Thực nghiệm ương cá Thát Lát Còm (Chitala chitala) bằng các loại thức ăn khác nhau - Pdf 11

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ

KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
THỰC NGHIỆM ƯƠNG CÁ THÁT LÁT CÒM
(CHITALA CHITALA) BẰNG CÁC LOẠI
THỨC ĂN KHÁC NHAU
Cần thơ, 2010

Sinh viên thực hiện

CÔNG QUỐC THÁI
MSSV: 06803038

Sinh viên thực hiện

CÔNG QUỐC THÁI
MSSV: 06803038
L
ỚP: NTTS K1

Cán bộ hướng dẫn

Ts. PHẠM MINH THÀNH
3
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), là vùng đất có nhiều điều kiện tự nhiên thuận
lợi, đa dạng về sinh cảnh, có diện tích mặt nước lớn, khí hậu nhiệt đới gió mùa cận
xích đạo, có nhiệt độ trung bình trong năm cao biến động lại thấp, giá trị nhiệt ở
ĐBSCL rất thích hợp cho sự sống, sinh trưởng và phát triển của thủy sinh vật.
ĐBSCL còn có hệ thống sông ngòi dày đặc, đa dạng thuỷ vực. Có nguồn nước ngọt
dồi dào, độ phèn thấp, được cung cấp bởi hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu.
Ngoài ra ĐBSCL còn gần với biển nên thuận lợi cho cả nuôi trồng hải sản.
Bên cạnh nghề khai thác thủy hải sản thì nghề nuôi trồng thủy sản đang phát triển rất
nhanh và là một trong những thế mạnh của vùng, góp phần to lớn vào tổng thu nhập
của đất nước và nâng cao thu nhập của người dân.
Hội tụ ở ĐBSCL có hơn 200 loài cá nước ngọt. Trong đó có nhiều loài có giá trị kinh
tế cao đã được chọn làm đối tượng nuôi.
Ngoài những loài cá như: Basa, Tra, Trê, Lóc, Điêu Hồng… là những loài cá truyền

Giống: Chitala
Loài: Chitala chitala
Tên khác: Notopterus chitala, Notopterus maculatus, Chitala ornata (Gray), Mytus
chitala Hamilton, (1882).
Tên thường gọi: Cá Còm, Cá Nàng Hai, Cá Đao, Cá Cườm, cá thát lát Cườm, cá thát
lát bông, ….
Tên tiếng anh: Clawn Knifefish, Clown featherback, Spotted knifefish, Knifefish
2.1.2 Hình thái

Hình 1: Cá thát lát còm ( nguồn: khuyennongvn.gov.vn )
5
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá còm có những đặc điểm
sau:
Xương hàm trên kéo dài qua khỏi mắt, vẩy ở đầu có cùng kích thước với vẩy ở thân.
Phía trên gốc vi hậu môn có từ 5-10 chấm đen, xung quanh có viền trắng. Thân dài,
dẹp bên, lưng gù độ cong của lưng tăng dần theo kích thước của cá. Lườn bụng có hai
hàng gai chạy dọc theo lườn bụng. Vẩy nhỏ phủ khắp thân và đầu, vẩy dính rất chắc,
khó rụng. Đường bên bắt đầu từ mép trên của lỗ mang và chấm dứt ở điểm giữa gốc vi
đuôi (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
Vi lưng nhỏ, nằm lệch về phía sau của thân, gần điểm giữa gốc vi đuôi hơn gần chóp
mõm. Gốc vi hậu môn rất dài, vi hậu môn nối liền với vi đuôi. Vi bụng rất nhỏ. Vi
đuôi tròn không chẻ hai. Vây ngực phát triển, vây bụng nhỏ. Cá có màu xám bạc, lưng
thẫm hơn. Dọc theo vây hậu môn có 4 - 5 đốm đen viền trắng, số lượng có thể thay
đổi từ 5 - 12 chấm trên các cá thể khác nhau. Ngay trên cùng một cơ thể số lượng
chấm ở hai bên thân cũng không giống nhau.
Cá có đầu nhỏ, nhọn, dẹp bên. Miệng trước, rạch miệng xiên kéo dài qua khỏi mắt,
xương hàm trên phát triển, Răng nhọn, bén mọc ở hàm dưới, phần gai giữa xương
hàm trước, xương khẩu cái, xương lá mía và lưỡi, ngoài ra còn có đám xương nhỏ mịn
trên xương bướm phụ. Có một đôi râu mũi ngắn nhỏ. Mắt nằm lệch về phía lưng của
đầu, gần chóp mõm hơn gần điểm cuối của xương nắp mang. Phần trán gần hai mắt

