Việc phân tích tài chính đóng vai trò đặc biệt quan trọng, cung cấp cho nhà quản lý
cái nhìn tổng quát về thực trạng của doanh nghiệp hiện tại, dự báo các vấn đề tài chính
trong tương lai, cung cấp cho các nhà đầu tư tình hình phát triển và hiệu quả hoạt động,
giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra biện pháp quản lý hữu hiệu. Một doanh nghiệp
muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong tình hình kinh tế
bất ổn và khó khăn như hiện nay, cần phải thực hiện tốt công việc này. Nhận biết được
tầm quan trọng của việc phân tích tài chính, chúng tôi đã cố gắng thực hiện tốt đề tài “
Phân tích tình hình tài chính của Công ty cổ phần in sách giáo khoa Tp Hồ Chí Minh”
I.Mục đích nghiên cứu:
- Thông qua tìm hiểu thực tiễn để nắm bắt và hiểu rõ hơn nội dung bài học đồng thời xây
dựng kỹ năng phân tích tài chính.
- Phân tích, đánh giá tình hình tài chính, hiệu quả hoạt động của công ty từ đó dưa ra một
số giải pháp để khắc phục những hạn chế đồng thời phát huy thế mạnh của công ty trong
khuôn khổ những kiến thức đã được học.
2. Phương pháp: Thu thập, thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích, tính toán các chỉ số tài
chính, nghiên cứu tài liệu.
3. Giới hạn bài báo cáo: Thời gian làm đề tài ngắn (6tuần), trình độ còn hạn chế do bước
đầu làm quen với phân tích tài chính công ty, tài liệu tiếp cận gồm giáo trình TCDN, bài
giảng của thầy và các số liệu của cục thống kê
4. Các giả định của bài nghiên cứu:
- Công ty chịu ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô, điều kiện ngành và công ty.
- Thông tin công ty cung cấp trên các phương tiện là trung thực, chính xác.
- Công ty hoạt động liên tục, đặt mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp và lợi nhuận lên
hàng đầu.
II. Giới thiệu về công ty:
- Công ty cổ phần in SGK TpHCM được thành lập trên cơ sở cổ phần hóa xí nghiệp in
sách TpHCM.
- 14/12/2006 cổ phiếu công ty được niêm yết trên sàn GDCK với mã chứng khoán SAP.
- Ngành nghề kinh doanh của công ty:
+ In SGK, sách báo tạp chí, tập san, nhãn, biểu, sản phẩm bao bì và các giấy tờ
quản lý KT-XH.
Cùng với những bất ổn của nền kinh tế, lãi suất trong giai đoạn ngày cũng có
những biến động lớn.
Biến động lãi suất cơ bản 2007 - 2011
Thời gian Lãi suất cơ bản
01/03/2007 – 31/01/2008 8,25%/năm
01/02/2008 – 18/05/2008 8,75%/năm
19/05/2008 – 10/06/2008 12,00%/năm
11/06/2008 – 20/10/2008 14,00%/năm
21/10/2008 – 04/11/2008 13,00%/năm
05/11/2008 – 20/11/2008 12,00%/năm
21/11/2008 – 04/12/2008 11,00%/năm
05/12/2008 – 21/12/2008 10,00%/năm
22/12/2008 – 31/01/2009 8,50%/năm
01/02/2009 – 30/11/2009 7,00%/năm
01/12/2009 – 04/11/2010 8,00%/năm
05/11/2010 – 31/12/2011 9,00%/năm
Theo bảng số liệu, ta có thể thấy lãi suất trong năm 2008 được điều chỉnh liên tục, với
mức lãi suất cơ bản cao, có thời kì đạt đỉnh 14%/năm. Trong lúc đó, NHNN quy định lãi
suất kinh doanh (lãi suất huy động, lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam không quá
150%, sau đó tăng lên 165% của lãi suất cơ bản. Như vậy, trong thời gian này, có lúc lãi
suất cho vay lên đến 21%/năm, gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp
cận vốn và chi trả chi phí cho các khoản vay. Hơn nữa, xu hướng biến động lãi suất lại
không ổn định khiến doanh nghiệp khó tính toán được mức vốn vay phù hợp. Đến
03/2011, trần lãi suất huy động được quy định cụ thể là 14%/năm, sau đó giảm xuống còn
13%/năm vào 03/2012 và 12%/năm vào tháng 04/2012. Tuy đã thực hiện nhiều biện pháp
ngăn chặn lãi suất bị đẩy lên cao nhưng hầu hết các biện pháp này đều mang tính đối phó,
tạm thời, lãi suất vẫn ở mức cao so với khu vực và thế giới. Hơn nữa, việc chỉ quy định
trần lãi suất huy động mà không quản lý lãi suất cho vay khiến cho lãi suất này vẫn quá
cao mặc dù đã điều chỉnh, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí
dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phá sản hoàng loạt vì không thể tiếp tục vay vốn.
