luận văn: SỬ DỤNG CÁC LOẠI SINH KHỐI ARTEMIA ĐỂ ƯƠNG CÁ THÁT LÁT CÒM (Notopterus chitala) TỪ HƯƠNG LÊN GIỐNG potx - Pdf 11

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ thủy sản

LÂM HUỲNH PHÚC
SỬ DỤNG CÁC LOẠI SINH KHỐI ARTEMIA ĐỂ ƯƠNG

THÁT LÁT CÒM (Notopterus chitala)
TỪ HƯƠNG LÊN GIỐNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Cần Thơ, 2009


Kết quả sau 40 ngày ương cho thấy, Artemia sinh khối tươi sống và
Artemia
lạnh là lọai thức ăn rất được ưa thích của cá Thát Lát còm, tốc độ
tăng trư
cá khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) so với các nghiệm thứ
c khác
lượng cá đạt từ 7,45-7,77g/con. Tốc độ tăng trưởng thấp nhất thu đượ
c v
thức V (chỉ đạt 0,04g/con).
Khi kết thúc thí nghiệm, tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức đều lớ
n hơn 57,78%
và không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa các nghiệ
m th
nhiên kết quả tốt nhất thu được với nghiệm thức I (73,33%) và thấ
p nh
nghiệm thức V (57,78%)
3 4
MỤC LỤC

2.1.6. Đặc điểm sinh sản 7

2.1.7. Môi trường sống cá Thát Lát Còm 7

2.2 Kỹ thuật ương 8

2.2.1 Ương trong bể 8

2.2.2Ương cá trong ao 10

2.3 Một số kết quả ương cá Thát Lát 12

2.4. Vài nét sơ lược về Artemia 14

2.4.1 Artemia 14

2.4.2 Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản 14

Phần 3 16

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1.Vât liệu nghiên cứu 16

3.2.Phương pháp nghiên cứu 17

3.2.1. Bố trí thí nghiệm 17

3.2.2.Chăm sóc và quản lý 18



5
ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Giới thiệu
Trong những năm gần đây, nghề nuôi thủy sản ở Đồng Bằng Sông Cửu
Long (ĐBSCL) đã có bước phát triển rất nhanh, sản lượng nuôi trồng thủy sản
nước ngọt đạt trên 1.000.000 tấn, chiếm 60% sản lượng thủy sản nước ngọt của
cả nước (Bộ thủy sản, 2007). Trong đó phải kể đến sự gia tăng nhanh chóng
không những về diện tích mà còn về mức độ thâm canh. Ngoài đối tượng nuôi
chính là cá tra, basa, các loài cá bản địa cũng đang rất được quan tâm phát triển
nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi, giảm thiểu rủi ro cho nghề nuôi và cá thát lát
(Notopterus) là một trong những loài đó.
Cá thát lát phân bố ở một số nước khu vực Đông Nam Á. Tại Việt Nam
cá thát lát phân bố chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL), chúng hiện
diện nhiều ở lung bào (vũng, đìa), đất trũng, đặc biệt là những vùng nước nhiễm
phèn. Hiện nay ở Đồng bằng Sông Cửu Long, hai loài đang được quan tâm
nghiên cứu là cá thát lát Còm (Notopterus chitala) và cá thát lát (Notopterus
notopterus). Đặc điểm của hai loài này là có thịt thơm ngon rất được người tiêu
dùng ưa chuộng và có bán giá cao trên thị trường.
Trên thế giới các nghiên cứu về đối tượng này còn rất ít, các nghiên cứu
tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái phân loại, phân bố. Ở nước ta môt số tài
liệu công bố về phân loại của loài này như Trương Thủ Khoa và Nguyễn Thị
Thu Hương (1993). Năm 1999, Chi cục bảo vệ nguồn lợi tỉnh Cần Thơ có đã
cho sinh sản nhân tạo thành công cá thát lát thường (Trần Ngọc Nguyên và ctv,
2001). Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và hàm lượng protein trong thức ăn
viên lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá thát lát ở giai đọan cá giống và
nuôi thương phẩm (Lê Ngọc Diện, 2004). Ngoài ra còn một số báo cáo về thử
nghiệm sản xuất giống cá thát lát còm. Tuy nhiên, những nghiên cứu cơ bản về
sinh học dinh dưỡng và vấn đề thức ăn trong quá trình ương cá thát lát, đặc biệt

