luận văn một số phương pháp nâng cao khả năng nói của sinh viên năm nhất khoa tiếng nhật - Pdf 11


1TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….


Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG NÓI CỦA
SINH VIÊN NĂM NHẤT KHOA TIẾNG NHẬT

2
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6

1.3.3 Đánh giá như thế nào? 27
2. Hùng biện (speech) 27

3

2.1 Những đặc trưng cơ bản của hoạt động hùng biện. 27
2.2. Thế nào là một bài hùng biện hay? 29
2.3. Các bước chuẩn bị cho một bài hùng biện: 30
2.4 Tổ chức hoạt động hùng biện trong giờ học 31
2.5 Phương pháp đánh giá 32
2.6 Tiến trình tổ chức hoạt động hùng biện trong giờ học 33
2. Giới thiệu từ vựng, mẫu câu… liên quan đến bài hùng biện 33
3. Viết phác thảo nội dung hùng biện, tập nói nội dung hùng biện 34
4. Phát biểu trước cả lớp 34
5. Hỏi và trả lời liên quan đến nội dung hùng biện 34
6. Phản hồi của giáo viên (về cấu trúc, nội dung, lỗi diễn đạt…) 34
3. Thảo luận (Discussion) 34
3.1 Đặc điểm của hoạt động thảo luận 34
3.2 Một số cách diễn đạt hay dùng trong hoạt động thảo luận 34
3.3 Một số điều cần lưu ý khi tiến hành hoạt động thảo luận trong giờ học
36
4. Luyện tập phân vai (Roleplay) 36
4.1 Đặc điểm của dạng Luyện tập phân vai 36
4.2 Một số điểm cần chú ý khi tiến hành luyện tập phân vai 37
4.3. Một số chủ đề luyện tập phân vai cơ bản sinh viên cần nắm vững. 38
4.3.1. Nhờ chuyển lời nhắn qua điện thoại 39
Mục tiêu 40
Tiến trình hội thoại 40
Mẫu câu 40
Người ở đầu dây bên kia thông báo rằng người mình cần gặp đang đi

Không cho phép 49
Kết thúc hội thoại 49
Lưu ý 49
4.3.4. Nhờ vả 50
Mục tiêu 51
Tiến trình hội thoại 51
Hỏi xem người nghe có thời gian không 51
Mẫu câu 52
Hỏi xem người nghe có thời gian không 52
Giải thích, trình bày hoàn cảnh, lý do 52
Nhờ vả 52
Nhận lời giúp 52
Không nhận lời giúp 53
Thôi không nhờ nữa 53
Kết thúc hội thoại 53
Lưu ý 53
4.3.5. Đề xuất 54
Mục tiêu 55
Biết thể hiện đề xuất của mình về một vấn đề gì đó 55
Tiến trình hội thoại 55
Dẫn dắt, nêu lên vấn đề có liên quan 55
Mẫu câu 56
Dẫn dắt, nêu lên vấn đề có liên quan 56
Nêu lên đề xuất của mình liên quan đến vấn đề vừa đề cập 56

5

Tán thành với đề xuất đưa ra 56
Không tán thành với đề xuất đưa ra 57
Lưu ý 57

thoại không? 73
4. Bạn có thấy khó khăn khi khi phải hiểu tiếng Nhật của người Nhật nói
không? 73

6

5. Những bạn trả lời đáp án A ở câu 4, xin vui lòng cho biết lý do tại sao? 73
6. Bạn có thấy khó khăn khi phải chuyển một câu từ tiếng Việt sang tiếng
Nhật không? 73
7. Những bạn trả lời đáp án A ở câu 6, xin vui lòng cho biết lý do tại sao? 74
8. Những mẫu câu ban đã dùng được rồi, sau một thời gian có dùng lại được
trôi chảy không? 74
9. Những bạn trả lời đáp án C ở câu 8 xin vui lòng cho biết lý do tại sao? 74
10. Em có dành thời gian luyện tập hội thoại hàng ngày không? 74
11. Những bạn trả lời đáp án A ở câu 10 xin vui lòng cho biết thời gian luyện
tập hội thoại hàng ngày của mình. 74
12. Xin vui lòng cho biết bạn đã từng luyện tập khả năng hội thoại theo
những hình thức nào? 74
13. Trong những hình thức đã từng luyện tập, bạn thấy hình thức nào có hiệu
quả nhất đối với mình trong việc nâng cao khả năng hội thoại? 74
14. Ban có tự tin khi nói trước đám đông hay không? 74
15. Nếu trả lời đáp án A ở câu 14 xin vui lòng cho biết lý do? 74
16. Nếu trả lời đáp án B ở câu 14 xin vui lòng cho biết lý do? 74

MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nhật Bản và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay đã được
36 năm. Trong suốt thời gian qua, quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước
không ngừng phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt những năm
gần đây Nhật Bản đã trở thành một trong những nước đầu tư vào Việt Nam

Với những kết quả và kinh nghiệm đã thu được trong quá trình giảng
dạy, cộng với sự trao đổi kinh nghiệm rất nhiệt tình trong đội ngũ giáo viên
bộ môn tiếng Nhật, tác giả hy vọng sẽ nêu được một số phương pháp luyện
tập hiệu quả trong việc nâng cao khả năng nói của sinh viên chuyên ngành
tiếng Nhật, đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất. Hy vọng rằng, khi đã có được
khả năng nói tốt từ năm thứ nhất, sinh viên sẽ tiếp tục phát huy những
phương pháp luyện tập này trong suốt những năm học tiếp theo để khi ra
trường có được kết quả tốt nhất, tự tin dùng tiếng Nhật trong công việc một
cách hiệu quả.
ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đề tài này tập trung nghiên cứu khả năng “nói” của sinh viên năm thứ nhất,
chuyên ngành tiếng Nhật, khoa Ngôn ngữ và Văn hóa phương Đông, ĐH
Ngoại Ngữ, ĐH Quốc Gia Hà Nội.
Để giúp nâng cao khả năng nói tiếng Nhật của sinh viên năm thứ nhất,
chuyên ngành tiếng Nhật, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận liên quan đến khả năng nói, quá trình
giao tiếp. Tìm hiểu những năng lực cần thiết để thực hiện hành vi giao
tiếp, vai trò của kỹ năng nói trong việc học ngoại ngữ nói chung.
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học môn “Nói” của sinh viên năm thứ
nhất, chuyên ngành tiếng Nhật, trường ĐHNN- ĐHQGHN.
- Đề xuất một số phương pháp luyện tập được cho là có hiệu quả trong
việc nâng cao khả năng nói tiếng Nhật của sinh viên năm thứ nhất.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Khảo sát kết quả học môn “Nói” của sinh viên năm thứ nhất.
- Điều tra và tình hình dạy và học môn “Nói” của năm thứ nhất.

8

- Phân tích những nguyên nhân khiến sinh viên chưa tự tin và nói tiếng
Nhật chưa tốt.

Chương 3: Đề xuất một số phương pháp nâng cao khả năng nói của sinh viên
năm thứ nhất.
PHẦN KẾT LUẬN

9


mình có thể nói được bằng ngôn ngữ đó, tức là sẽ có khoảng cách giữa quá
trình v① ới quá trình v② à .③
Mục tiêu của nghiên cứu này là đề xuất ra một số phương pháp nâng
cao khả năng hội thoại cho sinh viên năm thứ nhất, hay nói cách khác là sẽ
tìm ra một số phương pháp giúp giảm thiểu khoảng cách giữa quá trình v① ới
quá trình v② à ③ trong khi thực hiện hành vi “Nói” của sinh viên.
2. Đặc điểm quá trình giao tiếp giữa người nói và người nghe.
Thông thường khi thực hiện hành vi “Nói” sẽ phải có hai bên tham gia