động cầm chừng hoặc đang rất lúng túng trong việc ổn định sản xuất và phát triển.
2. Phân tích mô hình porter 5 forces:
a. Các rào cản gia nhập:
- Đối với ngành in, không chỉ các đối thủ hiện tại mà khả năng các doanh nghiệp
mới có thể gia nhập cũng ảnh hưởng đến cuộc cạnh tranh. Vì là một công ty hoạt động
trong lĩnh vực giáo dục và là công ty được tách ra từ NXBGD tp HCM nên được sự hỗ
trợ cấp giấy phép của chính phủ. Những điều kiện của nhà nước, chính phủ là 1 rào cản
đối với các doanh nghiệp muốn gia nhập ngành này.
- Các thiết bị máy móc của các công ty trong ngành in mang tính chuyên môn hóa
cao và có giá cả rất đắt như công ty cổ phần in sách giáo khoa tp HCM có máy in offset 4
màu giá hơn 3.3 tỷ. Những thiết bị này mang tính chuyên môn hóa chỉ có thể sử dụng để
in những sản phẩm đặc trưng cho công ty, với lại những máy móc này có cấu tạo, cơ chế
khá phức tạp và dễ hư hỏng rất khó sữa. Do tính đặc trưng của tài sản cố định nên khi
thay thế thường rất khó và có giá bán rất thấp, vô tình điều đó tạo ra 1 rào cản cho các
doanh nghiệp muốn tham gia vào ngành.
- Các công ty muốn gia nhập ngành in nói chung và ngành in sách giáo khoa nói
riêng khá khó khi mà phải giải quyết bài toán đầu ra cho sản phẩm, tiếp cận với kênh
phân phối. Đối với công ty cổ phần in sách giáo khoa tp HCM phân phối sách cho
NXBGD tại tp HCM, do đó ổn định được đầu ra nên công ty dễ dàng có định hướng
chiến lược phát triển trong dài hạn, đó có thể là 1 lợi thế so với các doanh nghiệp khác
cùng ngành.
b. Sản phẩm thay thế:
- Sự xâm thực của phương tiện truyền thông mạng đã tác động mạnh mẽ tốc độ
ngành in nước ta. Trong 3 năm gần đây với sự phát triển rộng rãi của internet, sách điện
tử và các phương tiện truy cập ngày một hiện đại và tiện ích thì khối lượng sách báo in ở
Việt Nam đã giảm đi đáng kể. Tuy số đầu sách và báo chí vẫn tăng hơn trước nhưng số ấn
bản đã giảm sút 30-40%, quảng cáo in cũng giảm hơn so với trước kia.
c. Cạnh tranh nội bộ ngành:
- Số lượng các cơ sở in lớn, nhiều cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài, đặc điểm cơ chế
thị trường… đã tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt trong ngành in. Đã có những
hàng chính là người điều khiển cạnh tranh ngành thông qua quyết định mua hàng.
