thử nghiệm ương cá trê vàng lai giai đoạn từ bột lên hương với các loại thức ăn khác nhau - Pdf 11

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304

THƯ NGHIỆM ƯƠNG CÁ TRÊ VÀNG LAI
GIAI ĐOẠN BỘT LÊN HƯƠNG
VỚI CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU Sinh viên thực hiện
LÊ VĂN MÃI

MSSV: 0753040054
LỚP: NTTS K2

Cần thơ, 2011 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG


Đề tài đã được hoàn thành theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và hội đồng bảo
vệ tiểu luận đại học Khoa Sinh Học Ứng Dụng,- Trường Đại học Tây Đô. Cần thơ, ngày…….tháng……năm 20……
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
(Chữ ký) (Chữ ký) ……………………………… ………………………….
PGs. Ts. NGUYỄN VĂN KIỂM LÊ VĂN MÃI
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Chữ ký)
…………………………………. LỜI CẢM TẠ
4
Sau khoản 2 tháng thực tập từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011, tại khu dân
cư Hưng Phú, quận Cái Răng – TP. Cần Thơ, áp dụng những kiến thức đã học kết hợp
với kinh nghiệm thực tế, nay luận văn đã được chỉnh sửa và hoàn thành.
Trước hết em xin chân thành cảm tạ Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Tây Đô đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy PGs. Ts Nguyễn Văn Kiễm

nghiệm thức khác nhau về thức ăn (trùn chỉ, tép xay, thức ăn công nghiệp 38% đạm).
Cả 3 nghiệm thức đều được cho ăn moina 1 tuần đầu và 4 tuần tiếp theo cho ăn hoàn
toàn trùn chỉ ở nghiệm thức I, thức ăn tép xay ở nghiệm thức II, thức ăn công nghiệp ở
nghiệm thức III.
Kết quả sừ dụng thức ăn là trùng chỉ trong quá trình ương đạt kết quả tỉ lệ sống
(89,03 ± 6,00) và tốc độ trăng trưởng (
0,039 mm/ngày ; 0,039 gam/ngày
) tốt nhất.
Thức ăn là tép xay và thức ăn công nghiệp trong quá trình ương có tốc độ tăng trưởng
tương đương nhau nhưng ở thức ăn công nghiệp cá ương có tỷ lệ sống cao hơn ở thức
ăn tép xay.
Từ khóa: Cá trê vàng lai, thức ăn, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống. CAM KẾT KẾT QUẢ
6
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi
và các kết quả nghiên cứu này chưa được dung cho bất cứ luận văn cùng cấp nào
khác.

Ngày … tháng… năm 20….

MỤC LỤC………….…………………… …….……………………………iv
DANH SÁCH BẢNG……….………………….…………………………… vi
DANH SÁCH HÌNH……….…………… ……………………………… vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT…… ……… ……………………………….viii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ… … ………… …………………………….1
1.1. Giới thiệu chung…………………………………… 1
1.2. Mục tiêu của đề tài…………………………………………… 2
1.3. Nội dung nghiên cứu………………………………………… 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU…… …… … ………………… 3
2.1. Đặc điểm hình thái phân loại………………….……………… 3
2.1.1. Sơ lược đặc điểm cá trê…………….…………………3
2.2. Đặc điểm sinh học cá trê vàng lai………………………………5
2.2.1. Môi trường sống ………………………….………….5
2.2.2. Đặc điểm dinh dưỡng…………………………………6
2.2.3. Đặc điểm sinh trưởng…………………………………6
2.2.4. Đặc điểm sinh sản………………………….………….6
2.3. Các loại thức ăn sử dụng trong quá trình ương nuôi …………7
2.3.1. Trùn chỉ……….…………………………………… 8
2.3.2. Tép……………………………………………… … 9
2.3.3. Thức ăn công nghiệp………………………… …….10
2.3.4. Moina………………………………… …… …… 10
2.4. Một số kết quả nghiên cứu về sinh sản và lai tạo cá trê…… 11
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…………12
3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu………… ……… ……….12
3.2. Vật liệu nghiên cứu……………………………………………12
3.3. Phương pháp nghiên cứu…………………………… ………12
3.3.1. Bố trí thí nghiệm…………………… ………………12
3.3.2. Thực nghiệm ương………….……… ………………13
3.3.3. Quản lí bể ương………….…………… ……………14
3.3.4. Phương pháp thu và phân tích mẫu…… ….……… 14