11

vào quá trình giao tiếp, đó là người nói và người nghe. Hay nói cách khác,
hành vi “Nói” có vai trò thực hiện việc giao tiếp giữa người nói và người
nghe. Vậy quá trình giao tiếp giữa người nói và người nghe mang những đặc
điểm gì?
Trước khi bắt đầu tiến hành hội thoại với một ai đó, tức là trước khi thực hiện
hành vi “Nói” chúng ta phải suy nghĩ xem mình cần nói nội dung gì với
người nghe, và nói để làm gì. Như vậy, để thực hiện quá trình giao tiếp, trước
hết cần có mục đích giao tiếp. Đây chính là động cơ giúp chúng ta có thể bắt
đầu một hành vi “Nói” hay một cuộc giao tiếp.
Ngoài ra, trong quá trình giao tiếp, nhất thiết sẽ xảy ra các câu hỏi và
câu trả lời về một vấn đề nào đó. Cụ thể, người nói sẽ hỏi người nghe những
thông tin mà người đó chưa biết và người nghe sẽ trả lời. Như vậy hành động
giao tiếp sẽ được thực hiện khi giữa người nói và người nghe tồn tại một
khoảng cách thông tin (information gap) nào đó. Khoảng cách giao tiếp ở
đây có thể hiểu là người nói chưa biết về một thông tin nhưng người nghe đã
biết, hoặc là người nói truyền tải cho người nghe một thông tin mà mình đã
biết
Không phải hội thoại nào cũng có nội dung như nhau. Ngoài ra, rất có thể
cùng một nội dung truyền tải nhưng tùy vào thành phần tham gia hội thoại

“năng lực ngữ pháp”, “ năng lực ngôn ngữ xã hội”, “năng lực đàm thoại”,
“ năng lực chiến lược”.
3.1 Năng lực ngữ pháp
Năng lực ngữ pháp là những kiến thức liên quan đến kiến thức ngữ pháp như
các quy tắc ngữ pháp, từ vựng, phát âm, cách viết…Năng lực ngữ pháp vốn
rất được chú trọng trong việc giáo dục ngoại ngữ từ trước đến nay.
3.2 Năng lực ngôn ngữ xã hội
Khi sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là khi sử dụng ngoại ngữ, chỉ có kiến thức về
ngữ pháp thôi thì chưa đủ. Một điều rất quan trọng trong khi sử dụng ngôn
ngữ đó là khi muốn “nói gì, với ai, trong trường hợp như thế nào, dùng những
cách diễn đạt ra sao…” cần phỉ chú ý đến những quy tắc vốn có về mặt xã hội
và văn hóa của đất nước đang nói thứ ngôn ngữ đó. Việc đảm bảo các quy tắc
đó trong khi sử dụng ngôn ngữ được gọi là “năng lực ngôn ngữ xã hội”. Năng
lực ngôn ngữ xã hội là một trong những yếu tố đảm bảo cho quá trình giao
tiếp diễn ra suôn sẻ.
Hãy xem ví dụ sau đây:
場面:大学の研究室で (Tại phòng nghiên cứu của giáo sư tại trường đại
học)
学生:「先生、先生の論文、見ましたよ。すばらしいですね。すごいで
すね」
Sinh viên: “Thầy giáo ơi, em đã xem Luận văn của thầy. thật là hay, tuyệt thật
đấy”.
先生:「...」
Thầy giáo: “……………………” 13

Trong đoan hội thoại trên, sinh viên khen Luận văn của thầy giáo 「す
ごいですね」. Người Nhật không bao giờ thể hiện sự đánh giá của mình đối

B:あ、そうですか。いいですよ。
Thế à, ừ, được thôi.
A:忙しいところ、すみません。
Xin lỗi đã làm phiền trong lúc anh đang bận rộn thế này.
B:いいえ。
Không có gì. Có thể thấy rằng cả hai đoạn hội thoại trên đều có cùng một mục đích là A
muốn B cho phép về sớm. Tuy nhiên đoạn hội thoại ở ví dụ 2 tự nhiên hơn.
Nguyên nhân là vì đoạn hội thoại trong ví dụ B có đầy đủ 3 phần của một hội
thoại hoàn chỉnh, đó là “phần mở đầu”, “phần chính”, và “phần kết luận”. Cụ
thể như sau:
A:あのう、すみません。
B:どうしたんですか。
→Phần mở đầu
A:実は、午後、用事がありますので、今日は早く帰らせていただけま
せんか。
B:あ、そうですか。いいですよ。
→Phần nội dung chính
A:忙しいところ、すみません。
B:いいえ。
→Phần kết luận