Phần D: Phân tích rủi ro
1. Rủi ro kinh tế
Sách là nhu cầu thiết yếu để phục vụ cho việc học tập và là phương tiện của ngành
giáo dục nước ta.
Cho dù nền kinh tế phát triển hay suy thoái thì sự nghiệp giáo dục vẫn được xem
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Chính vì thế ngành in sách giáo khoa đóng vai
trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và ít bị ảnh hưởng bởi
những tác động suy thoái kinh tế. Khi kinh tế kém phát triển, sức mua của các
hàng hóa khác có thể giảm nhưng nhu cầu về sách thì không thể cắt giảm, sức mua
ít thay đổi nên doanh thu của doanh nghiệp ổn định. Khi kinh tế phát triển, cần có
nguồn nhân lực với trình độ cao để đáp ứng yêu cầu xã hội. Vì vậy, nhu cầu học
hành cũng sẽ tăng cao. Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam luôn tăng
trưởng với mức ổn định từ 7,5 % đến 8 %. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam được
đánh giá là “con rồng” trong khu vực, dự đoán trong những năm tới cũng sẽ phát
triển bền vững với tốc độ tăng trưởng 8 %/ năm. Do vậy, rủi ro kinh tế đối với
ngành in sách giáo khoa là không đáng kể.
2. Rủi ro pháp lý
Khi công ty được chính thức đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán, ngoài
việc bị điều chỉnh bởi các quy định hiện hành, công ty còn chịu sự chi phối bởi các
quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Do đó, công ty sẽ không tránh khỏi những ảnh hưởng bởi những thay đổi về luật
pháp liên quan đến kinh doanh, các chính sách đầu tư, ưu đãi, thuế.
Thiếu kiến thức về pháp lý và việc thiếu chặt chẽ trong những hợp đồng kinh tế
hoặc đầu tư sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho công ty.
3. Rủi ro về môi trường kinh doanh
a.Sự biến đổi nhu cầu thị trường.
Đối với ngành in sách giáo khoa, nhu cầu thị trường, số lượng sản phẩm tiêu thụ
của doanh nghiệp ổn định trong điều kiện các yếu tố khác không đổi nên rủi ro
kinh doanh của doanh nghiệp thấp.
biến. Đây là thách thức lớn trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Nhận
thức được điều này, công ty đã từng bước đổi mới trang thiết bị công nghệ, mở
rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, tìm kiếm thêm nhiều thị trường khác, đa
dạng hóa hoạt động kinh doanh của công ty nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo
được doanh thu, lợi nhuận của công ty và cổ tức cho cổ đông.
5. Rủi ro thông tin
Thông tin là một trong những yếu tố quan trọng quyết định thành công của doanh
nghiệp. Vì vậy việc thiếu thông tin sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của
công ty.
Trong các hợp đồng nhập khẩu giấy in, nếu thiếu thông tin về phía đối tác sẽ dẫn
đến nguy cơ bị đối tác lừa, không thanh toán hoặc không thực hiện đơn hàng. Mặt
khác thiếu thông tin về sự thay đổi giá cả của sản phẩm sẽ làm cho doanh nghiệp
không bắt nhịp được xu hướng của thị trường, ảnh hưởng xấu đến việc tiêu thụ và
doanh thu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó việc thiếu thông tin về những thay đổi
công nghệ sản xuất mới sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh về giá bán và chất lượng
sản phẩm so với những công ty cùng ngành.
6. Rủi ro đến từ nội bộ doanh nghiệp và một số rủi ro khác
Thái độ của doanh nghiệp đối với rủi ro, trình độ quản lý của doanh nghiệp, sự
mất đoàn kết nội bộ, những sai lầm trong chiến lược kinh doanh và thiếu kiến thức
về thị trường mục tiêu mà doanh nghiệp thâm nhập cũng tác động đến doanh
nghiệp theo nhiều chiều hướng khác.