giải quyết được nguồn thức ăn cần thiết cho cá Còm, hạn chế được tình trạng ô
nhiễm môi trường do sử dụng cá tạp, mà còn tăng thêm thu nhập cho người sản
xuất Artemia (nhờ tiêu thụ cả hai sản phẩm là trứng bào xác và sinh khối).
1.2 Mục tiêu:
Tìm hiểu khả năng sử dụng các lọai sinh khối Artemia khác nhau để ương
cá thát lát Còm từ hương lên giống.
1.3 Nội dung:
- Theo dõi tỷ lệ sống
7
- Theo dõi tốc độ tăng trưởng của cá thát lát Còm giai đọan ương từ
hương lên giống khi sử dụng các lọai Artemia sinh khối (tươi sống, đông lạnh)
so với thức ăn truyền thống.
1.4 Thời gian và địa điểm
Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 08-04-09 đến ngày 18-05-09.
Địa điểm thực hiện tại Trại thực nghiệm Vĩnh Châu, thuộc Khoa Thủy
sản, Đại học Cần Thơ (ấp Biển Dưới, xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu, tỉnh
Sóc Trăng).


Hình 2.1 Cá Thát Lát Còm

9
Theo Nguyễn Chung (2006) thì cá Thát Lát Còm là loài cá nước ngọt có
xương, hình lưỡi dao bề ngang thân dẹp nhưng rộng bề bản lưng, thân gồ ở
phần thân và nhỏ ở phần đầu và đuôi. Toàn thân phủ vảy nhỏ mịn nhưng vảy
đường bên chạy giữa thân tương đối lớn. Miệng tương đối to và gạch miệng kéo
dài đến trước ổ mắt. Vây hậu môn dính liền với vây đuôi tạo thành lớp viền
mỏng. Vây lưng nhỏ và trong.
Cá có màu xám sáng, nhưng cá có màu sậm hơn ở lưng kéo dài tới đầu,
trắng bạc ở bụng, phía dưới viền xương nắp mang màu sáng hơn.
Theo Dương Nhựt Long (2003) cá trưởng thành có 4 – 10 đốm đen, viền
trắng nằm dọc trên vây hậu môn. Lúc cá còn nhỏ thân có 10 – 15 sọc đen ngang
thân. Khoảng hai tháng tuổi phần dưới của các sọc này xuất hiện các đốm nâu
tròn. Cá càng lớn sọc mờ dần rồi mất hẳn.
Phần đầu cá chỉ chiếm 1/8 so với cơ thể cá nên chế biến lấy thịt làm chả
cá xuất khẩu rất có hiệu quả kinh tế so với các loài cá khác, thường chỉ khoảng
1,6 – 1,7 kg cá nguyên liệu được 1 kg thịt chả cá (Nguyễn Chung, 2006).
2.1.3. Phân bố
Cá Thát Lát Còm phân bố rộng, chúng có mặt khắp các thủy vực, từ thượng
lưu đến hạ lưu sông Chaophraya và sông Mêkông. Ở Myanma, TháiLan, Lào cá có
số lượng quần đàn tương đối nhiều, còn ở Campuchia, Việt Nam chỉ rải rác
(Nguyễn Chung, 2006).
Cá Thát Còm phân bố ở Borneo, Sumatra, Lào, M Lai, Thái Lan, Miến
Điện, Campuchia. Ở nước ta cá sống chủ yếu ở một số nhánh sông lớn đổ vào
sông Mêkông (thuộc Tây Nguyên) và các thủy vực thuộc sông Cửu Long
(Dương Nhựt Long, 2003).
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá Thát Lát
Còm sống ở kênh, rạch, đồng, ruộng,…Có thể chịu đựng được môi trường thiếu
oxy nhờ có cơ quan hô hấp phụ thở bằng khí trời. Cá ăn động vật tươi sống chủ