3.4 Năng lực chiến lược
Trong khi thực hiện quá trình giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp bằng ngoại ngữ

15

sẽ có trường hợp bạn gặp khó khăn, chẳng hạn như tự nhiên bạn quên không

xấu, ảnh hưởng xấu đến quá trình giao tiếp, thậm chí là ảnh hưởng đến mối
quan hệ giữa người với người.
Tùy vào mục đích nói và kỹ năng yêu cầu khi thực hiện mục đích nói mà
hành vi “nói” được chia thành hai loại như sau:
* Đối thoại (Dialogue)
Đây là hành vi nói mà trong quá trình giao tiếp, người tham gia giao
tiếp hoán đổi liên tục giữa vai trò của người nói và người nghe. Để thực hiện

16

loại hành vi giao tiếp này thì ngoài kỹ năng “nói” cần thiết phải có kỹ năng
“nghe” những điều đối phương đang nói để có sự đối đáp cho phù hợp. Hình
thức giao tiếp này có thể đưa đến những hội thoại đầy tính sáng tạo và có nội
dung triển khai phong phú tùy vào sự ứng đáp của những người tham gia. Có
thể chia thành hai loại chủ yếu như sau:
+ Nghị luận, thảo luận: Hai bên cùng đưa ra căn cứ, ý kiến để tranh
luận về một vấn đề nào đó.
+Hội thoại theo kỹ năng: Nhằm đạt được ý đồ giao tiếp của người nói.
Hội thoại được xây dựng dựa trên cơ sở những mục đích định trước như nhờ
vả, cảm ơn, xin lỗi, xin phép…Trong phạm vi của trình độ sơ cấp thì chủ yếu
tập trung hội thoại theo kỹ năng này. Cụ thể, cần cho sinh viên luyện tập hội
thoại theo từng nội dung cho sẵn như nhờ vả, cảm ơn, xin lỗi, xin phép…hoặc
luyện tập những hội thoại nhỏ để có thể dùng thành thục những mẫu câu đã
học.
* Độc thoại (Monologue)
Đây là hành vi giao tiếp được thực hiện dưới hình thức một người nói
còn những người khác nghe. Như vậy người nói sẽ thực hiện được hành vi
nói từ đầu đến cuối quá trình giao tiếp, có thể kiểm soát hoàn toàn nội dung
mình sẽ nói, và không có sự hoán đổi vai trò giữa người nói và người nghe.
Chính vì vậy người nói sẽ phải cố gắng sao cho nội dung mình muốn nói

