh thoát. Tác giả vừa
tự trách mình vừa biểu
lộ tình thương vợ, biết
ơn vợ. Bà Tú là hình ảnh
đẹp đẽ của người phụ nữ
Việt Nam trong một gia
đình đông con, nhiều
khó khăn về kinh tế. Vì
thế nhiều người cho rằng
câu thơ “Nuôi đủ năm
con với một chồng” là
câu thơ hay nhất trong
bài “Thương vợ”.
Hương Sơn phong
cảnh ca
Chu Mạnh
Trinh
1- Bầu trời
cảnh bụt
Thú Hương
Sơn ao ước bấy lâu nay.

hạt niệm nam mô Phật
Cửa từ bi
công đức biết là bao!
Càng trông
phong cảnh càng yêu.
Xuất xứ, bố cục, chủ đề
1. Chu Mạnh Trinh
(1862 - 1905) hiệu là
Trúc Vân, quê ở tỉnh
Hưng Yên. Đậu tiến sĩ,
nổi tiếng tài hoa. Hội
họa, kiến trúc, âm nhạc
đều tài giỏi. Là nhà thơ,
nổi tiếng với những bài
vịnh Kiều - Từng vẽ
kiểu trùng tu chùa Thiên
Trù ở Hương Tích. Bài
thơ “Hương Sơn phong
cảnh ca” là bài thơ hay
nhất viết về Hương Sơn,
nơi có động Hương Tích
- Nam thiên đệ nhất
động.
2. Bố cục: bài hát nói
dôi 2 khổ
- Khổ đầu (1): giới thiệu
khái quát cảnh Hương
Sơn.
- Khổ giữa (2): cảnh
Rừng Mai, Khe Yến…

Yến: cá nghe kinh. Hình
ảnh ẩn dụ, với đường
nét, âm thanh gợi cảm
mùi Thiền. Cặp câu đối
nhau rất tài hoa:
“Thỏ thẻ Rừng Mai,
chim cúng trái,
Lửng lơ Khe Yến cá
nghe kinh”
Chuông chùa xa “thoảng
bên tai một tiếng chày
kình” như rũ sạch bụi
trần, làm tiêu tan cơn ác
mộng của du khách -
khách tang hải. Vần thơ:
tiếng “kình” với “giật
mình”, âm điệu du
dương, huyền diệu.
3. Hai khổ dôi
+ Bốn cảnh đẹp điển
hình. Chữ “này” - từ để
trỏ gần, nhịp 4 cân xứng
hài hòa. Du khách ngắm
nhìn không chán “cảnh
Bụt”:
“Này suối Giải Oan /
này chùa Cửa Võng
Này am Phật Tích / này
động Tuyết Quynh.”
+ Lấy gấm dệt để so

như gấm dệt; thang
mây), từ láy tượng
thanh, tượng hình (long
lanh, thăm thẳm, gập
ghềnh). Vần thơ trầm
bổng, du dương. Thể
hiện lòng yêu mến, tự
hào đối với “Nam thiên
đệ nhất động”.
4. Khổ xếp (ba câu
cuối):
Cảm xúc của du khách:
Xúc động thành kích
tụng niệm. Ngợi ca và
biết ơn Phật tổ: “Cửa từ
bi công đức biết là
bao!”. Đi xa dần, nhìn
lại, lưu luyến đầy say
mê: “Càng trông phong
cảnh càng yêu”. Cảm
hứng thiên nhiên chan
hòa với lòng tín ngưỡng
Phật giáo. Chu Mạnh
Trinh đã nói lên thật hay
và hồn nhiên tình cảm ấy
của du khách khi đi lễ
hội Chùa Hương.
Kết luận
Ngòi bút tài hoa. Miêu tả
cảnh sắc Hương Sơn rất