So với cá cùng họ thì cá Thát Lát Còm có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn
cá thát lát thường (sau 12 tháng nuôi cá thát lát thường có thể đạt 100 g/con
(Dương Nhựt Long, 2004)). Thời gian từ lúc trứng thụ tinh, ấp nở là 7 ngày, cá
bột mới nở đến cá con phải mất từ 35 – 40 ngày mới đạt 3 – 4cm, cá giống lớn
chậm phải kéo dài thêm 30 – 40 ngày mới đạt chiều dài 12 – 15 cm, về sau cá
sẽ lớn nhanh, cá càng lớn thì thịt càng dai và thơm. Cá đạt chiều dài 15 cm ở 3
tháng tuổi, từ giai đọan này cá tăng trọng nhanh mức tiêu thụ thức ăn giảm, mỗi
năm có thể tăng trọng 1- 1,2 kg/con.
Đặc tính của cá Thát Lát Còm là sống thành quần đàn, khi cá lớn thì đặc
tính này vẫn còn nhưng cá tự phá bầy săn mồi riêng lẻ. Trong ao nuôi mật độ cao
có thể thấy được sự phân đàn rõ sau 2 tháng nuôi. Những con cá cạnh tranh thức
11
ăn kém sẽ không lớn được, cơ thể gầy yếu và chết. Cá hoạt động mạnh về ban
đêm do đó cần chú ý đặc điểm này trong quá trình nuôi để chăm sóc cá tốt hơn.
Điểm nổi bật của cá Thát Lát Còm là khi nuôi thương phẩm cá nuôi càng
lâu thì càng hiệu quả kinh tế, tiêu tốn thức ăn giảm (Nguyễn Chung, 2006).
Trước lúc cá đạt trạng thái thành thục sinh dục lần đầu cá chủ yếu tăng nhanh
về kích thước, sau khi đạt trạng thái thành thục sinh dục, tốc độ tăng trưởng về
chiều dài giảm nhường bước cho sự tăng trưởng về khối lượng (Phạm Phú
Hùng, 2007).
2.1.6. Đặc điểm sinh sản
Cá Thát Lát Còm một năm tuổi trưởng thành nặng 1 – 1,2 kg. Cá thành
thục sinh sản là khoảng 2kg. Cá trưởng thành nhìn bề ngoài khó phân biệt đực
cái.
Trong thiên nhiên mùa sinh sản cá Thát Lát Còm là suốt mùa mưa từ
tháng 5 – 11. Cá cái và cá đực tự bắt cặp giao phối, cá cái tiết ra trứng, cá đực
phun bắn tinh trùng để thụ tinh, trứng có kích thước 2 – 3mm. Trứng thụ tinh và
hút trương nước bám vào các hốc đá và các giá thể thủy sinh vật. Cá đực bảo vệ
trong suốt thời gian ấp trứng cho đến khi cá nở thành cá bột và lúc này cá đực
rất hung dữ và có thể tấn công những con cá khác xâm nhập đến khu vực cá