DANH SÁCH BẢNG

Trang
9
Bảng 3.1: Phương pháp bố trí thời gian và số lần cho ăn của 3 nghiệm thức……….13
Bảng 3.2: Thức ăn qua các tuần 13
Bảng 4.1: Biến động các yếu tố môi trường trong thí nghiệm ….…… 17
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài cá trê vàng lai ………………….…….…20
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng về trọng lượng cá trê vàng lai……………….……… 22
Bảng 4.4: Tỷ lệ sống của cá 23
Hình 2.7: Moina được thu và rửa sạch 10
Hình 4.1: Tăng trưởng chiều dài qua các ngày ương… ……………………………21
Hình 4.2: Tăng trưởng khối lượng qua các ngày ương cá… ……………………… 23

Năm 2006, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của vùng 699.200 ha, sản lượng
thủy sản trong vùng đạt 2.016.642 tấn (Tổng cục thống kê, 2007). Với diện tích mặt
nước lớn nhất cả nước và hệ thống sông ngòi chằng chịt Đồng bằng sông Cửu Long
có lợi thế rất lớn để phát triển thủy sản đặc biệt là thủy sản nước ngọt. Đồng băng
sông Cửu Long là vùng đất thấp rộng gần 4 triệu ha, chiếm 71% tổng diện tích châu
thổ sông Mê-kông, hằng năm sông Cửu Long mang theo khoảng 5 tỷ m
3
nước ngọt
cùng với một lượng lớn phù sa góp phần làm màu mỡ và mở rộng đồng bằng này,
song song với nó là sự sinh sôi và phát triển của nuôi trồng thủy sản trong vùng hạ lưu
sông, đa phần các loài thủy sản ở hạ lưu sông Mê-kông có vòng đời khép kín, ít di cư.
Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho cộng đồng dân cư ở khu vực hạ lưu sông
Mê- kông cải thiện đời sống, tăng thu nhập, làm giàu cho quê hương đất nước nếu
nuôi trồng thủy sản ở đây có sự quản lý, khai thác bền vững và định hướng phát triển
tôt nhất (Lê Xuân Sinh, 2005).
Trong những năm vừa qua nuôi trồng thủy sản đã phát triển ở nhiều giống loài trong
đó có tên không thể thiếu là cá trê lai. Cá trê lai đã được nuôi nhiều ở một số vùng
Châu Á như Thái Lan, Đài Loan, Ân Độ, Philippines, Trung quốc. Ở Việt Nam

phong
trào nuôi cá trê vàng lai đã phát triển khá mạnh trên cả nước ta, nhất là ở các tỉnh miền
Tây và Đông Nam Bộ, khu vực ngoại thành phố Hồ Chí Minh là do việc nuôi cá trê
vàng lai đem lại thu nhập đáng kể cho kinh tế gia đình. Gần đây, phong trào nuôi cá
trê vàng lai cũng đã lan rộng đến một số tỉnh ở phía Bắc.
Cá trê vàng lai hay còn gọi là cá trê lai có đặc điểm dể nuôi, mau lớn, ít bệnh, ăn tạp,
sống được trong môi trường nước tù hãm. Thịt cá thơm ngon gần giống như thịt cá trê
vàng, được thị trường trong nước tiêu thụ rất mạnh và gần đây còn được thu mua xuất
khẩu dưới dạng phi lê đông lạnh. (Bạch Thị Quỳnh Mai, 2006).
Chính những ưu điểm trên mà cá trê lai phổ biến rộng rãi và có giá trị trên thị trường.
Tuy nhiên thực tế, tỷ lệ sống của cá trê vàng lai trong việc sản xuất giống và ương

14
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm hình thái phân loại
2.1.1 Sơ lược đặc điểm của cá trê
Cá trê vàng
Hình 2.1: Hình dạng ngoai cá trê vàng
(Nguồn: http://www.vietnamangling.com.vn)