đột ngột hoặc bắt cá phải ngừng ăn lâu khi chuẩn bị vận chuyển.
Theo Dương Nhựt Long (2003), cá có hệ tiêu hóa gồm: miệng, thực quản, dạ dày,
ruột. Miệng trước rộng, rạch miệng xiên và kéo dài ra khỏi mắt, xương hàm trên phát
triển. Răng nhiều, nhọn mọc ở hàm dưới trên phần giữa xương trước hàm, trên xương
khẩu cái, xương lá mía và lưỡi. Ngoài ra còn có đám rănh nhỏ mịn trên xương bướm
phụ, vì vậy chúng có thể bắt giữ, cắn xé con mồi, thực quản ngắn, rộng và có vách hơi
dày. Dạ dày hình chữ J có vách hơi dày, ranh giới giữa ruột non và ruột già không
phân biệt rõ ràng. Tỉ lệ L
i
/L
0
= 0,3 cho nên đây là loài ăn động vật.
Do cá còm có đặc tính ăn thiên về động vật nên muốn nuôi ghép với các loài cá khác
nên chọn những loài cá không cùng tính ăn và không cạnh tranh thức ăn với cá còm
như: cá mè trắng, sặc rằn, rô phi, trắm cỏ, rô đồng… Các loài như: cá rô phi, sặc rằn,
mè có thể lọc tảo nên có thể sử dụng nuôi ghép để hạn chế tảo phát triển nhiều trong
ao và cá con bổ sung nguồn thức ăn tự nhiên cho cá còm. Tỷ lệ nuôi các loài cá này
chiếm khoảng 10%.
Giai đoạn cá bột, 1-4 ngày sau khi nở, cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng,từ 4-8 ngày
tuổi, cá ăn Moina, Daphnia, từ ngày thứ 9, cá có thể ăn trùn chỉ, ấu trùng giáp xác, côn
trùng, sau 50 ngày tuổi cá có tính ăn giống cá trưởng thành.
Trong nuôi thương phẩm có thể cho cá ăn mồi sống hoặc cũng có thể tập cho cá ăn
thức ăn chế biến (70% bột cá + 30% bột cám), các phụ phẩm nông nghiệp, phụ phẩm
lò mổ, thức ăn đông lạnh hay thức ăn công nghiệp. Khẩu phần ăn của cá từ 3-7% khối
lượng cá, tùy theo loại thức ăn và điều kiện môi trường (Nguyễn Chung, 2006)
Theo Lê Ngọc Diện (2004), Phạm Phú Hùng (2007), có thể thay thế 50% thức ăn là cá
tươi bởi 50% thức ăn viên công nghiệp trong quá trình nuôi cá thát lát vẫn thu được
kết quả tốt.
Trong thực tế nuôi thì cá còm vẫn ăn mồi ở tầng mặt và cũng cạnh tranh ăn mồi như
những loài cá khác (Nguyễn Chung, 2006).