C
Độ trong từ 10 – 20 cm
Độ mặn tối đa 6ppt
Màu nước xanh đọt chuối
Độ pH: 6,5 – 8,6
Oxy từ 3 – 5 mg/l
CO
2
3 – 10 mg/l
NH
4
+
; 1 mg/l
Hữu cơ: 10 – 20 mg O
2
/l
PO
4
: 0,5 mg/l
Cá Thát Lát Còm sống chủ yếu ở nước ngọt, có thể sinh trưởng và phát
triển ở độ mặn dưới 6ppt. Nếu nhiệt độ dưới 15
o
C kéo dài cá sẽ không ăn, sức
đề kháng yếu dễ bị mầm bệnh và ký sinh trùng tấn công dễ gây tử vong
(Nguyễn Chung, 2006).
Theo Dương Nhựt Long (2003) trong điều kiện tự nhiên cá Thát Lát
Còm sống ở tầng giữa và tầng đáy. Ban ngày chúng thường ẩn nấp trong đám
thực vật thủy sinh. Ban đêm cá hoạt động nhiều hơn, cá bơi lội chậm, nhẹ
nhàng, vây hậu môn hoạt động liên tục như làn sống. Cá thích sống môi trường
có nhiều thực vật thủy sinh lớn, nước trung tính pH dao động 6,5 – 7, nhiệt độ

Mỗi ngày cho ăn 3 lần, lượng thức ăn buổi sáng là 1/5, trưa là 1/5 và chiều là
3/5 tổng lượng thức ăn cả ngày.
Quản lý và chăm sóc
Cách cho ăn:
Thức ăn là động vật tươi sống:
- 7 ngày đầu cho ăn trứng nước, mỗi lần cho ăn 100 g/vạn cá/ngày
- Từ ngày thứ 8 đến ngày 30 cho ăn trùn chỉ, thức ăn để trong đĩa đặt
trong đáy bể và chỉ cung cấp khi quan sát thấy thức ăn trong đĩa đã hết .
Thức ăn nhân tạo:
Lòng đỏ trứng luộc chín, bóp nhuyển hòa tan trong nước và rải đều trong
đáy bể.
14
Thức ăn chế biến được nấu chín và bóp nhuyễn hòa tan trong nước. Khi
cho ăn rãi đều trên mặt bể và khi cá được 8 ngày tuổi vò thành viên cho vào đĩa
đặt ở đáy bể .
Thay nước :
Trong quá trình ương, chỉ cấp nước thêm khi nước bị giảm do bốc hơi.
Khi bể bị nhiễm bẩn, phải rút bớt nước trong bể còn lại 1/3 sau đó thêm nước
mới vào tránh làm ảnh hưởng đến cá ương .
2.2.2 Ương cá trong ao
Điều kiện ao ương:
Nguồn nước:
Ao ương phải có nguồn nước sạch không bị ô nhiễm, điều kiện cấp
nước thuận lợi.
Nhiệt độ nước từ 26-30
0
C, pH từ 7 - 8,5, oxy hòa tan 3mg/lít trở lên, độ
đục từ 20-30 cm.
Ao ương:
Ao hình chữ nhật, tỷ lệ chiều dài và chiều rộng là 3:1 hoặc 4:1, có điều

Cho ăn 3 ngày dầu với liều lượng 1 trứng/vạn cá/ngày. Mỗi ngày cho ăn
3 lần: vào buổi sáng 7 giờ, buổi trưa vào 12 giờ và buổi chiều vào 17 giờ.
Lượng thức ăn buổi chiều bằng 2/3 lượng thức ăn cả ngày.
Cám mịn + bột cá xay mịn:
Cho ăn theo tỷ lệ 70% bột cá và 30% cám mịn. Khẩu phần ăn 100g/vạn
cá/ngày sau đó tăng dần hoặc giảm theo sự bắt mồi của cá. Mỗi ngày cho ăn 3
lần, sáng 1/5, trưa 1/5và chiều 3/5.
Quản lý chăm sóc
Cách cho ăn:
Lòng đỏ trứng gà luộc chín, bóp nhuyễn, hòa tan trong nước và rải đều
quanh ao nơi đặt chà.Thức ăn chế biến được nấu chín và bóp nhuyễn hòa tan
trong nước. Khi cho ăn rải quanh ao và khi cá được 8 ngày tuổi vò thành viên
rải nơi đặt chà.
Kiểm tra hoạt động của cá và ao nuôi:
Cá thường có tập tính sống ẩn nấp thành từng nhóm nơi đặt chà. Sau khi
ương 4 tuần tuổi cá bắt đầu ngoi lên mặt nước thở khí trời.
Nếu quan sát thấy cá nổi trên mặt nước, vớt bỏ và tiến hành xử lý ao
nuôi. Màu nước ao phải được theo dõi thường xuyên (màu đọt chuối là màu
thích hợp cho ao nuôi), nếu ao ương bị nhiễm bẩn do tảo nở hoa phải tiến hành
thay 1/3 nước mới. Khi bơm nước mới tránh làm xáo trộn ao nuôi.
Sau khi ương 30 ngày cá đạt chiều dài 3-4 cm.
Tỷ lệ sống:
Tỷ lệ sống của cá tùy thuộc vào chất lượng cá bột và chất lượng thức ăn
cung cấp. Tỷ lệ này đạt cao nhất trong điều kiện cho cá ăn thức ăn là động vật
sống.

