Báo cáo tốt nghiệp: Nuôi thu sinh khối tảo Nannochloropsis oculata và sử dụng các loại thức ăn khác nhau để nuôi luân trùng Brachionus plicatlis làm thức ăn cho ấu trùng cá biển - Pdf 75

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
----------
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:

Nuôi thu sinh khối tảo Nannochloropsis oculata và sử
dụng các loại thức ăn khác nhau để nuôi luân trùng
Brachionus plicatlis làm thức ăn cho ấu trùng cá biển
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN.................................................................................................5
1.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng luân trùng trong nước và trên thế giới.......................5
1.1.1. Trên thế giới......................................................................................................................5
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................................................24
2.1. Đối tượng, thời gian và phương pháp nghiên cứu............................................................24
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu:...................................................................................................24
Chương 4 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN..................................................................45
4.1. Kết luận..............................................................................................................................45
4.1.1.Tảo N. Oculata.................................................................................................................45
Để đáp ứng nhu cầu về thức ăn cho các đối tượng nuôi thuỷ sản phù hợp với giai
đoạn phát triển kinh tế theo phương hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, ngoài
việc cải tạo môi trường nước, bón phân, gây nuôi thức ăn tự nhiên, việc chế biến thức
ăn tổng hợp, nuôi thức ăn sống để cung cấp cho cá và cảc thuỷ sản khác là một nhu
cầu rất cần thiết hiện nay.
2
Thức ăn tươi sống là loại thức ăn thích hợp ở giai đoạn ấu trùng của nhiều đối
tượng nuôi và ít gây ô nhiễm môi trường nuôi. Vì vậy việc nghiên cứu sử dụng thức
ăn tươi sống trong sinh sản nhân tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình sản
xuất.
Vi tảo biển được coi là thức ăn tốt nhất cho các đối tượng nuôi, ngoaì thành phần

- Xác định mật độ tảo
- Sử dụng tảo N. oculata nuôi luân trùng
- Thử nghiệm một số sản phẩm mới để nuôi luân trùng
- Xác định, so sánh mật độ nuôi luân trùng nuôi.
Mặc dù rất cố gắng nhưng do mới làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa
học, vốn kiến thức còn hạn chế và thời gian có hạn nên báo cáo không tránh khỏi
nhiều thiếu sót. Kính mong sự thông cảm và đóng góp của quý thầy cô và các bạn
sinh viên để luận văn được hoàn thiện hơn
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng luân trùng trong
nước và trên thế giới.
1.1.1. Trên thế giới.
Mặc dầu luân trùng Brachionus plicatilis lúc đầu được xác định là vật gây hại
trong các ao nuôi cá chình ở những năm 50 và 60 của thế kỷ trước. Nhưng cũng
chính thời gian này, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã sớm nhận ra rằng loài luân
trùng này có thể sử dụng làm sinh vật thức ăn sống thích hợp cho các giai đoạn ấu
trùng ban đầu của cá biển. Việc sử dụng thành công luân trùng trong các hoạt động
của trại sản xuất giống cá tráp đỏ Pagrus major thương mại đã khuyến khích việc
nghiên cứu để phát triển các kỹ thuật nuôi hàng loạt luân trùng.
Từ năm 1956, nhiều đặc diểm sinh thái học, biến động quần đàn, sinh học sinh
sản, dinh dưởng cá thể đã được thực hiện trong phòng thí nghiệm và ngoài thực địa.
Sau 25 năm nghiên cứu (1956-1981), luân trùng đã đựơc sử dụng khá phổ biến trên
thế giới và đã được ứng dụng thành công, làm thức ăn cho hơn 60 loài cá biển và 18
loài giáp xác (Dhert, 1997 trích bởi Như Văn Cẩn, 1999).
Trên thế giới có nhiều phương pháp nuôi luân trùng khác nhau. Tuy nhiên có một
số phương pháp phố biến sau:
- Nuôi theo phương pháp thu hoạch toàn bộ.
- Nuôi theo phương pháp thu hoạch bán liên tục.
- Nuôi bằng hệ thống tuần hoàn.

