Nuôi thu sinh khối tảo Nannochloropsis oculata và sử dụng các loại thức ăn khác nhau để nuôi luân trùng Brachionus plicatlis làm thức ăn cho ấu trùng cá biển - Pdf 67

M Ở Đ ÀU
Để đáp ứng nhu cầu về thức ăn cho các đối tượng nuôi thuỷ sản phù hợp với giai
đoạn phát triển kinh tế theo phương hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, ngoài
việc cải tạo môi trường nước, bón phân, gây nuôi thức ăn tự nhiên, việc chế biến thức
ăn tổng hợp, nuôi thức ăn sống để cung cấp cho cá và cảc thuỷ sản khác là một nhu
cầu rất cần thiết hiện nay.
Thức ăn tươi sống là loại thức ăn thích hợp ở giai đoạn ấu trùng của nhiều đối
tượng nuôi và ít gây ô nhiễm môi trường nuôi. Vì vậy việc nghiên cứu sử dụng thức
ăn tươi sống trong sinh sản nhân tạo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình sản
xuất.
Vi tảo biển được coi là thức ăn tốt nhất cho các đối tượng nuôi, ngoaì thành phần
dinh dưỡng là các vitamin thiết yếu, tảo biển còn chứa một hàm lượng đáng kể các
acid béo không no HUFA n – 3, và những acid béo này có thể dễ dàng trở thành
nguồn dinh dưỡng cho ấu trùng cá biển thông qua luân trùng là loại thức ăn sống
trung gian. Trong số các loài tảo biển hiện đang được áp dụng rộng rãi, tảo
Nannochloropsis oculata có chất lượng khá tốt và được sử dụng nuôi luân trùng ở
nhiều nước trên thế giới.
Nuôi luân trùng là một khâu không thể thiếu của nhiều trại sản xuất giống nhân tạo
các đối tượng hải sản. Đặc biệt ở giai đoạn lấy dinh dưỡng ngoài đầu tiên của ấu
trùng các đối tượng nuôi hải sản như: cá, giáp xác, và động vật thân mếm. Luân trùng
là loại thức ăn tốt nhât cho nhiều loại ấu trùng vì chúng có ưu điêm đặc biệt: giá trị
dinh dưỡng cao, kích thước phù hợp,tốc độ bơi chậm, khả năng nuôi sinh khối
cao….. Ngoài ra, luân trùng dễ thích nghi với môi trường, có khả năng chịu đựng đối
với sự biến động lớn của độ mặn.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, sự thành công của các quy trình sản xuất
giống cua xanh Scylla serrata, cá chẽm Lates calcarifer, cá mú Epinephelus sp.. đã
đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với việc sản xuất thức ăn sống, đặc biệt tại các cơ
sở sản xuất giống đại trà, nhằm cung cấp số lượng con giống lớn cho nhu cầu nuôi
thương phẩm.
1
Xuất phát từ yều cầu thực tế trên, được sự đồng ý của bộ môn Hải Sản – Khoa