16
Bảng 2.1. Tỷ lệ sống của cá thát lát sau 30 ngày ương (theo Nguyễn Thành
Trung và ctv., 2000)


77,3 ± 5,67

Thu hoạch và vận chuyển cá giống :
Trước khi thu hoạch để tránh hao hụt và đảm bảo sức khỏe cho cá phải
thực hiện luyện cá trước khi đánh bắt 5-7 ngày và lúc sáng sớm hoặc chiều
mát.Việc đánh bắt cá cần thực hiện nhẹ nhàng.
Cá sau khi đánh bắt được giữ trong bể hoặc giai, sau đó được tấm trong
nước muối nồng độ 2-3 % thời gian 15-20 phút.
Vận chuyển cá có thể bằng xô có sục khí, hoặc túi nilon bơm oxy
(Nguyễn Thành Trung, Trần Ngọc Nguyên và ctv, 2005).
2.3 Một số kết quả ương cá Thát Lát
Theo Dương Nhựt Long (2003), mật độ ương tốt nhất là 150-200 cá
bột/m
3
. Trong quá trình ương sử dụng lòng đỏ trứng gà đã luộc chín kết hợp bột
cá mịn và sửa đậu nành để cung cấp cho cá ương với khẩu phần dao động là 10-
30%/trọng lượng thân/ngày.
Theo Nguyễn Thành Trung, Trần Ngọc Nguyên (2000), cá bột sau khi
nở 3-4 ngày, noãn hoàng bắt đầu teo nhỏ lại, có thể vận chuyển cá bột đem đi
ương, mật độ ương trên bể ximăng là 200 con/m
2
. Khi ương cá 3 ngày đầu
(ngày thứ 5 đến thứ 7 sau khi nở) cho ăn bằng lòng đỏ trứng hoặc thức ăn chế
biến bóp nhuyển, khi cá được 8 ngày tuổi cho ăn bằng thức ăn chế biến vò
thành viên (đối với lô bố trí thức ăn chế biến), và trùn chỉ (đối với lô cho ăn
thức ăn tươi sống), và bón phân (đối với lô thức ăn tự nhiên). Kết quả thí
nghiệm cho thấy: thức ăn tươi sống cho tỷ lệ sống cao nhất 92%, kế đến là lô
thức ăn chế biến, lô thức ăn tự nhiên cá có kích thước nhỏ nhất và tỷ sống thấp
nhất. Theo tác giả có thể do lượng thức ăn tự nhiên trong thí nghiệm không đủ
cho nhu cầu thức ăn của cá. Cá bột khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài có thể ăn được