Tác phẩm kịch gồm có:
Những tên cướp (1780),
Âm mưu và tình yêu
(1784), Người thiếu nữ
ở Orlêăng (1801),
Vinhem Ten (1804),…
Sile đã xây dựng thành
công những vở kịch có
xung đột dữ dội, những
nhân vật, tính cách điển
hình thể hiện mãnh liệt
khát vọng tự do và tinh
thần bất khuất chống
cường quyền bạo lực.
Tóm tắt vở kịch “Âm
mưu và tình yêu”
Vở kịch có 5 hồi bằng
văn xuôi.
Luizơ là con gái nhạc
công Mile yêu thiếu tá
Fecđinăng là con trai Tể
tướng Fôn Vante. Phu
nhân Minfo là tình nhân
của Công tước nay đã bị
Công tước chán bỏ. Tể
tướng bắt ép thiếu tá
phải kết duyên cùng phu
nhân Minfo để lấy lòng
Công tước. Fecđinăng
gặp Minfo nói cho phu

đình.
Hồi hai: Ngang trái
1. Xung đột diễn ra dữ
dội tại nhà nhạc công
Mile
Luizơ bị Tể tướng sỉ
nhục đã ngất đi.
Fecđinăng đỡ lấy người
yêu rồi kêu lên hoảng
hốt: “Cứu nàng với,
nàng sợ hãi ngất đi rồi!”.
Trong lúc đó, nhạc công
Mile nắm lấy gậy, căm
giận nhìn Tể tướng, bà
Mile vô cùng sợ hãi, quỳ
sụp xuống chân Tể
tướng. Tể tướng ra lệnh
bắt giam Luizơ: “Bắt lấy
nó, dù nó ngất hay tỉnh.
Khi nào vòng sắt gông
vào cổ nó rồi, người ta
sẽ dùng đá ném cho nó
tỉnh lại”. Bà Mile cất
tiếng kêu van, trái lại,
ông nhạc công Mile thì
giận dữ khinh bỉ gọi Tể
tướng và các nhân viên
pháp đình là “lũ vô lại”.
2. Cuộc đấu khẩu dữ
dội giữa hai cha con -

trào.
- Thiếu tá mạt sát Tể
tướng:… “Thượng đế đã
lầm, đã lẫn chọn tên đao
phủ đê hèn lên làm Tể
tướng mạt hạng”. Không
chỉ là con lên án cha mà
đó là tiếng nói nhân
danh công lý và nhân
dân lên án bạo quyền,
lên án một xã hội -
phong kiến cát cứ - đã
lỗi thời.
- Fecđinăng dọa: “Nếu
nàng lên giá nhục hình,
nhưng là cùng với Thiếu
tá con trai Tể tướng…” -
Một sự ngập ngừng đầy
tính kịch. Và Tể tướng
châm biếm: “Tức thì
cuộc trừng bày sẽ càng
thú vị!”. Kiên quyết ra
lệnh bắt Luizơ: “Lôi nó
đi!”.
- Lại van xin! Tất cả vì
tình yêu mà Fecđinăng
vẫn chưa tìm được, chưa
lựa chọn được cách ứng
xử. Một mặt chàng quyết
dùng thanh kiếm sĩ quan

Luizơ đã trở thành vợ,
Thiếu tá khẳng định
quyết tâm bảo vệ người
yêu của mình. Tể tướng
vẫn thách thức. Xung
đột kịch càng trở nên
quyết liệt: “Đâm đi, nếu
mũi kiếm của mày còn
đủ nhọn!”. Đó là sự
thách thức của cường
quyền! Tể tướng muốn
ép con trai mình kết
duyên cùng phu nhân
Minfo. Trở lực lớn nhất
là tình yêu của Luizơ.
Phải bắt nàng để triệt
phá, để thực hiện “âm
mưu” và để tấn công bề
trên, đó là Công tước!
Cái ác đi kèm cái hèn hạ,
sự đê tiện và sỉ nhục, đó
là nhân cách của Tể
tướng, và buồn thay, đó
còn là một người cha -
một người cha đã bán
mình cho quỷ dữ.
4. “Bước mở nút” -
xung đột được đẩy lên
đến đỉnh điểm rồi chùng
lại, mâu thuẫn được giải