kiện tự nhiên cá đẻ trên các vùng cạn và những thân, rể tre chìm trong nước. Sau khi
con cái đẻ trứng trên ổ đã dọn sẳn con đực bơi theo thụ tinh. Trứng cá thành thục có
màu vàng, to tròn, đường kính 2,5-3,5 mm Cá bơi lội tự do và bắt đầu ăn được luân
trùng và ấu trùng Artemia sau 2-3 ngày (Dương Nhựt Long, 2003). 8
2.2 Những kết quả nghiên cứu về sinh sản và ương nuôi cá thát lát còm
2.2.1 Kỹ thuật nuôi vỗ
Nuôi vỗ là khâu quan trọng nhất trong quy trình sản xuất giống nhân tạo. Các nghiên
cứu của các tác giả khác nhau đều có những điểm chung trong khâu nuôi vỗ, tuy nhiên
mỗi công trình có những cải tiến riêng nhằm nâng cao sức sinh sản thực tế và rút ngắn
thời gian tái phát dục.
Theo Nguyễn Chung (2006), nuôi vỗ cá thát lát còm bố mẹ được thực hiện như sau:
Chọn cá từ 2 tuổi trở lên có khối lượng trên 2 kg chiều dài 45-60 cm làm cá bố mẹ.
Mật độ 0,5 kg cá/m
2
với tỷ lệ đực cái là 1 : 1 đến 3 : 1 thả đực cái chung với nhau. Sử
dụng nhiều loại thức ăn: cá tạp, chế biến (50% bột cá + 50% cám gạo + premix) hoặc
cho ăn xen kẻ giữa cá tạp và thức ăn chế biến. Thả chà hoặc lục bình ở các góc ao làm
chổ ẩn nấp cho cá vào ban ngày và tiện cho chăm sóc quản lý.
Ở trại cá Thạch Hòa – Hậu Giang: Trại chỉ tập trung nuôi vỗ cá cái trong ao hình chữ
nhật, diện tích 800-1000 m
2
, mật độ thả 1 kg cá/m
2
. Sử dụng thức ăn 100% cá biển.
Còn cá đực được trại tuyển chọn, thu mua từ các ao thương phẩm. Tiến hành nuôi vỗ
tái phát dục đàn cá bố mẹ sau khi chấm dứt kỳ sinh sản đầu tiên.
Thời gian tái phát dục của cá là 1,5 tháng.

nở 90-97%.
2.2.5 Kỹ thuật ương cá giống
Bể ương có kích thước 1,5m x 2,5m x 0,5m, không bị rò rỉ, thoát nước. Nguồn nước
phải trong sạch, cấp đủ suốt thời gian ương. pH từ 7-7,5, oxy hoà tan >=3 mg/lít.
Theo Phạm Phú Hùng (2007), Thời gian từ khi trứng thụ tinh đến ấp nở là 7 ngày, cá
bột mới nở đến cá con phải mất 35-40 ngày mới đạt 3-4 cm, cá giống lớn chậm phải
kéo dài thêm 30-40 ngày mới đạt chiều dài 12-15 cm, sau đó cá sẽ lớn nhanh hơn nuôi
6 tháng có thể đạt trọng lượng 400-500 g/con và nuôi 12 tháng có thể đạt trọng lượng
1 kg/con.
Cá còm bột sau 4 ngày tiêu hết noãn hoàng có chiều dài trên > 1 cm đã có sắc tố và
bắt đầu tìm mồi ăn. Cá bột nên thả vào sáng sớm hoặc chiều mát, không thả vào lúc
nắng nóng hay trời đang mưa sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và sức sống của
cá. Vớt và thả cá bột bằng vợt mịn, thao tác phải nhẹ nhàng không làm cá mệt. Mật độ
thả là 200-250 con/m
2
(Nguyễn Chung, 2006).
Theo Nguyễn Chung (2006), trong 7-8 ngày đầu cho cá ăn moina, daphnia rải đều
khắp bể, cho ăn theo nhu cầu của cá, từ ngày thứ 8 về sau cho ăn trùn chỉ hay thức ăn
chế biến gồm 30% thịt cá xay nhuyễn với 70% bột cá giàu đạm, mỗi ngày cho ăn 100-
250 gram trùn cho 10.000 bột và tăng dần theo nhu cầu bắt mồi của cá.
Mỗi ngày nên cho cá ăn 3 lần, sáng và trưa 2/5, chiều 3/5 khẩu phần. Cho ăn trùn chỉ
nên ở vị trí cố định sẽ giảm hao hụt trùn, cá ăn được nhiều hơn và kiểm soát được
lượng thức ăn cho phù hợp.
Trùn chỉ rửa sạch loại mầm bệnh trùn mang theo, có thể rửa qua nước muối 0,6-1%
trong một phút trước khi cho cá ăn (Nguyễn Chung, 2006).
Giai đoạn còn nhỏ, nhất là cá bột, cá hương có sức sống thấp do khả năng thích ứng
với điều kiện môi trường kém nhất so với các giai đoạn khác của chu kỳ sống. Cá chỉ
có thể thích ứng được với phạm vi biến đổi hẹp của các yếu tố môi trường.
Những tác động xấu của môi trường dù nhỏ cũng dễ gây chết cho cá (Phạm Minh
Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2008). Vì thế trong quá trình ương cần xiphông đáy lấy