sản, dinh dưởng cá thể đã được thực hiện trong phòng thí nghiệm và ngoài thực địa.
Sau 25 năm nghiên cứu (1956-1981), luân trùng đã đựơc sử dụng khá phổ biến trên
thế giới và đã được ứng dụng thành công, làm thức ăn cho hơn 60 loài cá biển và 18
loài giáp xác (Dhert, 1997 trích bởi Như Văn Cẩn, 1999).
Trên thế giới có nhiều phương pháp nuôi luân trùng khác nhau. Tuy nhiên có một
số phương pháp phố biến sau:
- Nuôi theo phương pháp thu hoạch toàn bộ.
- Nuôi theo phương pháp thu hoạch bán liên tục.
- Nuôi bằng hệ thống tuần hoàn.
+ Nuôi theo phương pháp thu hoạch toàn bộ.
Đây là hình thức nuôi sinh khối được áp dụng sớm nhất trên thế giới. Luân trùng
được cấy vào môi trường có tảo đang phát triển ở mật độ cao (khoảng 10-20x10
6
tb/
ml).( Một điều chắc chắn rằng là các vi tảo biển là thức ăn tốt nhất cho luân trùng và
có thể cho năng suất rất cao nếu có sẵn tảo với khối lượng đủ kèm theo việc quản lý
thích hợp). Khi luân trùng sử dụng hết lượng tảo thì thu hoạch toàn bộ và dùng một
phần làm giống cho các đợt nuôi khác.
+ Nuôi theo phương pháp thu hoạch bán liên tục.
3
Luân trùng được thả với mật độ thấp trong các bể tảo nhưng khi tảo được sử dụng
hết, luân trùng được tiếp tục cho ăn bằng men bánh mì hay nguồn tảo từ bên ngoài.
Khi mật độ luân trùng tương đối cao, thay vì thu hoạch toàn bộ theo phương pháp
trên, người ta chỉ thu hoạch một phần thể tích sau đó bổ sung lượng nước mới vào.
Thể tích thu hoạch hàng ngày khoảng 10-30% thể tích nuôi tuỳ theo mật độ và tốc độ
tăng trưởng của quần đàn. Sau một vài lần thu hoạch, mật độ luân trùng có thể bị
giảm dần do sự tích tụ chất thải và thức ăn thừa bị phân huỷ, khi đó ta thu hoạch làm
thức ăn cho ấu trùng hay cấy sang bể mới.
+ Nuôi bằng hệ thống tuàn hoàn.
Nuôi luân trùng với mật độ cao thường dẫn đến sự ô nhiễm do phân huỷ thức ăn

Bộ Monogonota
Họ Brachionidae
Giống Brachionus
Loài B. plicatilis Muller, 1786
1.2.2. Đặc điểm hình thái.
Cơ thể luân trùng được phân biệt thành 3 phần khác nhau: đầu, thân và chân.
- Phần đầu: mang bộ máy tiêm mao, là cơ quan giúp cho sự vận động và tạo
dòng nước đưa thức ăn vào miệng. Phần trên cùng của đầu là cơ quan cảm
giác.
- Phần thân: có lớp vỏ cuticul không thấm nước, chỉ bị phân huỷ khi luân
trùng chết.
- Phần chân có dạng vòng, có khả năng co rút, phần tận cùng không phân
đốt với hai mấu chân tiết chất dính giúp cơ thể dính vào giá thể (Fukúho,
1981 trích bởi Cái Ngọc Bảo Anh, 1999).
Luân trùng có kích thước cơ thể nhỏ dao động từ 100-360
m
µ
, cơ thể có dạng
hình trứng dài và hơi dẹp. Bờ bụng trước của vỏ có 4 gai và có dạng u lồi, giữa có
khe hình chữ V. Bờ lưng trước có 6 gai hình tam giác và đỉnh nhọn . Cơ quan đặc
trưng của luân trùng là mề nghiền, có tác dụng trong việc nghiền các hạt được ăn.
1.2.3. Phân bố và dinh dưỡng của luân trùng
5
Luân trùng phân bố rộng nhiều nơi trên thế giới, ở nước ta phân bố ở ao, đầm…
với mật độ cao. Brachionus plicatilis là bọn động vật ăn lọc nên thức ăn chủ yếu là vi
tảo, vi khuẩn, mùn xác hữu cơ, vật thể lơ lửng trong nước.
1.2.4. Sinh trưởng và phát triển
Luân trùng sinh trưởng và phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố: độ mặn, nhiệt
độ, mật độ nuôi…
Bằng phương pháp nuôi nhân tạo xác định được một số chỉ tiêu sinh trưỏng sau:

vô phối đơn tính sau khi tiếp xúc với các điều kiện môi trường đặc thù. Điều này có
thể là do kết quả của những thay đổi về điều kiện môi trường, cuối cùng đã tạo ra
những thay đổi về nhiệt độ, độ mặn hoặc các điều kiện thức ăn thay đổi. Cần nhấn
mạnh rằng mật độ luân trùng của quần thể cũng đóng một vai trò quan trọng trong
việc quyết định phương thức sinh sản. Mặc dầu chưa hoàn toàn hiểu hết cơ chế,
nhưng nói chung người ta tin rằng việc sản xuất các trứng nghỉ là một chiến lược của
quần thể để sống sót qua các điều kiên môi trường không thuận lợi như hạn hán hoặc
rét.
1.2.6.Giá trị dinh dưỡng và vai trò làm thức ăn của luân trùng.
Giá trị dinh dưỡng của các “vật mồi” được quyết định bởi khả năng thoả mãn của
nhu cầu về dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển của các “đối tượng đích”.
Không phải ngẫu nhiên mà hiện nay luân trùng được nuôi rộng rãi để làm thức ăn cho
hầu hết các loài cá biển. Mỗi dối tượng cá biến cần các loại thức ăn khác nhau, nhưng
có thể khẳng định rằng “Luân trùng là thức ăn sống không thể thiếu cho giai đoạn bắt
đầu ăn của ấu trùng cá biển” (Như Văn Cẩn, 1999).
Giá trị của luân trùng trong công nghệ sản xuất giống cá biển được thể hiện ở các
mặt sau:
-Kích thước luân trùng phù hợp với kích cỡ miệng của ấu trùng cá biển mới nở .
-Tốc độ bơi chậm, khả năng phân bố đều trong nước, màu sắc phù hợp nên luân
trùng có tác dụng kích thích tập tính bắt mồi của ấu trùng.
-Luân trùng dễ nuôi do chịu được sự biến động lớn của môi trường.
-Tốc độ sinh sản nhanh, vòng đời ngắn, khả năng nuôi với mật độ cao có thể cho
sinh khối lớn, đáp ứng cho nhu cầu sản xuất.
7
Và đặc biệt quan trọng là giá trị dinh dưỡng của luân trùng đáp ứng nhu cầu dinh
dưỡng cho các đối tượng nuôi:
Luân trùng là bọn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hoá và hấp thụ. Trong thành phần axit
béo không no có chứa EPA, DHA,hai loại này được coi là axit béo thiêt yếu có tác
động đến tỷ lệ sống và sự phát triển của cá biển (Sargent, 1989; Olsen và ctv, 1993;
Kanazawa, 1993; Dhert và Sorgeloos, 1995 trích bởi Như Văn Cẩn, 1999). Mặc dầu,

trích bởi Cái Ngọc Bảo Anh).
Bảng 1.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt động sinh sản của Brachionus
plicatlis (Theo Ruttner-Kolisko, 1972)
Nhiệt đô (
0
C) 15 20 25
Thời gian để phát triển phôi (ngày) 1,3 1,3 0,6
Thởi gian đẻ các con cái non đẻ lần đầu (ngày) 3,0 1,9 1,3
Khoảng thời gian giữa hai lần đẻ (giờ) 7,0 5,3 4,0
Tuổi thọ (ngày) 15 10 7
Số trứng do 1 con cái đẻ trong cuộc đời của nó 23 23 20
Độ mặn:
Độ mặn thích hợp nuôi luân trùng được xác định nằm trong khoảng 4 – 35 ppt
(Lubzens, 1987), tốt nhất là 25 ppt ( Spektorova, 1998 trích Như Văn Cẩn, 1999).
Mặc dù, luân trùng có thể tồn tại ở độ mặn 1 -97 ppt, nhưng nó chỉ phát triển tốt ở độ
mặn tối ưu, sự biến đổi đột ngột về độ mặn có thể làm luân trùng ngừng hoạt động ,
gây chết hoặc làm giảm chất lượng luân trùng, điều này có ý nghĩa khi ta sử dụng
luân trùng để làm thức ăn cho ấu trùng động vật biển trước khi cho ấu trùng ăn ta cần
phải làm thuần đến độ mặn thích hợp.
Ngoài hai yếu tố chính là nhiệt độ và độ mặn thì các yếu tố như oxy hoà tan, NH
3
… cũng có những ảnh hưởng theo các mức độ khác nhau. Trong nuôi sinh khối với
mật độ cao cần quan tâm tới việc bổ sung ôxy, nhưng cũng không nên sục khí quá
mạnh bởi có thể làm tổn thương tới luân trùng. Luân trùng có thể tồn tại trong nước
với hàm lượng ôxy thấp tới 2 mg/L. Trong nuôi sinh khối luân trùng, mức pH trên
6,6; hàm lượng NH3 dưới 1 mg/L được coi là an toàn.
- Ảnh hưởng của các yếu tố hữu sinh.
Vi khuẩn.
9
Để nuôi luân trùng được ổn định, thì sự ảnh hưởng của vi khuẩn lên sinh khối