diễn biến tình cảm của người nghe. Nói tóm lại, mục tiêu của hành vi “Nói”
trong quá trình giao tiếp ngôn ngữ là biết cách tìm các phương tiện ngôn ngữ
thích hợp để truyền đạt một cách hiệu quả nhất những điều mình muốn nói,
và đồng thời nắm bắt chính xác nội dung đối phương muốn truyền tải tới
mình.
6. Vai trò của kỹ năng “nói” trong việc dạy và học ngoại ngữ.
Bốn kỹ năng quan trọng trong giảng dạy và học tập bộ môn ngoại ngữ
là “nghe”, “nói”, “đọc”, “viết”. Trong đó kỹ năng “nói” có vai trò hết sức
quan trọng. Chúng ta đều biết việc học ngoại ngữ là cả một quá trình lâu dài,
đòi hỏi phải có sự luyện tập thường xuyên và liên tục. Trong đó kỹ năng “nói”
giúp người học có thể thực hành được những kiến thức về từ vựng, về mẫu
câu được học từ các kỹ năng khác, để vận dụng từng bước, khiến người học
có thể tiến hành giao tiếp bằng ngoại ngữ mà mình được học với những người
khác cùng biết ngoại ngữ đó, hoặc với người bản xứ, giúp chúng ta đạt được
các hiệu quả giao tiếp như mong muốn trong cuộc sống hàng ngày cũng như
trong công việc. Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, giao tiếp
bằng ngoại ngữ là một kỹ năng không thể thiếu của con người hiện đại.
Với sinh viên ở trình độ sơ cấp, những kiến thức học được còn hạn
chế về nhiều mặt, thì kỹ năng “nói” yêu cầu người học phải vận dụng được
những kiến thức đã học để giao tiếp ở mức độ sơ cấp. Thực tế là có rất nhiều
sinh viên ngoại ngữ, mặc dù rất giỏi các kiến thức về ngữ pháp, đọc, viết
nhưng lại rất kém và thiếu tự tin khi giao tiếp chỉ vì không áp dụng được các
kiến thức ngoại ngữ đã được học trong khi giao tiếp. Việc nói được những
mẫu câu đã học là một điều tưởng chừng như đơn giản song trên thực tế lại
không đơn giản chút nào.
MÔN “NÓI” CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT
CHUYÊN NGÀNH TIẾNG NHẬT ĐHNN-ĐHQGHN
1. Thực trạng việc giảng dạy hội thoại cho sinh viên năm thứ nhất
chuyên ngành tiếng Nhật.
Hiện nay, sinh viên năm thứ nhất chuyên ngành tiếng Nhật được chia
thành 5 lớp, học chương trình được chỉ định như nhau. Tiến hành phỏng vấn
các giáo viên đang phụ trách môn tiếng Nhật tổng hợp năm thứ nhất thì được
biết, giờ học nói được thực hiện sau khi sinh viên đã học mẫu câu và từ vựng
của từng bài với thời lượng 2 tiết 1 tuần. Môn “Nói” của mỗi lớp do giáo viên
chủ nhiệm của lớp đó phụ trách, ngoài ra sẽ có thêm 1 tiết bổ trợ do chuyên

19

gia người Nhật phụ trách. Tuy nhiên đến năm học này thì 2 tiết của môn
“Nói” sẽ do chuyên gia Nhật Bản phụ trách ngay từ đầu. Đây là một biện
pháp rất hữu hiệu giúp sinh viên có thêm hứng thú trong khi thực hành nói
thứ tiếng mà mình đang được học và sẽ có điều kiện được sửa phát âm cho
giống với người bản ngữ.
Môn Tiếng Nhật tổng hợp của cùng một lớp được phân công đan xen
cho nhiều giáo viên. Môn chữ Hán do thời lượng tương đối ít nên do một giáo
viên phụ trách. Môn Nói và bổ trợ nói do chuyên gia người Nhật đảm nhiệm.
Môn nghe do giáo viên người Việt đảm nhiệm.

1.1 Giáo trình sử dụng trong
môn hội thoại
Hiện nay, giáo trình được sử dụng cho
môn Hội thoại nằm trong bộ sách
“Tiếng Nhật sơ cấp” do trường Đại
Học Ngoại Ngữ Tokyo biên soạn. Đây
là một giáo trình hay, kiến thức chuyên