11
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ thàng 03/2010 đến tháng 06/2010.
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trại cá Minh Trang, Quận Cái Răng, TP Cần Thơ và
Trại sản xuất cá giống Hậu Giang, Cái Tắc, Tỉnh Hậu Giang.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Cá bột
Mua tại Trại sản xuất cá giống Hậu Giang Thuộc Cái Tắc, Tỉnh Hậu Giang.
3.2.2 Dụng cụ và trang thiết bị
+ Bể ximăng, giai lưới, vợt…
+ Test pH, Test oxy, Nhiệt kế, Máy thổi khí…
+ Cân điện tử, thướt nhựa, xô, thao, ống hút nước, vợt thu mẫu, sàng ăn…
3.2.3 Thức ăn cho cá bột
Sử dụng 4 loại thức ăn: moina, trùn chỉ, cá biển và thức ăn công nghiệp 25% đạm
3.3 Phương pháp tiến hành
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm ương cá thát lát còm được thực hiện tại bể ximăng và tại giai ương cá với
cùng mật độ và 3 loại thức ăn khác nhau.
Bố trí thí nghiệm ương cá trong bể xi măng
Thí nghiệm đựơc thực hiện tại trại cá giống Hậu Giang, Cái Tắc, Tỉnh Hậu Giang.
Bể ximăng có kích thước, chiều dài 3m, chiều rộng 2,5m, chiều sâu 0,5m. Cá được thả
với mật độ 1000 con/m
2.

2
hoà tan: Đo ôxy hoà tan 7 ngày 1 lần vào lúc 7h và 14h. xác định ôxy bằng test
ôxy.
- pH nước: Xác định hàng ngày cùng lúc xác định nhiệt độ, sử dụng test pH.
Thu mẫu và xác định tốc độ tăng trưởng của cá.
Thu mẫu định kỳ 7 ngày 1 lần. Mỗi lần thu 30 cá thể/1 nghiệm thức. xác định chiều
dài và trọng lượng của từng con.
Tốc độ tăng trưởng của cá xác định theo công thức.
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối:
DWG
1
2
Y1 - Y2
T
T

=
(3.1)

Trong đó:
Y2 và Y1 là kích thước (chiều dài hoặc trọng lượng) đo tại các thời điểm T2 và T1.
DWG là tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài hoặc khối lượng. 13
Xác định tỉ lệ sống của cá
Số cá thu được
SR (%) = x 100 (3.2)
Số cá thả ương ban đầu
3.4 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả

Nghiệm thức Nhiệt độ (°C) pH DO (ppm)
Trùn chỉ 29,3±1,1 7,8±0,5 4,2±0,7
Cá biển 29,5±1,2 7,8±0,4 4,0±1,1
TĂ viên 29,5±1,1 7,5±0,5 4,1±1,0
Ghi chú: kết quả là giá trị trung bình cộng của 3 giai trong mỗi nghiệm thức, qua 5 tuần ương.
Kết quả của Bảng 2 chỉ ra rằng: Nhiệt độ, pH và nồng độ oxy hoà tan không có sự sai
khác giữa các nghiệm thức, nguyên nhân do 3 nghiệm thức bố trí cùng 1 ao và tương
đồng với nhau.
Theo Lê Ngọc Diện (2005), nhiệt độ thích hợp cho cá tôm vùng nhiệt đới nằm trong
khoảng 25-32
0
C. Theo Nguyễn Văn Kiểm (2005), oxy 3-5 ppm, pH 7-8 là thích hợp
cho sự sinh trưởng và phát triển của cá bột.
Nhìn chung các yếu tố môi trường ương cá bột trong các nghiệm thức phù hợp cho sự
sinh trưởng và phát triển của cá và phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng nước nuôi thuỷ
sản.
4.1.2 Tỉ lệ sống
Kết quả tỉ lệ sống của cá ương trong giai được trình bày ở Bảng 3.
Bảng 3: Tỉ lệ sống của cá còm ương trong giai với 3 loại thức ăn khác nhau
Nghiệm thức Tỉ lệ sống (%)
Trùn chỉ (Nghiệm thức I) 70,1±4.06
a
Cá biển (Nghiệm thức II) 4,30±0.67
b
TĂ viên (Nghiệm thức III) 8,40±1.12
b