cá thể ít nhất là 20 ngày (Hirata, 1979 trích bởi Cái Ngọc Bảo Anh, 1999).
1.1.2. Ở Việt Nam.
Tại Việt Nam các vấn đề nghiên cứu về luân trùng đã phổ biến nhiều.
Nguyễn Quyền và ctv (1976-1980) đã nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học
luân trùng như mùa vụ xuất hiện trong tự nhiên, ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn.
thức ăn và đã thử áp dụng hệ thống bể nuôi tuần hoàn trong nuôi sinh khối luân trùng.
6
Nguyễn Thị Nga (1998) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của luân trùng,
ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên sinh truởng và phát triển của luân trùng làm
cơ sở cho nuôi sinh khối và bảo quản chúng.
Năm 1999 trong khuôn khổ dự án hợp tác nghiên cứu sản xuất giống cá chẽm
Lates calcarifer do tổ chức NUFU tài trợ, Cái Ngọc Bảo Anh đã nghiên cứu về ảnh
hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến nuôi sinh khối và chất lượng luân trùng
Brachionus plicatilis dòng nhỏ nuôi trong bể kích thước lớn. Như Văn Cần nghiên
cứu về khả năng thích nghi và đánh giá chất lượng luân trùng Brachionus plicatilis
dòng lớn, nuôi sinh khối tại Nha Trang bằng một số loại thức ăn khác nhau.
1.2. Đặc điểm sinh học cua luân trùng.
1.2.1.Vị trí phân loại.
Ngành Nemathelminthes
Lớp Rotatoria
Bộ Monogonota
Họ Brachionidae
Giống Brachionus
Loài B. plicatilis Muller, 1786
1.2.2. Đặc điểm hình thái.
Cơ thể luân trùng được phân biệt thành 3 phần khác nhau: đầu, thân và chân.
- Phần đầu: mang bộ máy tiêm mao, là cơ quan giúp cho sự vận động và tạo
dòng nước đưa thức ăn vào miệng. Phần trên cùng của đầu là cơ quan cảm
giác.
- Phần thân: có lớp vỏ cuticul không thấm nước, chỉ bị phân huỷ khi luân

Ngọc Bảo Anh, 1999). Thông thường cá thể mới nở trưởng thành sau 0.5 - 1,5 ngày
và bắt đầu đẻ trứng khoảng 4 h/lần. Một cá thể cái có thể sinh sản khoảng 10 thế hệ
trong suốt vòng đời.
1.2.5 Về sinh sản.
Vòng đời của Brachionus plicatilis có thể khép lại bằng hai phương thúc sinh sản:
Sinh sản đơn tính và hữu tính.
Trong giai đoạn sinh sản đơn tính của con cái, các con cái vô phối đơn tính sản
sinh ra các trứng đơn tính (thể lưỡng bội 2n), các nhiễm sắc thể phát triển và nở thành
các con cái vô phối đơn tính.
Trong những điều kiện môi trường đặc thù, con cái chuyển sang sinh sản hữu tính
phức tạp hơn và trở thành con cái vô phối đơn tính và lưỡng tính. Mặc dầu cả hai con
8
này không thể phân biệt được về hình thái, nhưng các con cái vô phối lưỡng tính sản
sinh ra các trứng đơn bội( các nhiễm sắc thể n). Các ấu trùng nở từ các trứng lưỡng
tính không thụ tinh này phát triển thành các con đực đơn bội.
Những con đực này có kích thước khoảng 1/4 kích thước con cái, cũng không có
ống tiêu hoá và bàng quang nhưng lại có một tinh hoàn đơn chứa đầy tinh trùng. Các
trứng lưỡng tính có kích thước nhỏ hơn nhiều sẽ nở thành con đực; trong khi các
trứng lưỡng tính thụ tinh thì lớn hơn và có một lớp bên ngoài và hơi có dạng hạt.
Các trứng này là những trứng nghỉ và chúng chỉ phát triển và nở thành các con cái
vô phối đơn tính sau khi tiếp xúc với các điều kiện môi trường đặc thù. Điều này có
thể là do kết quả của những thay đổi về điều kiện môi trường, cuối cùng đã tạo ra
những thay đổi về nhiệt độ, độ mặn hoặc các điều kiện thức ăn thay đổi. Cần nhấn
mạnh rằng mật độ luân trùng của quần thể cũng đóng một vai trò quan trọng trong
việc quyết định phương thức sinh sản. Mặc dầu chưa hoàn toàn hiểu hết cơ chế,
nhưng nói chung người ta tin rằng việc sản xuất các trứng nghỉ là một chiến lược của
quần thể để sống sót qua các điều kiên môi trường không thuận lợi như hạn hán hoặc
rét.
1.2.6.Giá trị dinh dưỡng và vai trò làm thức ăn của luân trùng.
Giá trị dinh dưỡng của các “vật mồi” được quyết định bởi khả năng thoả mãn của