Tên khoa học: Clarias macrocephalus (Gunther, 1864)
Tên tiếng anh: Yellow catfish
Đặc điểm hình thái: Thân thon dài, dẹp dần về phía đuôi. Đầu to, rộng, dẹp đứng.
Xương gốc có chẩm hình tròn. Miệng to, mắt nhỏ. Khoảng cách hai ổ mắt rộng. Răng
xương lá mía là một dải hình lưỡi liềm. Có 4 đôi râu, dài gần đến gốc hoặc quá gốc
vây ngực. Vây lưng và vây hậu môn dài, không có gai cứng và không liền với vây
đuôi. Vây bụng nhỏ. Vây ngực có một gai cứng mang răng cưa ở mặt sau. Vây đuôi
tròn. Lưng và đỉnh đầu màu đen, bụng vàng nhạt. Hai bên thân có những chấm trắng
tạo thành các hàng thẳng đứng. Vây có màu đen, điểm các đốm thẫm.
Cá trê vàng có kích thước nhỏ, da trơn nhẵn, đầu rộng và dẹp. Thân có màu vàng xám,
hình trụ và dẹp dần về phía đuôi. Miệng 4 râu, mắt nhỏ. Hai bên mình có nhiều hàng
chấm nhỏ màu trắng. Đầu có 2 lỗ thóp, xương sọ nổi lển rỏ ràng, u lồi xương chẩm
hình chử V( Đoàn Khăc Độ, 2008)
Cá phân bố ở Các thuỷ vực nước ngọt như: Thái Lan, Lào, Campuchia, Philipin,
Malaixia. Ở Việt Nam cá được bắt nhiều ở đồng bằng Nam Bộ.

16
Cá trê vàng lai
Hình 2.3: Hình dạng ngoai cá trê lai
(Nguồn:http://khuyennonghue.org.vn)

Tên tiếng anh: Hybrid catfish
Tên địa phương: Cá trê vàng lai, cá trê lai.
Cá trê vàng lai có ngoại hình tương tự như cá trê vàng, da trơn nhẵn, đầu dẹp, thân
hình trụ, dẹp ở phía đuôi. Thân có màu vàng xám hoặc nâu vàng xám, phần bụng màu
vàng nhạt, trên thân lớm đốm nhiều hình bong cẩm thạch và nhiều chấm trắng nhỏ
theo chiều đứng (thẳng góc với thân cá). Miệng to, mắt nhỏ. Khoảng cách hai ổ mắt
rộng. Răng xương lá mía là một dải hình lưỡi liềm. Có 4 đôi râu, dài gần đến gốc hoặc
quá gốc vây ngực. Vây lưng và vây hậu môn dài, không có gai cứng và không liền với
vây đuôi. Vây bụng nhỏ. Vây ngực có một gai cứng mang răng cưa ở mặt sau. U lồi
xương chẩm có hình gần tương tự như chữ M với các cạnh tròn trong khi ở cá trê
vàng là hình chữ V còn ở cá trê phi là hình chữ M rất nhọn, rõ nét

(Nguồn: http://www.haiduongdost.gov.vn).
Đầu cá nhỏ, tỷ lệ đầu/chiều dài thân gần tương tự như cá trê vàng khi cá còn nhỏ, kích
thước từ 100-300 gam/con. Khi cá đã lớn, trong lượng đạt trên 500 gam/con thì có thể
rõ ràng phân biêt với trê vàng do thân cá mập, ngắn (Bạch Thị Quỳnh Mai, 2006).
2.2 Một số đặc điểm sinh học cá trê
2.2.1 Môi trường sống
Cá sống được trong môi trường nước hơi phèn và trong điều kiện nước hơi lợ
(độ mặn < 5%). Cá phát triển tốt trong môi trường nước có độ pH trong khoảng
từ 5,5 – 8,0.
Do cá có cơ quan hô hấp phụ nên cá trê vàng lai sống được trong ao, đìa nước tù, chịu
đựng được cả những khi hàm lượng oxy trong nước xuống thấp (1-2mg/l)
(Bạch Thị Quynh Mai, 2006)


cá đực phía ngoài thân giống như gai nhọn. Ở cá cái lỗ sinh dục hình tròn.
Những cá đực thành thục tốt có "gai sinh dục" phát triển nổi bật, có tập tính hung
hăng. Mỗi khi bị chạm vào, những cá đực thường quẫy mạnh và nhiều hơn các cá
khác.