hội thoại mẫu trong sách Kaiwa. Những hội thoại mẫu trong mỗi bài sẽ chứa
các mẫu câu học trong bài đó nên đôi khi bối cảnh còn chưa tự nhiên, chưa
thật gần gũi và chưa gây được hứng thú cho sinh viên.
2. Điều tra khả năng Nói tiếng Nhật của sinh viên năm thứ nhất
Tiến hành điều tra sinh viên năm thứ nhất của trường có thể rút ra một số
nhận xét như sau:
- Sau khi tham khảo bảng điểm các môn tiếng Nhật tổng hợp có thể thấy điểm
kỹ năng Nói luôn thấp hơn so với các kỹ năng khác. Đây cũng là một điều dễ
hiểu vì trong quá trình học ngoại ngữ thì khả năng Nói và Viết vào nhóm kiến
thức đầu ra (output), và sự tiến triển của kỹ năng này luôn đi sau các kỹ năng
đầu vào như Đọc và Nghe.
- Tự tin trong kỹ năng Hội thoại: Đặc thù của sinh viên các trường Ngoại ngữ
nói chung là thích giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với người bản xứ của thứ
ngôn ngữ mà mình đag theo đuổi. Tuy nhiên sinh viên tiếng Nhật thì hơi khác
các sinh viên các khoa khác. Nếu như sinh viên chuyên ngành tiếng Anh,
tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp… thì trước khi vào đại học đã được
học ngoại ngữ một số năm, đã có kiến thức nền nhất định, khả năng giao tiếp
nhất định, thì sinh viên tiếng Nhật mới chỉ được làm quen với tiếng Nhật từ
khi mới vào đại học. Kiến thức chuyên môn tiếng Nhật chỉ bắt đầu từ con số
“Không”. Hơn nữa, trong quá trình học ngoại ngữ, sự tiến bộ trong kỹ năng
Nói và Viết sẽ chậm hơn hai kỹ năng Đọc và Nghe. Chính vì vậy, sinh viên
tiếng Nhật cảm thấy không tự tin khi nói tiếng Nhật, đặc biệt các sinh viên
năm thứ nhất lại càng không tự tin khi phải nói tiếng Nhật.
- Cảm thấy bị gò bó trong câu trả lời: Trong giờ luyện tập trên lớp sinh viên
được luyện tập lại các mẫu câu đã học trong bài. Tuy nhiên việc luyện tập này
chỉ mang tính chất luyện tập để nhỡ mẫu câu chứ chưa giúp sinh viên kết nối,
vận dụng các mẫu câu đó trong khi tiến hành hội thoại.
- Thiếu bối cảnh gây hứng thú cho sinh viên:
Về phần bối cảnh, mặc dù đã cho sinh viên được tữ nghĩ ra bối cảnh khi luyện
tập với nhau nhưng vẫn theo những mẫu câu đã học sẵn nên mục tiêu vẫn

là chính chứ chưa giúp sinh viên thực sự thấm nhuần để vận dụng vào các
tình huống trong thực tế. Đặc biệt, sinh viên chưa hình dung được cấu trúc
của một đoạn hội thoại có hàm chứa các nội dung như cảm ơn, nhờ vả, xin
phép, xin lỗi, từ chối. Chính vì vậy, khi có việc cần trao đổi với người Nhật
hoặc giáo viên người Nhật trong thực tế thì hầu hết sinh viên rất lúng túng
không biết bắt đầu từ đâu hay nói cách khác là không biết đặt vấn đề khi tiến
hành hội thoại. Lại càng không biết cách làm thế nào để thể hiện một cách
thuyết phục nội dung mình muốn nói, nhằm đạt mục đích giao tiếp.
Việc thiếu cơ hội luyện tập và thiếu các hình thức luyện tập hiệu quả có thể
coi là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến tình trạng sinh viên thiếu tự tin trong khi
nói tiếng Nhật và khả năng nói tiếng Nhật chưa cao. Để khắc phục tình trạng
này, cải thiện khả năng nói tiếng Nhật của sinh viên năm thứ nhất nói riêng và
sinh viên chuyên ngành tiếng Nhật nói chung ngày càng tốt hơn, trong

22

chương 3 tiếp sau đây, tác giả đưa ra một số phương pháp luyện tập được cho
là có hiệu quả trong việc nâng cao khả năng nói tiếng Nhật.