NO
2
-N trong nước và làm giảm độ pH. Tuy nhiên chúng có tác dụng tích cực trong
việc loại bỏ vi khuẩn và các chất mùn bã ra khỏi bể nuôi. Việc cho thêm một nồng độ
10
thấp 20 mg/L foocmalin vào bể nuôi cấy tảo, 24 giờ trước khi cấy luân trùng có thể
làm giảm đáng kể sự nhiễm bẩn các động vật đơn bào. Sàng lọc và làm sạch các luân
trùng bằng các lưới lọc thực vật phù du (<50
m
µ
) để giảm số lượng trùng tiêm mao
hoặc các vật gây bẩn có kích thước nhỏ là cách phòng ngừa có thể thực hiện dễ dàng
khi tiến hành việc nuôi cấy ban đầu.
Theo kết quả nghiên cứu của Như Văn Cẩn (1999), mật độ nhiễm trùng tiêm mao
trong các bể nuôi bằng tảo tươi thấp hơn rất nhiều khi nuôi bằng nấm men.
Virut và nấm.
Virus Rotier Birnavirus (RBV) và nấm thuộc nhóm Lagenidiaceae được quan tâm
nhiều và được xem như một trong những tác nhân nguy hiểm gây ra sự biến động lớn
mật độ và hiện tượng chết đột ngột của quần thể luân trùng.
Theo Võ Khả Tâm ( 1999), luân trùng nuôi sinh khối bằng tảo N. oculata mật độ
12x10
6
tb/mL cho sinh khối luân trùng cao và hạn chế sự phát triển của nấm.
1.2.8. Các loại thức ăn sử dụng trong nuôi sinh khối luân trùng.
 Nuôi sinh khối luân trùng bằng vi tảo.
Năm 1999, trong nghiên cứu của mình Như Văn Cẩn đã chỉ ra rằng: Luân trùng
được nuôi bằng tảo có sức sống cao hơn, khả năng chịu được sự biến đổi độ mặn tốt
hơn so với nuôi bằng men bánh mì.
Tảo biển được coi là thức ăn tốt nhất nuôi luân trùng vì có giá trị dinh dưỡng cao,
giàu vitamin, phân tán tốt trong nước và đặc biệt không làm ô nhiễm nước.Tuy nhiên

HUFA n – 3 ) và 7% tro. Các đặc điểm vật lý thứa ăn này là tối ưu đối với sự hấp thụ
của luân trùng. Tuy nhiên, trong sản xuất khó có trại sản xuất nào có thể sử dụng loại
thức ăn này để nuôi luân trùng. Bởi vì, giá thành của loại thức ăn này rất cao, nên
thường thì chỉ có thể sử dụng trong việc “lam giàu” luân trùng trước khi đưa vào các
bể ương ấu trùng.
 Kết hợp các loại thức ăn để nuôi sinh khối luân trùng.
12
Mỗi loại thức ăn riêng biệt dùng để nuôi luân trùng đều có những nhược điểm
nhất định. Vì vậy, sự kết hợp giữa các loại thức ăn có thể là một giải pháp hữu hiệu
trong việc nuôi sinh khối luân trùng ở các trại sản xuất.
Nhiều công thức phối hợp đã được đưa ra và cũng ít nhiều cho thấy được hiệu
quả. Spektorrora (1981) thí nghiệm phối hợp tảo và men bánh mì nuôi luân trùng theo
3 tỷ lệ 1:2; 1:1; và 2:1 cho ăn theo 3 khẩu phần: 5; 50 và 100
mLg /
µ
. Kết luận rút ra
là luân trùng phát triển tốt nhất khi nuôi bằng tảo kết hợp với nắm men theo tỷ lệ tảo :
men = 1:2 và khẩu phần tốt nhất là 100
mLg /
µ
( Như Văn Cẩn, 1999).
Năm 1999, kết quả nghiên cứu của Cái Ngọc Bảo Anh cho thấy nấm men bổ sung
10% dầu mực là một loại thức ăn có thể sử dụng nuôi sinh khối luân trùng B.
plicatilis dòng nhỏ.
1.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng vi tảo trong nước và trên thế giới
1.3.1 Đặc điểm sinh học tảo Nannochloropsis oculata.
A. Vị trí phân loại.
Ngành Heterokontophyta Hocck, Mann và Jahns, 1985
Lớp Eustigmtophyceae Hibberd, 1981
Bộ Eustigmatales Hibberd, 1981