Nhạc công Mile xuất
thân bình dân và
Fecđinăng xuất thân
quyền quý đã dũng cảm
và ngoan cường chống
bạo quyền vì khát vọng
tự do và hạnh phúc. Hồi
hai đầy kịch tính. Có lúc
ta xúc động về lưỡi kiếm
của Fecđinăng sẽ vang
lên, hoặc là đâm chết
người yêu và tự sát, hoặc
là đâm vào Tể tướng. Và
thật thú vị, bạo quyền đã
bị đánh gục chỉ bằnh
một câu nói mạnh như
sấm sét. Tình yêu làm
nên sức mạnh phi
thường.
Xung đột dữ dội. Chỉ
một hồi kịch ngắn, ta
vần tìm ra năm bước như
một vở kịch: giao đãi,
phát triển, cao trào, đột
biến và mở nút. Và đó là
nét đặc sắc của kịch Sile
và kịch cổ điển Đức
trong thế kỷ 18.
Đoạn văn “Đám tang
lão Gôriô”

nhờ buôn bán lúa mì mà
giàu có. Nhưng hai “ái
nữ” của lão đã bòn rút
đến đồng vàng cuối
cùng. Cuối đời lão sống
cô đơn, nghèo khổ trong
cái quán trọ tồi tàn của
mụ Vôke. Lão chết năm
69 tuổi. Không một
người thân thích. Người
ta đã tháo đinh quan tài,
đặt lên ngực lão “cái
hình ảnh” của hai cô
con gái yêu thương của
lão khi chúng nó “còn bé
bỏng, đồng trinh và
trong trắng…” - Một chi
tiết hiện thực vô cùng
chua chát nói lên sự vô
tình, bạc bẽo của hai đứa
con gái lấy chồng giàu
sang.
2. Chỉ có Raxtinhăc và
Crixtôphơ (hai người
cùng ở chung nơi quán
trọ) cùng với hai gã đô
tuỳ đưa lão đến ngôi nhà
thờ Thánh - Êchiên-đuy-
Mông. Xác chết của kẻ
nghèo khó được đặt

hiệu nhưng không có
người ngồi, một của bá
tước Đơ Rextô, và một
của nam tước Đơ
Nuyxinghen theo sau
chiếc xe tang đến nghĩa
địa! Dù là con gái,
nhưng nay đã trở thành
mệnh phụ rồi, không thể
đi đám ma một kẻ nghèo
khó, hèn mọn! Một nét
vẽ sâu sắc lên án tình đời
bạc bẽo!
4. Cảnh hạ huyện vội vội
vàng vàng. Bài kinh
ngắn cầu cho kẻ xấu số
do chàng sinh viên trả
tiền (như một sự bố thí).
Người nhà hai cô con gái
và đám người nhà đạo
biến ngay! Hai dã đào
huyệt mới hất được vài
xẻng đất xuống che lấp
chiếc áo quan thì ngẩng
đầu lên đòi tiền đãi
công! “Ơ gien móc túi
thấy không còn đồng
nào, chàng buộc phải
vay Crixtôphơ 20 xu”.
Cái món nợ này lại ghi

một đám tang của kẻ
nghèo hèn trong cái xã
hội kim tiền, tình đời
đen bạc. Chúng ta hãy
đọc lên vần thơ này để ai
điếu lão Gôriô bất hạnh:
“… Ai chết
đó? Trục xoay và bánh
đẩy,
Xe tang đi
về tận thế giới nào?
Chiều đông
tàn, lạnh xuống tự trời
cao,
Không lửa
ấm, chắc hồn buồn lắm
đó…”
(“Nhạc sầu”
- Huy Cận)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status