Ghi chú: Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn. Các giá trị trên cùng một cột có các chữ
cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức (p<0,05)
15

739,7± 80,1
b
21,0±2,3
b
Cá biển 20±0 311,7±87,5
c
291,67±87,5
c
8,3±2,5
c
TĂ viên 20±0 170,3±22,5
a
150,33±22,5
a
4,2±0,7
a
Ghi chú: Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn; Các giá trị trên cùng một cột có các chữ
cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức (p<0,05).
16
Khối lượng của cá sau 5 tuần ương đạt cao nhất ở nghiệm thức I (759,67 mg), thấp
nhất là nghiệm thức III (170,33 mg) và nghiệm thức II cao hơn nghiệm thức III nhưng
nhỏ hơn nghiệm thức I (311,67 mg) và các nghiệm thức là khác biệt với nhau. kết quả
tương tự đối với tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DWG).
Khi ương cá giai đoạn đầu sử dụng moina làm thức ăn là loại thức ăn tươi sống và
động nên cá quen với loại thức ăn dạng này. Do vậy khi chuyển đổi sang trùn chỉ cá
thích ngi nhanh trong khi đó khi chuyển sang cá biển xay và thức ăn viên là hai loại
thức ăn dạng tĩnh, không kích thích cá bắt mồi do không kích thích thị giác, ngoài ra
hàm lượng chất dinh dưỡng trong trùn chỉ nhiều hơn thức ăn cá biển xay và thức ăn
viên, do vậy tốc độ tăng trưởng lớn hơn so với 2 nghiệm thức còn lại.
Khi chuyển từ moina sang cho cá ăn loại thức ăn viên và thức ăn cá biển xay cá ăn rất


n 4 Tu

n 5
Tu

n
gram
NT1
NT2
NT317
4.1.4 Tăng trưởng về chiều dài
Kết quả tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá còm ương trong giai sử dụng các loại
thức ăn khác nhau được trình bày ở Bảng 5.
Bảng 5: Tăng trưởng về chiều dài của cá còm ương trong giai
Nghiệm thức Y1 (mm) Y2 (mm) Y2-Y1 (mm) DWG (mm/ngày)
Trùn chỉ 13,3±0,09 47,7±1,25
b
34,4±1,30
b
0,1±0,04
b
Cá biển 13,4±0,13 34,2±1,05
a
20,8±1,15
a
0,6±0,04

ăn nhân tạo không thể thực hiện hoàn toàn trong ương nuôi hầu hết các loài cá
nguyên nhân do thức ăn nhân tạo không kích thích cá bắt mồi vì không kích thích thị
giác cá và cá rất khó bắt mồi là thức ăn nhân tạo nên không đủ lượng thức ăn cần thiết
18
Tốc độ tăng trưởng về chiều dài qua các tuần được thể hiện qua biểu đồ, Hình 2.

Hình 2: Tăng trưởng chiều dài qua các tuần ương cá trong giai
0
20
40
60
Mới thả Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4 Tuần 5
Tuần
(mm)
NT1
NT2
NT3

4.2 Thí nghiệm ương cá trong bể với các loại thức ăn khác nhau
4.2.1 Nhiệt độ, pH và ôxy tại bể ương cá
Tại 3 nghiệm thức ương cá trên bể xi măng các yếu tố: Nhiệt độ, pH và nồng độ oxy
hoà tan được xác định và kết quả thể hiện ở Bảng 6.
Bảng 6: Nhiệt độ, pH và Oxy tại bể ương cá
Nghiệm thức Nhiệt độ (°C) pH DO (ppm)
Trùn chỉ 29,8±1,3 7,6±0,7 4,7±0,7
Cá biển 30,2±1,4 7,9±0,7 4,8±0,7
TĂ viên 29,4±1,1 7,6±0,6 4,4±0,5
Ghi chú: kết quả là giá trị trung bình cộng của 3 giai trong mỗi nghiệm thức, qua 5 tuần ương.
Kết quả của bảng 5 chỉ ra rằng giá trị nhiệt độ nước trong các bể thay đổi nhỏ qua 5
tuần ương cá (29,4-30,2