Một số rủi ro bất khả kháng khác như thiên tai, chiến tranh, hỏa hoạn, dịch bệnh,
…
Phân tích chỉ số tài chính
1. Chỉ số thanh khoản:
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2010 2011
TB
Ngành
Riêng năm 2011, chỉ số này của SAP lớn hơn trung bình ngành rất nhiều (hơn 2 lần), cho
thấy tình hình thanh toán nhanh SAP cao hơn so với một số doanh nghiệp cùng ngành,
tuy nhiên nó vẫn thấp hơn công ty đối thủ (ALT).
2. Chỉ số hoạt động
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2010 2011 ALT(2011)
GVHB 28893 23358 25760 26143 31525 154045
HTKTB 1552.5 3345 6127.5 10375 8173.5 59193.5
SNBQ vòng quay HTK 19,61 52.29 86.9 144.84 94.56 140.26
Ngày bình quân vòng quay hàng tồn kho:
Chỉ số này tăng nhanh từ 2007 đến 2010, cho thấy công ty đang có dấu hiệu không tốt
trong việc đầu tư vào HTK, HTK ứ đọng ngày càng nhiều, kéo theo khả năng thanh toán
nhanh của công ty ngày càng giảm, sử dụng vốn kém. Đến 2011, chỉ số này lại giảm
mạnh còn 94,56 (ngày), nhưng con số này nhìn chung vẫn còn lớn, kéo khả năng thanh
toán nhanh công ty tăng lên nhưng vẫn ở mức chậm, công ty cần duy trì tình trạng này và
có thể cắt giảm HTK ở mức phù hợp cho thời gian tới.
So với đối thủ cạnh tranh ALT, chỉ số này của SAP thấp hơn nhiều, tuy vậy nó vẫn ở mức
cao.
Ngày bình quân vòng quay các khoản phải thu:
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2010 2011 ALT(2011)
DTT 34455 27055 30054 30142 34930 162984
PTTB 7212 4331 1901 3934.5 5093 23009
Chỉ số SNBQ các KPTh 76.4 55.73 23.09 47.64 53.22 51.53
Chỉ số này nhìn chung ở mức độ vừa phải, giảm từ 76.4 (2007) xuống 23.09(2009), cho
thấy chính sách quản lý khoản phải thu của công ty hợp lý hơn, tức là công ty đang cắt
giảm bán chịu hàng hóa Chính sách này có phần nới lỏng hơn từ năm 2010 trở đi, chỉ số
tăng trở lại, nguyên nhân do khoản phải thu tăng, thị trường bấy giờ bất ổn, trì trệ dẫn đến
Qua các năm, chỉ số này giảm liên tục từ 2007 đến 2010, cho thấy tình hình hoạt động
của công ty chưa được hiệu quả, song giai đoạn tiếp theo, chỉ số này tăng trở lại, nhưng
nhìn chung vẫn chưa đáng kể. Nhưng qua các năm, chỉ số này vẫn lớn hơn 1=> có thể
chấp nhận được. So với bình quân ngành, năm 2011, một đồng tài sản của công ty tạo ra
được số đồng doanh thu tương đương nhau. Còn với ALT, chỉ số này vẫn hiệu quả hơn
nhiều ( cao hơn 2 lần).
3. Chỉ số lợi nhuận:
Chỉ số ROA:
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2010 2011
TB
Ngành
ALT (2011)
TTSTB 18539 19018 21442.5 26271.5 28710.5 - 257348.5
LNST 2586 1372 1877 1222 830 - 5896
ROA 13.90% 7.21% 8.75% 4.67% 2.89% 8% 2.29%
Chỉ số này có xu hướng giảm qua các năm và thấy rõ rệt nhất là từ 2009 trở lại đây,
nguyên nhân là do sự gia tăng mạnh của hàng tồn kho và các khoản phải thu, cùng với
đó là chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tu sửa cơ sở vật chất, thiết bị in ấn, thuế đầu
vào nguyên liệu tăng… làm cho lợi nhuận sau thuế giảm mạnh trong khi tổng tài sản
tăng, kết quả làm giảm ROA. So với bình quân ngành trong năm 2011, thì chỉ số này của
SAP khá thấp, đòi hỏi công ty phải những giải pháp kịp thời để tăng lợi nhuận, giảm chi
phí, đảm bảo ROA ở mức cho phép so với ngành chung. Tuy nhiên, so với đối thủ ALT
thì chỉ số này lớn hơn chứng tỏ công ty hoạt động hiệu quả hơn.