(Notopterus chitala) là loài cùng giống với cá thát lát đã sinh sản nhân tạo thàng
công từ năn 1999. Theo Lê Quang Nha (1999), cá bột cá cườm 5 ngày tuổi dù
còn nõan hòang nhưng cá đã bắt mồi bên ngoài, từ ngày thứ 10 cá ăn được trùn
chĩ. Theo Nguyễn Bá Cường và ctv, (2000), cá cườm sau khi nở 72 giờ có thể
chuyển đi ương, mật độ ương là 400con/m
2
, thức ăn là phiêu sinh vật từ ngày
thứ nhất, sau khi hết nõan hòang đến ngày thứ 7, từ ngày thứ 8 bắt đầu cho ăn
18
trùn chỉ đến ngày 30, sau 30 ngày ương cá đạt chiều dài bình quân từ 39-42cm,
tỷ lệ sống đạt từ 73-84%.
2.4. Vài nét sơ lược về Artemia
2.4.1 Artemia
Artemia là tên Latin của một loài giáp xác nhỏ chuyên sống ở vùng nước
mặn có biên độ muối rộng (từ vài ‰ đến 250‰ như ở ruộng muối). Trong tự
nhiên người ta thấy có sự xuất hiện của quần thể Artemia những đầm, hồ nước
mặn.
Artemia được biết đến vào những năm đầu thập niên 30 khi chúng được
xác định là một loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao cho việc ương nuôi các
giống loài thủy sản như tôm cá, nhuyễn thể.
Nauplii
Nauplii
(0.5 mm)
(0.5 mm)
Juveniles (3
Juveniles (3
-
-
5 mm)
5 mm)

thích hợp, là nguồn thức ăn rất tốt trong ương nuôi ấu trùng tôm cá. Trứng nghỉ
19
tồn tại quanh năm với khối lượng lớn ven bờ các vùng đầm, hồ nước mặn các
vùng ruộng muối ở năm châu lục (Persoone và Sorgeloos, 1980 được trích bởi
Nguyễn Văn Hòa, 2007). Sau khi thu họach và chế biến trứng nghỉ có thể được
sử dụng bất cứ lúc nào theo yêu cầu bằng cách ấp nở chúng trong nước biển,
sau 24 giờ, ấu trùng Artemia mới nở có thể dùng ngay làm thức ăn cho đa số ấu
trùng các loài tôm cá.
Ngoài ra Artemia tiền trưởng thành và trưởng thành (thành phần chính
tạo nên là sinh khối), có giá trị dinh dưỡng cao hơn Artemia mới nở từ trứng
(Sorgeloos, 1980; Naessens ctv., 1997; Wouters ctv., 1999 được trích dẫn bởi
Nguyễn Văn Hòa, 2007) và được sử dụng làm thức ăn phổ biến trong các trại
giống, trại ương hoặc nuôi vỗ tôm cá bố mẹ.
Artemia trưởng thành có giá trị dinh dưỡng rất cao (lớp vỏ giáp mỏng hơn
1µm), chiếm 60% lượng đạm và rất giàu amino acid tính trên trọng lượng khô.
Thêm vào đó, Artemia còn chứa một lượng đáng kể về vitamin, kích dục tố, sắc
tố, (Sorgeloos et al., 1987). Người ta khám phá rằng sử dụng sinh khối Artemia
trưởng thành có thể gây phát dục cho tôm bố mẹ mà không cần cắt mắt
(Sorgeloos, 1987; Tackaert và Sorgeloos, 1991 được trích bởi Nguyễn Văn Hòa,
2007).
Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh việc sử dụng Artemia sinh khối
để nuôi vỗ tôm cá bố mẹ đã kích thích sự thành thục của buồng trứng, gia tăng
số lần đẻ và cải thiện chất lượng ấu trùng (Browdy el al., 1989; Naessens et al.,
1997; Wouter et al., 1999
a
theo trích dẫn của Wouter et al., 2001 được trích bởi
nguyễn Văn Hòa, 2007).
Sinh khối Artemia còn được sử dụng để làm thành phần hoặc chất kích
thích trong thức ăn chế biến cho ấu trùng tôm cá (Leger et al., 1986).
Tuy nhiên, khá phổ biến là vịêc sử dụng hòan tòan sinh khối đông lạnh

2
-
,
NH
4
+
, cân điện tử, thước đo, nguồn nước giếng. Hóa chất xử lý nước: EDTA,
chlorine, thuốc thử Chlor và một số trang thiết bị khác.