định thành công trong việc sản xuất giống nhiều loài động vật biển có giá trị kinh tế.
Vi tảo biển có hàm lượng dinh dưỡng cao, hàm lượng protein từ 6 – 34% khối
lượng khô, hàm lượng lipit từ 5 – 23%, hàm lượng carbohydrate từ 5 – 12% khối
lượng khô (Brown và ctv, 1997 trích bởi Phạm Thị Lam Hồng, 1999).
Vi tảo biển là nguồn cung cấp acid béo không no cho các động vật biển. Acid béo
không no có vai trò quan trọng đối với ấu trùng động vật thân mềm, cá biển và các
loại động vật phù du. Các acid béo có giá trị dinh dưỡng nhất là EPA 20:5n-3
(Eicosapentaenonic acid), và DHA 22:66n-3 (Docosahexaenoic acid).
Ngoài ra, các vi tảo biển còn rất giàu vitamin. Mười loại vitamin đã tìm thấy ở vi
tảo, trong đó hàm lượng vitamin C và vitamin B12 cao nhất, tiếp theo là các Vitamin
A, D, E, K... Ngoài vai trò cung cấp thức ăn cho luân trùng và ấu trùng cá, tảo còn tác
dụng làm ổn định môi trường như cung cấp oxy hoà tan và hấp thụ NH
3
trong bể
ương ấu trùng. Tuy nhiên, giá trị dinh dưỡng của những loài tảo khác nhau rõ rệt giữa
14
các loài, giữa các dòng trong cùng một loài và đặc biệt phụ thuộc vào điều kiện môi
trường như độ mặn, ánh sáng, thời điểm thu hoạch...
1.3.3. Ảnh hưởng của một số yếu tố tới sự biến động quần thể vi tảo.
- Sinh trưởng của tảo
Trong các điều kiện thuận lợi của môi trường về dinh dưỡng, ánh sáng, độ mặn và
nhiệt độ, các loài vi tảo sinh sản theo kiểu phân cắt tế bào làm số lượng tế bào tăng
lên một cách nhanh chóng.
Sự sinh trưởng của vi tảo được đặc trưng bởi 5 pha (Lavens & Sorgeloos, 1996):
+ Pha gia tốc dương (I): ở pha này tảo bắt đầu làm quen với môi trường nuôi, hấp
thụ dinh dưỡng và bắt đầu phân chia tế bào nhưng số lượng tế bào tăng chậm.
+ Pha logarit (II): số lượng tế bào ở pha này tăng theo cấp số nhân. Tảo ở giai
đoạn này hấp thụ dinh dưỡng mạnh.
+ Pha gia tốc âm (III): ở pha này môi trường dinh dưõng có chiều hướng giảm
mạnh cùng với mật độ tế bào tảo cao làm tốc độ sinh sản giảm, tuy vậy số lượng tế