Bảng 7: Tỉ lệ sống của cá còm ương trong bể với 3 loại thức ăn khác nhau
Nghiệm thức Tỉ lệ sống (%)
Trùn chỉ (Nghiệm thức I) 86,8±5,03
a
Cá biển (Nghiệm thức II) 7,40±1,16
b
TĂ viên (Nghiệm thức III) 10,4±1,38
b

Ghi chú: Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn. Các giá trị trên cùng một cột có các chữ
cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức(p<0,05).
Sau 5 tuần thí nghiệm, cá ở nghiệm thức I có tỉ lệ sống cao nhất (86,8±5,03%) Tỉ lệ
sống của cá đạt thấp nhất ở nghiệm thức II đạt (7,4±1,16%). Nghiệm thức III có tỉ lệ
sống (10,4±1,38%) cao hơn nghiêm thức II nhưng thấp hơn nghiệm thức I. nghiệm
thức I có sự khác biệt so với nghiệm thức II và II, nghiệm thức II và III không có sự
khác biệt.
Kết quả tỉ lệ sống ở nghiệm thức II và nghiệm thức III thấp là do, khi chuyển từ thức
ăn tươi sống là moina sang thức ăn chế biến cá không thích nghi kịp do thức ăn chế
biến như: cá biển xay không thể phân bố đều, chìm nên có hiện tượng một số cá
không bắt được thức ăn và tấn công những cá khác, ngoài ra còn do thức ăn trùn chỉ là
loại thức ăn ưa thích ở cá trong khi đó thức ăn chế biến chỉ được xem là loại thức ăn
bắt buộc.
20
Ngoài ra còn do trong giai đoạn đầu khi chuyển đổi từ thức ăn moina sang thức ăn cá
biển xay hay thức ăn viên, cá không thích nghi với thức ăn dạng tĩnh, nên không kích
thích thị giác làm cho cá bắt mồi kém hơn so với trùn chỉ và khi cá bắt được mồi thì
khó tiêu hoá, do hệ tiêu hoá chưa hoàn chỉnh nên tỉ lệ chết cao
Thức ăn viên có kích cỡ tương đối phù hợp hơn so với thức ăn cá biển xay, phân bố
đều trong nước hơn nên giúp cá bắt mồi đồng đều hơn hạn chế hiện tượng thiếu thức
ăn ở, do vậy mà tỉ lệ sống ở nghiệm thức thức ăn viên có tỉ lệ sống cao hơn ở cá biển

tăng trưởng chậm hơn nghiệm thức I và nhanh hơn nghiệm thức III. Và giữa các
nghiệm thức là có sự khác biệt (p<0,05).
Khi chuyển đổi từ moina sang 3 loại thức ăn, thì trùn chỉ được cá thích ngi nhanh nhất
do tương tự như moina đều là loại thức ăn tươi sống nên kích thích cá bắt mồi, kích cỡ
phù hợp miệng cá và có hàm lượng dinh dưỡng nhiều nhất trong 3 loại thức ăn thí
nghiệm.
Khi cho cá ăn loại thức ăn viên và thức ăn cá biển xay chưa phù hợp với nhu cầu của
cá, nên cá ăn rất ích do cá chưa quen với thức ăn dạng tĩnh, do vậy không kích thích
cá bắt mồi như trùn chỉ và lúc này cá còn ít bắt mồi ở đáy. Ngoài ra còn do trong giai
đoạn đầu khi hệ tiêu hoá của cá chưa hoàn chỉnh, khả năng tiêu hoá thức ăn cá biển
xay và thức ăn viên không cao bằng thức ăn trùn chỉ (do cá đã quen với moina có tính
chất tương tự như trùn chỉ trong tuần lễ đầu).
21
Ngoài ra những nguyên nhân khác cũng có sự tương tự như được thảo luận ở phần kết
quả ương cá trong giai ở trên.
Tốc độ tăng trưởng về kh
ối
lượng của cá được thể hiện qua biểu đồ, Hình 3.
Hình 3: Tăng trưởng khối lượng qua các tuần ương cá trong bể
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
Mới thả Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4 Tuần 5
Tuần
(gram)
NT1