Hình 3.3 Một số thiết bị thí nghiệm Hình 3.3 Một số thiết bị thí nghiệm
3.2.Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí gồm 15 xô nhựa (60 lít/xô) chứa 30 lít nước. Bố
trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 lọai thức ăn khác nhau, tương ứng với
5 nghiệm thức (NT) và 3 lần lập lại. Mật độ thả giống cá Thát Lát Còm là
1con/lít.
Các thí nghiệm được bố trí như sau:
Nghiệm thức I (NT I): Artemia sinh khối tươi sống.
Nghiệm thức II (NT II): Artemia đông lạnh.
Nghiệm thức III (NT III): 50% cá tạp + %0% Artemia sinh khối tươi sống.
Nghiệm thức IV (NT IV): 50% cá tạp + %0% Artemia sinh khối đông lạnh.


Hình 3.4 Đo chiều dài cá thí nghiệm
23
Định kỳ kiểm tra tốc độ tăng trưởng của cá bằng cách cân 10 con cá /xô.
Khi kết thúc thí nghiệm cá được cân, đo từng con để xác định mức độ
sinh trưởng của cá ở từng nghiệm thức.
Các yếu tố thủy lý hóa như: Nhiệt độ, pH được đo bằng máy đo nhiệt độ
và pH (2 lần/ngày lúc 7
h
và 14
h
), oxy hòa tan được đo bằng máy đo oxy (1
lần/ngày lúc 7
h
). NO
2
-
và NH
4
+
được kiểm tra định kỳ 3 ngày/lần bằng bộ test
kid.
3.3 Các công thức tính toán và phương pháp xử lí số liệu
Các công thức tính tóan

=

LnWf - LnWi
Tx

100
DWG

(g/ngày)
=
Wf - Wi
T
24
Phần 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1.Các yếu tố môi trường
Các yếu tố môi trường như: Nhiệt độ, pH, Oxy hòa tan, NO
2
-
, NH
4
+

ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của động vật thủy sản. Vì vậy việc theo dõi
các yếu tố này là hết sức cần thiết để đánh giá chính xác ảnh hưởng của thức ăn
lên sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá.

triển của cá trong khoảng từ 6,5 – 9. pH thấp hay quá cao cũng ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng và sinh sản của cá.
25
Trong suốt quá trình ương, kết quả cho thấy sự biến động pH trung
bình ở các nghiệm thức tương đối ổn định và dao động từ 7.84 - 7.97 (Bảng
2), mức pH này do nguồn nước cấp cho bể quyết định và nằm trong khoảng
thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá.
Bảng 4. 2 Các yếu tố thủy hóa trong xô ương cá Thát Lát Còm
Nghiệm
thức
pH
(Sáng)
pH
(Chiều)
Oxy (ppm)
(Sáng)
NH
4
+
(mg/l)
NO
2
-
(mg/l)
NT I 7,85 ± 0,01 7,98 ± 0,01 5,2 ± 0,0 0,5 - 5 0,5 - 5
NT II 7,84 ± 0,02 7,97 ± 0,02 5,2 ± 0,1 0,5 - 5 0,5 - 5
NT III 7,84 ± 0,00 7,97 ± 0,01 5,2 ± 0,0 0,5 - 5 0,5 - 5
NT IV 7,84 ± 0,00 7,97 ± 0,01 5,2 ± 0,0 0,5 - 5 0,5 - 5
NT V 7,84 ± 0,02 7,97 ± 0,02 5,2 ± 0,1 0,5 - 5 0,5 - 5
Ghi chú:Các giá trị pH, oxy được ghi trên bảng là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.

và NH
4
+
trong nước phụ thuộc vào nhiệt độ và pH của
nước. Khi nhiệt độ và pH của nước gia tăng, hàm lượng NH
3
trong nước sẽ gia
tăng và ngược lại.
NH
3
+ H
2
O ↔ NH
4
+
+ OH
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status