- Ảnh hưởng của các yếu tố vô sinh.
Trong các yếu tố vô sinh , yếu tố nhiệt độ và độ mặn là quan trọng nhất.
 Nhiệt độ:
Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển của quần thể , tỷ lệ trứng, tốc độ
tiêu thụ thức ăn, sự hình thành và tỷ lệ nở của trứng nghỉ, kích thước, thời điểm xuất
hiện luân trùng trong tự nhiên mà còn tác động đến thành phần sinh hoá của luân
trùng.
Theo Olsen và ctv (1993) khi nhiệt độ thấp luân trùng tiêu thụ thức ăn chậm, tốc
độ phát triển quần đàn thấp nhưng lại duy trì được hàm lượng lipit và carbohydrate
trong thời gian dài (Như Văn Cẩn, 1999). Ngược lại, nhiệt độ cao tiêu thụ thức ăn
nhanh, tốc độ tăng sinh khối nhanh (do tăng hoạt động sinh sản) nhưng nuôi luân
10
trùng với nhiệt độ cao đi kèm với chi phí nhiều hơn cho thức ăn và thành phần sinh
hoá cũng biến đổi rất nhanh, đặc biệt khi biên động về thức ăn.
Sự thích ứng nhiệt độ cũng phụ thuộc vào từng dòng, dòng nhỏ có nhiệt độ cực
thuận nằm trong khoảng 28-35
0
C, trong khi đó dòng lớn là 18-25
0
C (Fukusho, 1989
trích bởi Cái Ngọc Bảo Anh).
Bảng 1.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt động sinh sản của Brachionus
plicatlis (Theo Ruttner-Kolisko, 1972)
Nhiệt đô (
0
C) 15 20 25
Thời gian để phát triển phôi (ngày) 1,3 1,3 0,6
Thởi gian đẻ các con cái non đẻ lần đầu (ngày) 3,0 1,9 1,3
Khoảng thời gian giữa hai lần đẻ (giờ) 7,0 5,3 4,0
Tuổi thọ (ngày) 15 10 7

sinh lý của các luân trùng. Ví dụ, người ta chứng minh rằng điều kiện thức ăn của
luân trùng Brachionus plicatilis có thể được đo bằng hoạt động sinh lý và phản ứng
của nó đối với dòng vi khuẩn gây bệnh được chọn lựa (Vibrio anguillarum TR27):
dòng vi khuẩn V.anguillarum được xử lý ở nông độ 10
6
-10
7
CFU/mL (đơn vị hình
thành tập đoàn) đã ảnh hưởng xấu đến các luân trùng nuôi bằng khẩu phần thức ăn
tối ưu không bị ảnh hưởng bởi dòng vi khuẩn này.
Trùng tiêm mao.
Trong sản xuất, sự có mặt của số lượng ít trùng tiêm mao thì không phải là một
vấn đề gì quá nghiêm trọng, nhưng với số lượng lớn có thể dẫn đến việc giảm đột
ngột mật độ và khả năng thu sinh khối luân trùng.
Các trùng tiêm mao Halotricha và Hypotricha như Uronema sp và Euplotes sp là
những loài không mong muốn trong nuôi thâm canh vì chúng cạnh tranh thức ăn với
các luân trùng (Lavens và Sorgeloos, 1996).
Sự suất hiện những trùng tiêm mao này nói chung là do các điều kiện ở mức tối
ưu dẫn đến kết quả làm cho luân trùng hoạt động kém và làm tăng cơ hội cạnh tranh
thức ăn. Các trùng tiêm mao sản sinh ra các chất chuyển hoá làm tăng hàm lượng
12
NO
2
-N trong nước và làm giảm độ pH. Tuy nhiên chúng có tác dụng tích cực trong
việc loại bỏ vi khuẩn và các chất mùn bã ra khỏi bể nuôi. Việc cho thêm một nồng độ
thấp 20 mg/L foocmalin vào bể nuôi cấy tảo, 24 giờ trước khi cấy luân trùng có thể
làm giảm đáng kể sự nhiễm bẩn các động vật đơn bào. Sàng lọc và làm sạch các luân
trùng bằng các lưới lọc thực vật phù du (<50
m
µ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status