18

Hình 2.4: Hình phân biệt đực cái ở cá trê: cá đực bên trái có đoạn cuối của ống dẫn tinh hình
gai nhọn (Nguyễn Tường Anh. KT SX giống một số loài cá nuôi - NXB Nông nghiệp).
Tập tính sinh sản
Cá trê vàng lai không cho sinh sản được, chỉ có thể cho sinh sản nhân tạo giữa cá trê
vàng và cá trê phi.
2.3 Các loại thức ăn sử dụng trong quá trình ương
Thức ăn là vật chất chứa đựng chất dinh dưỡng mà động vật có thể ăn, tiêu hóa và hấp
thu được các chất dinh dưỡng đó để duy trì sự sống, xây dựng cấu trúc cơ thể
(Trần Thị Thanh Hiền, 2009).
Hiện nay trong thủy sản có rất nhiều loại thức ăn được sử dụng và được chia làm các
loại thức ăn chủ yếu: Thức ăn tự nhiên, thức ăn tươi sống, thức ăn nhân tạo, thức ăn
tươi. Mỗi loại thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng khác nhau, nhưng nhìn chung đều có
các thành phần hóa học như: nước, chất đạm, chất béo, tinh bột cùng vitamin và muối
khoáng tuy nhiên chúng có sự khác nhau về hàm lượng và chất lượng các yếu tố cấu
tạo nên thức ăn. Vì vậy nên dùng phối hợp nhiều loại thức ăn để hỗ trợ và bổ sung cho
nhau nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho đối tượng nuôi. Thức ăn cho động vật
thủy sản được chia làm thành các nhóm sau: Thức ăn giàu chất đạm (Protid), thức ăn
giàu chất béo (Lipid), thức ăn giàu tinh bột (Glucid), thức ăn cung cấp chất khoáng và
vitamin.
19
2.3.1 Trùn chỉ
2.3.4 Thức ăn công nghiệp
Thức ăn công nghiệp cân bằng dinh dưỡng thường chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng
thiết yếu đạm, mỡ, đường, vitamin và khoáng chất đáp ứng nhu cầu sinh trưởng tối ưu
cho cá nuôi. Hầu hết các loại thức ăn chế biến hiện nay nông dân sử dụng điều thuộc
loại thức ăn này. Hàm lượng protein thường chiếm 18 – 50%, chất béo 10 – 25%,
đường 15 – 20%, tro nhỏ hơn 8,5%, phốt pho tổng số nhỏ hơn 1,5%, độ ẩm nhỏ hơn
10% ngoài ra còn bổ sung thêm vitamin và khoáng chất. Cá nuôi trong điều kiện thâm
canh mật độ cao đòi hỏi thức ăn có chất lượng tốt, đầy đủ dinh dưỡng nhằm đảm bảo
sinh trưởng nhanh và khỏe mạnh (Nguyễn Văn Tiến, 2008) (Nguồn:http://fishviet.com
Cập nhật 25/02/2010).
Thức ăn bổ sung cung cấp một phần dinh dưỡng cho cá, bù đắp sự thiều hụt từ nguồn
thức ăn (thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy, ấu trùng con trùng, mùn bã
hưu cơ ). Thức ăn bổ sung thông thường không chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng
theo nhu cầu của cá mà chi cung cấp nhũng chất dinh dưỡng mà từ nguồn thức ăn tự
nhiên cá nuôi thiếu hụt, thông thường là protein, chất béo và đường (Nguyễn Văn
Tiến, 2008). 21
2.3.5 Moina

Hình 2.7: Moina được thu và rửa sạch
(Nguồn: http://www.diendancacanh)
Bo bo (moina) hay còn gọi là trứng nước hay bọ đỏ, là giáp xác râu ngành phân bố
chủ yếu trong các thủy vực nươc ngọt, có khi hậu ấm áp. Chúng thường tập trung
thành đám dày đặc màu đỏ ở các ao, hồ, đầm lầy, vũng nước nơi có nhiều chất hữu cơ.
Cơ thể bo bo có hình bầu dục hoặc gần tròn, được bao bọc bởi một lớp vỏ giáp trong
suốt và chúng tự lột lớp vỏ này một cách định kỳ theo điều kiện môi trường sống.
Kích thước của bobo mới nở khoảng 0,4mm, bobo trưởng thành khoảng 0,7 – 1,6mm
nên bobo được xem là thức ăn lý tưởng dành cho cá con mới nở (Phước Cường,2010).