quang hợp (Lavens & Sorgeloos, 1996). Cường độ mạnh và thời gian chiếu sáng lâu
có thể làm tăng nhiệt độ bể nuôi. Như vây, ánh sáng còn kết hợp với nhiệt độ ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của tảo.
-Nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn tới đời sống của tảo, đồng thời ảnh hưởng cả chất
lượng dinh dưỡng cũng như sinh vật gây hại cho tảo.
Hầu hết các loại tảo có thể sống trong khoảng nhiệt độ từ 16-30
0
C. Nếu nhiệt độ
cao hơn 35
0
C thì tảo có thể bị chết và nếu thấp hơn 16
0
C thì tảo chậm phát triển. Tảo
N. oculata là loài có khả năng thích nghi với sự biến động nhiệt độ rộng, phát triển
tốt nhất trong khoảng nhiệt đô từ 10-30
0
C.
- Độ mặn
Mỗi loài tảo khác nhau có khả năng thích nghi với một khoảng dao động độ mặn
khác nhau. Hầu hết các loại tảo dạng monas sinh trưởng trong khoảng độ mặn dao
động 12-40 ppt, nhưng phát triển tốt nhất ở độ mặn 20-24 ppt.
N. oculata là một loài rộng muối, thích ứng được trong khoảng độ mặn 7-35 ppt.
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Lam Hồng (1999) tảo N. oculata phát triển
tốt nhất ở độ mặn 30-35 ppt nhưng có thể phát triển ở độ mặn 10-35 ppt. Tuy nhiên,
16
theo Vũ Dũng(1998) Tảo N. oculata phát triển tốt ở độ măn 18-26 ppt (Đặng Đình
Kiêm, 2002). Mặc dù có khả năng thích nghi với sự thay đổi độ mặn một cách đột
ngột sẽ làm thay đổi nhanh chóng áp suất thẩm thấu của tế bào, thậm chí sẽ bị chết
hàng loạt.

chức năng. Ngoài ra, nitơ còn tham gia vào cấu tạo của nhiều loại vitamin B1, B2,
B6, BP là thành phần quan trọng của hệ men oxy hóa khử và nhiều men quan trọng
khác.
17
Photpho được coi là chìa khoá của quá trình trao đổi chất. Hàm lượng photpho
không cần thiết phải cao, xong nếu thiếu nó thì tảo không phát triển được. Bởi vì
photpho có tác dụng lên hệ keo ở dạng các ion, photpho ở dạng liên kết với các kim
loại tạo nên hệ đệm đảm bảo cho pH của tế bào luôn xê dịch trong một phạm vi nhất
định (6-8) là điều kiện tốt cho các hệ men hoạt động. Photpho tham gia vào cấu trúc
có vai trò quan trọng trong những khâu chuyển hoá trung gian và có ý nghĩa then chốt
trong trao đổi năng lượng.
Bên cạnh những nguyên tố đa lượng việc bổ sung những nguyên tố vi lượng cũng
rất cần thiết. Các nguyên tố vi lượng gồm một số các muối kim loại với nồng độ thấp
như: CuSO
4
, CoCl
2
, ZnSO
4
, FeCl
3
… Vai trò của các nguyên tố vi lượng này hầu như
đều có tác dụng đến quá trình trao đổi chất của tảo. Trong đó, sắt là nguyên tố vi
lượng được bổ sung nhiều nhất so với các muối kim loại khác trong môi trường nuôi.
Tuy sắt không phải là chất tham gia vào cấu tạo của diệp lục nhưng nó là tác nhân bổ
trợ hoặc là thành phần tham gia vào cấu trúc của các hệ men và chủ yếu là các men
oxy hoá khử, tham gia tích cực vào dây chuyền sinh tổng hợp của các chất quan
trọng. Sắt đóng vai trò quan trọng vào quá trình vận chuyển điện tử quang phân ly
nước và quá trình photphoryl hoá quang hợp. Do vậy nhu cầu sắt cho sự sinh trưởng
và phát triển của tảo là rất cần thiết nhưng chỉ ở hàm lượng thấp. Khi hàm lượng sắt

Tại viện nghiên cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản III ứng dụng nuôi tảo N. oculata và
Chaetoceros muelleri làm thức ăn cho ấu trùng điệp quạt và đã thu được nhiều thành
công.
Phạm Thi Lam Hồng (1999), đã nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, ánh sáng và
tỷ lệ thu hoạch lên một số đặc điểm sinh học, thành phần sinh hoá của hai loài vi tảo
N. oculata và C. muelleri trong điều kiện phòng thí nghiệm, thành công của nghiên
cứu đã góp thêm những hiểu biết quan trọng về hai loài tảo và ứng dụng nuôi bán liên
tục để cung cấp tảo cho việc sản xuất động vật phù du, trong quy trình ương các loại
ấu trùng động vật biển.
Năm 1999, Lục Minh Diệp đã có những công bố quan trọng khi nghiên cứu ảnh
hưởng của tỷ lệ phân bón, tỷ lệ thu hoạch lên sự phát triển của hỗn hợp tảo tự nhiên
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status