Tương tự tăng trưởng về khối lượng, tăng trưởng về chiều dài của cá đạt từ
(30,50±0,14 -52,8±0,84 mm). Các số liệu tăng trưởng về chiều dài của cá đạt cao nhất
ở nghiệm thức I, thấp nhất ở nghiệm thức III và thứ 2 là nghiệm thức II. Các nghiệm
thức có sự khác biệt (p<0,05)
Điều này cũng được giải thích tương tự như tăng trưởng về khối lượng, Trần Thị
Thanh Hiền, Nguyễn Hương Thuỳ (2008) khi nghiên cứu về khả năng sử dụng thức
ăn chế biến của cá còm (chitala chitala) giai đoạn bột lên giống cũng cho kết quả
tương tự.
22
Các nghiên cứu trước đây cho thấy việc thay thế thức ăn tự nhiên hoàn toàn bằng
thức ăn nhân tạo không thể thực hiện hoàn toàn trong ương nuôi hầu hết các loài cá
nguyên nhân do thức ăn nhân tạo không kích thích cá bắt mồi vì không kích thích thị
giác cá (person le Ruyet et al., 1993). Cá rất khó bắt mồi là thức ăn nhân tạo nên
không đủ lượng thức ăn cần thiết (Appelbaum and Damme, 1985).
Tốc độ tăng trưởng về chiều dài qua các tuần được thể hiện qua biểu đồ, Hình 2.
Hình 4: Tăng trưởng chiều dài qua các tuần ương cá trong bể
0
10
20
30
40
50
60
Mới thả Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4 Tuần 5
Tuần

(mm)
NT1
NT2
NT3

5.2.2 Nghiên cứu sử dụng thêm các loại men tiêu hoá vào thức ăn để hổ trợ khả năng
tiêu hoá của cá.
5.2.3 Nghiên cứu tìm các loại thức ăn mới thay thế cho các loại thức ăn đang sử dụng
để giảm thời gian và giá thành ương cá.
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Dương Nhựt Long. (1999). Kỹ thuật nuôi một số loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế
phân bố ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Dương Nhựt Long. (2003). Giáo trình kỹ thuật nuôi thuỷ sản nước ngọt.
Lê Quý Cường. (2006). Kỹ thuật nuôi một số loài cá nước ngọt. NXB Nông Nghiệp.
Lê Ngọc Diện & ctv. ( 2005). Nghiên cứu quy trình ương giống và nuôi thương phẩm

25
Trần Thị Thanh Hiền, Nguyễn Hương Thuỳ. (2008). Khả năng sử dụng thức ăn chế
biến của cá còm (chitala chitala) giai đoạn bột lên giống. Tạp chí khoa học 2008
(1) 134-140.
http:// www.khuyennongvn.gov.vn, cập nhật ngày 16/07/2010.
http:// www.aquabird.com.vn cập nhật ngày 23/05/2010.
Tài liệu dịch
Xakun O.F, Buskaia N.A 1968. Bản dịch của Lê Thanh Lựu. (1982), xác định các
giai đoạn thành thục và nghiên cứu chu kỳ sinh dục cá. Nhà xuất bản Nông
Nghiệp Hà Nội.
Nicolski. (1953). Sinh thái cá. Tài liệu do Phạm Thị Minh Trang dịch từ tiến nga năm
(1973). Nhà xuất bản Nông Nghiệp.
Tài liệu tiếng Anh
Boyd C. E. (1998). Water quality in ponds for aquaculture. Birmingham Publishing
Co. 5(1). pp: 1-8.
Appelbaum, S. and P. Van Damme. (1988). The feasibility of using exclusively
artificial dry feed for the rearing of Israeli Clarias gariepinus (Burchell, 1822).
Larvae and fry. J. Appl Ichthyol s 4. 105-110.
D.V.Serov, V.K Nezedoliy, D.S Pavlov. (2006). The fresh water fishes of central
VietNam, Moscow.
Person-Le Ruyet, J., J.C. Alexandre, L. Thébaud and C. Mugnier. (1993). Marine fish
larvae feeding Formulated diets or live preys? J. World Aquacul. Social 24:
211-224.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status