Trong khi đó cá trê vàng (Clarias macrocephalus) một loài cá nội địa được người tiêu
dùng ưa chuộng hơn. Do đó phong trào nuôi cá trê phi ở thành phố Hồ Chí Minh và
các tỉnh lân cận giảm một cách nhanh chóng. Sau thành phố HCM thì phong trào nuôi
cá trê phi ở cần thơ phát triển mạnh vào khoảng năm (1984 – 1985) và cũng tương tự
như thành phố HCM chúng cũng đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho một số ít
người làm nghề dịch vụ cá trê phi giống.
Việc thử lai tạo cá trê phi và cá trê vàng được bắt đầu vào năm 1985 – 1986 và cũng
chỉ mang tính chất tự phát. Sau một hai năm thử nghiệm cho kết quả tốt từ đó vấn đề
sản xuất cá bột cá trê lai mới thật sự phát triển nhanh và mạnh. Cuối những năm 80
đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Mỗi năm thành phố HCM sản xuất được khoảng
200 – 300 triệu cá bột và sản lượng cá bột cao nhất khoảng nửa tỷ con vào năm
1989 – 1998.
Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu về khã năng sinh sản của con lai (1993 – 1994)
cũng cho thấy khã năng thu tinh của chúng rất thấp và tỷ lệ dị hình cao. Nguyên nhân
đó là do mật độ tình trùng cá đực quá thấp, không đủ hoạt lực để hoạt hòa và thụ tinh
(Nguyễn Văn Ngọc, 1994).
Một số nghiên cứu về lai tạo giữa cá trê phi và cá trê trắng ( một loài cá trê có nguồn
gốc ở ĐBSCL cũng cho kết quả âm, tức là không có sự thụ tinh giữa trứng cá trê trắng
với tinh trùng cá trê phi và ngược lại (Nguyễn Văn Kiểm, 1998).

23
CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian thực hiện đề tài:
Đề tài đã được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2011
3.1.2 Địa điểm thực hiện đề tài:

Thời gian (Giờ)
I (trùn chỉ) 05 3 8 – 13 – 17
II (tép xay) 05 3 8 – 13 – 17
III (TACN) 05 3 8 – 13 – 17

Bảng 3.2:Thức ăn qua các tuần
Thức ăn
Nghiệm
thức
Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4 Tuần 5
I Moina Trùn chỉ Trùn chỉ Trùn chỉ Trùn chỉ
II Moina Tép xay Tép xay Tép xay Tép xay
III Moina TĂCN TĂCN TĂCN TĂCN
3.3.2 Thực nghiệm ương
3.3.2.1 Chuẩn bị bể
Bể mua về bố trí thí nghiệm, kết hợp với lót bạc ở bên trong, sau đó cho nước vào
khoảng 2/3 bể rồi ngâm khoảng 24h trước khi đem sử dụng.
3.3.2.2 Kĩ thuật ương
Cá bột vừa mới tiêu hết noãn hoàng thì được chuyển đến bể ương, với các bể đã chuẩn
bị sẵn.
Nguồn cá có chất lượng tốt, thả cá vào bể lúc sáng sớm hay chiều mát, trước khi thả
ngâm túi cá bột trong bể nước ương khoảng 10 – 15 phút để tránh gây sốc cho cá.
Có hệ thống thổi khí liên tục để tạo oxy, ổn định nhiệt độ của môi trường nuôi bằng
cách thay khoảng 20 – 30% lượng nước trong bể.

25
3.3.2.3 Thức ăn cho cá

, pH, oxy hòa tan: Xác định 3 ngày/ lần cùng lúc xác định nhiệt độ, sử dụng test
pH, Oxy

Trích đoạn Tăng trưởng về chiều dài
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status