Chỉ số ROE:
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2010 2011
TB
ALT
(2011)
LNTT và Lãi 3341 1630 2092 1410 1036 8260
Lãi 334 47 10 - - 2229
Khả năng TTLV 10 34.68 209.2 - - 3.71
Khả năng thanh toán lãi vay của SAP rất lớn, tăng nhanh qua các năm, vì SAP quy mô
vừa phải, những khoản vay không đáng kể dẫn đến chi phí lãi vay rất thấp, chi phí này
quá cao cho thấy SAP không tận dụng được đòn bẩy tài chính, lượng dư thừa quá
nhiều…. So với ALT, chỉ số này nằm trong [3: 5] , vừa đáp ứng thanh toán lãi vay, vừa
tận dụng lợi thế vốn có.
Chỉ số tổng nợ:
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2010 2011
TB
Ngành
ALT
(2011)
Tổng nợ 4647 5683 7289 14950 12302 - 41909
TTS 1775.6 20280 22605 29938 27483 - 24633
Chỉ số tổng nợ 26.13% 28.02% 32.25% 49.94% 44.76% 34% 17.01%
Chỉ số này qua các năm đều dưới 50%, cho thấy mặt tích cực là khả năng tự chủ tài chính
và khả năng còn được vay nợ của doanh nghiệp cao, tuy nhiên, hạn chế không tận dụng
được lợi thế đòn bẩy tài chính và đánh mất cơ hội tiết kiệm thuế từ việc sử dụng nợ. So
với bình quân ngành và đối thủ cạnh tranh ALT, chỉ số này có thể chấp nhận được.
3. Tỷ số giá trị thị trường:
Chỉ số lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS):
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2010 2011 ALT (2011)
KCN Cát Lái, quận 2 trên diện tích 10.000 m2 để mở rộng sản xuất kinh doanh, đa dạng
hóa sản phẩm, phát triển thêm một số ngành nghề mới tăng tính cạnh tranh, nâng cao
hiệu quả và tạo sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, năm 2011 lạm phát vẫn còn , giá
nguyên nhiên vật liệu biến động tăng đã làm tăng giá thành sản phẩm, gây ảnh hưởng
không nhỏ tới tình hình sản xuất kinh doanh nên công ty tập trung tháo gỡ những khó
khăn trước mắt để ổn định sản xuất. Trong năm doanh thu tăng nhưng sản luợng và lợi
nhuận giảm do chi phí đầu vào như giá cả nguyên nhiên vật liệu ,chế độ cho người lao
động tăng cao trong khi đó giá bán sản phẩm tăng quá ít làm cho hiêu quả công ty thấp
so với kế hoạch. Tại thời điểm 31/12/2011 không có nợ khó đòi, tỷ lệ thu hồi công nợ khá
cao. Tập trung triển khai các dự án đầu tư bảo đảm đúng thủ tục, bố trí vốn và tổ chức
đào tạo nhân sự để tiếp nhận vận hành thành thạo công nghệ thiết bị mới. Công ty đã thực
hiện đầy đủ chế độ cho người lao động theo qui định pháp luật, làm nghĩa vụ thuế cho
nhà nước kịp thời, trả cổ tức cho cổ đông. Tuy nhiên do máy móc thiết bị đã cũ, nhà
xưởng chật hẹp, thiếu kho nguyên liệu để dự trữ vật tư sản xuất làm ảnh hưởng đến
năng suất lao động và công tác quản trị doanh nghiệp. Mặc khác công nhân kỹ thuật
thường nhảy việc dẫn đến thiếu, thường xuyên thay đổi, nguồn lao động bổ sung hạn chế
do đó không đủ lực lượng để thực hiện tốt tăng ca trong thời kỳ cao điểm sản xuất. Năm
2012 tình hình kinh tế khó khăn, mặt khác khách hàng thay đổi phương thức từ in bán sản
phẩm sang in gia công nên công ty dự kiến một số chỉ tiêu kế hoạch thực hiên năm 2012
như sau:
Đơn vị tính: đồng.