trong quá trình giao tiếp, cụ thể sự giao tiếp giữa người nói và người nghe sẽ
được thực hiện một cách tự nhiên, hiệu quả khi hội tụ đủ các yếu tố là “Mục
đích giao tiếp”, “ khoảng cách thông tin”, “quyền lựa chọn”, “phản ứng”.
Mặt khác, trong chương 2, sau khi phân tích một số nguyên nhân khiến sinh
viên chưa thật sự thấy hứng thú, tự tin khi nói tiếng Nhật thì thấy rằng, hầu
hết thời gian luyện tập thì chỉ chú ý luyện tập mẫu câu cho sẵn, câu trả lời cho
sắn, hoặc hội thoại mẫu (luyện tập thay thế từ)….Những dạng luyện tập này
giống như là một bài tập bắt buộc, khiến sinh viên không có như cầu (mục
đích) giao tiếp (vì được chỉ định), không có khoảng cách thông tin (vì người
nói và người nghe đều biết lương thông tin như nhau), thiếu quyền lựa chọn
(vì đã được chỉ định sẵn).
Có rất nhiều phương pháp giúp nâng cao khả năng nói ngoại ngữ nhưng ở đây
tác giả chỉ xin đưa ra 4 phương pháp đó là hoạt động phỏng vấn, hùng biện,
thảo luận và luyện tập phân vai. Bốn hoạt động này được cho là rất phù hợp
và hiệu quả trong việc nâng cao khả năng “Nói’ tiếng Nhật vì đó đều là những
hoạt động rất gần với hành vi “Nói” trong thực tế cuộc sống hàng ngày, và
trong khi thực hiện các hoạt động này chúng ta có thể dễ dàng đưa thêm các
yếu tố cần thiết để thực hiện hiệu quả hành vi giao tiếp đó là “Mục đích giao
tiếp”, “ khoảng cách thông tin”, “quyền lựa chọn”, phản ứng đồng thời
mang những đặc trưng sau đây:
- Có thể thực hiện được một cách dễ dàng ở nước ngoài (không nhất
thiết phải ở trong môi trường bản ngữ).
- Không cần phải chuẩn bị quá cầu kỳ
- Có thể thực hiện trong khoảng thời gian ngắn cho phép (trong phạm vi
giờ học trên lớp)
- Có thể điều chỉnh dễ dàng nội dung đề phù hợp với mọi trình độ của
người học, từ trình độ sơ cấp đến trình độ trung cấp và cao cấp.
Khi lập giáo án, kế hoạch cho các hoạt động luyện tập này, giáo viên cần lưu
ý đến những vấn đề mấu chốt như sau:


khác những câu hỏi trong bản điều tra nhằm phục vụ cho hoạt động nghiên
cứu của mình. Vậy tại sao hoạt động phỏng vấn lại có hiệu quả trong việc
nâng cao khả năng “Nói” trong quá trình học ngoại ngữ nói chung, tiếng Nhật
nói riêng? Đó là vì những lý do sau:
- Mục đích giao tiếp: Có. Người chủ động phỏng vấn muốn biết một số
thông tin phục vụ cho công việc của mình nên chủ động xin phỏng vấn
một người nào đó.
- Khoảng cách thông tin: Có. Vì người phỏng vấn chưa biết người được
phỏng vấn sẽ trả lời ra sao.
- Quyền lựa chọn: Có.Người phỏng vấn có quyền lựa chọn câu hỏi,
người được phỏng vấn được quyền lựa chọn câu trả lời của mình.
- Phản ứng: Có. Tùy vào phản ứng của người được phỏng vấn mà người
phỏng vấn có thể thay đổi câu hỏi, phỏng vấn tiếp hoặc không phỏng
vấn nữa.
Như vậy, có thể thấy hoạt động phỏng vấn là một hoạt động thỏa mãn
đầy đủ các điều kiện giúp thúc đấy quá trình giao tiếp giữa người nói và

25

người nghe. Tuy nhiên đó là đặc trưng của hoạt động phỏng vấn trong thực tế.
Còn hoạt động phỏng vấn được thực hiện trong giờ luyện tập nói trình độ sơ
cấp thì không phải lúc nào cũng mang đầy đủ những đặc trưng như trên. Có
những trường hợp nó chỉ thỏa mãn “khoảng cách thông tin” và ‘phản ứng”
mà không thõa mãn các điều kiện khác. Nhưng nói gì thì nói đây vẫn là một
hoạt động có hiệu quả trong việc luyện tập mẫu câu và nâng cao khả năng
“nói”.
Tuy nhiên, hoạt động phỏng vấn được thực hiện trong giờ hoc tiếng
Nhật sơ cấp chủ yếu vẫn chú trọng đến việc luyện cho quen với mẫu câu, vốn
từ của sinh viên còn nhiều hạn chế, giáo viên nên chỉ định chủ đề, nội dung,
người được phỏng vấn. Miễn là chủ đề đưa ra được sinh viên quan tâm, khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status