Chỉ tiêu Thực hiện 2011 Kế hoạch 2012
So sánh
KH/TH(%)
1 Doanh thu 34.930.110.416 11.000.000.000 31,5
2 Lợi nhuận sau thuế 830.076.904 1.275.000.000 153,6
3 Cổ tức 5% 10% 200%
Theo đó, SAP sẽ phát hành thêm 1.544.381 cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện
hữu theo tỷ lệ 1:1,2. Sau khi phát hành, Công ty sẽ tăng vốn điều lệ từ 12,87 tỷ đồng lên
28,31 tỷ đồng. Công ty cho biết, nếu tình hình thị trường không thuận lợi, việc huy động
10.455.762 nghìn đồng. Do năm này doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch
vụ tăng đột biến, điều này một phần là do giá sách bán ra đư ợc điều
chỉnh tăng đáng kể , khoản tiền mặt thu vào từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
cũng khá lớn nên dẫn tới dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên. Đến quý
I/2012, do khách hàng thay đổi phương thức từ in bán sản phẩm sang in gia công nên làm
doanh thu từ hoạt động kinh doanh giảm đáng kể, xuống mức âm.
*Dòng tiền từ hoạt động đầu tư:
Trong giai đoạn 2007-2010, dòng tiền thuần từ hoạt động đầu tư âm do
công ty đang chú trọng đầu tư vào trang thiết bị mới, hiện đại để đồng bộ quy
trình sản xuất. Tuy nhiên năm 2011, dòng tiền thuần từ hoạt động đầu tư dương. Điều
này không có nghĩa là công ty không có các dự án đầu tư, thực tế giai đoạn này công ty
đang đẩy mạnh đầu tư cho KCN Cát Lai mà tác động làm cho dòng tiền dương là do tiền
thu vào từ thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ, tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận
được chia .v.v… Trong quý I/2012, dòng tiền thuần từ hoạt động đầu tư của SAP
lại âm. Một trong những lý do chủ yếu đó là đầu năm 2012 thị trường tài chính dần dần
phục hồi nên công ty đã đầu tư một nguồn vốn khá lớn vào việc chi cho vay và
đầu tư vào các công cụ nợ của các đơn vị khác, bên cạnh đó dòng thu từ các
công cụ tài chính cũng giảm đáng kể so với năm 2011làm cho dòng tiền âm. Tuy
nhiên đây chỉ mới là 3 tháng đầu năm 2012 nên cũng chưa thể đánh giá chính xác dòng
tiền đầu tư trong năm 2012.
*Dòng tiền từ hoạt động tài chính:
Ta thấy dòng tiền thuần từ hoạt động tài chính luôn âm và ít biến động qua các
năm. Dòng tiền tài chính được dùng để chi cho các dự án đầu tư, chi cho quản lý
doanh nghiệp và mua các công cụ tài chính ngắn hạn và dài hạn.Thông qua dòng tiền
từ hoạt động tài chính cũng cho ta thấy khả năng vay của SAP là khá cao, thể hiện
thông qua dòng tiền vay ngắn hạn và dài hạn mà công ty đã nhận được qua các
năm. SAP có khả năng vay tín dụng cao, điều này cũng đồng nghĩa công ty được các tổ
chức tín dụng tín nh iệm. Ngoài ra côn g ty cũn g được nhà nước ưu đãi
về các khoản như thuế Việc này cũng làm tăng khả năng vay của SAP. Dòng tiền
thuần từ hoạt động tài chính các năm này là âm vì trong giai đoạn này, công ty