bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
viện khoa học thủy lợi
báo cáo tổng kết chuyên đề
Năng lợng gió
thuộc đề tài kc 07.04:
nghiên cứu, lựa chọn công nghệ và thiết bị để khai thác và
sử dụng các loại năng lợng tái tạo trong chế biến nông,
lâm, thủy sản, sinh hoạt nông thôn và bảo vệ môi trờng
Chủ nhiệm đề tài: kS dơng thị thanh lơng
5817-13
16/5/2006
Tp.HCM 12/2003
LỜI MỞ ĐẦU - 1 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số đang sống và
làm việc tại nông thôn. Trong đó khoảng 47% sống ở các đồng bằng sông
Hồng và sông Cửu Long với tiềm năng đất đai, tài nguyên khoáng sản, rừng
biển to lớn. Do đó nông thôn luôn luôn đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp
phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Để thúc đẩy sự phát triển của các
ngành kinh tế, nâng cao dân trí, giảm tỷ lệ gia tăng dân số…Nhà nước đã có
nhiều chính sách về xây dựng và phát triển nông thôn – Một trong các chính
sách lớn đó là chương trình điện khí hóa nông thôn và chương trình KHCN
KC – 07 “ Công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn”. Theo dự báo
về nhu cầu tiêu thụ điện ở nông thôn đến năm 2010 ( trong tổng sơ đồ phát
triển điện lực Việt Nam giai đoạn IV) đã dự kiến về cơ bản công cuộc điện khí
hoá nông thôn sẽ hoàn thành vào năm 2010 với khoảng 70% số hộ nông thôn
mới…
Trong quá trình nghiên cứu đề tài cũng tập trung nghiên cứu kỹ các tài
liệu trong và ngoài nước, tiến hành lựa chọn một cách có chọn lọc những mẫu
nghiên cứu phù hợp với điều kiện công nghệ và chế độ gió Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu và các công việc chính của đề tài :
1. Nghiên cứu các tài liệu kỹ thuật, phân tích mẫu mã của nước ngoài về
động cơ gió phát điện và bơm nước để thực hiện việc nghiên cứu mẫu.
2. Nghiên cứu lý thuyết, tính toán thiết kế các cấu thành cơ bản của động
cơ gió phát điện vận tốc chậm, động cơ gió phát điện quay nhanh, động
LỜI MỞ ĐẦU - 3 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE
cơ gió bơm nước cột áp cao, động cơ gió bơm nước cột áp thấp như: bánh
xe gió, cơ cấu đònh hướng…
3. Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ.
4. Chế tạo lắp đặt thử nghiệm 04 hệ thống động cơ gió phát điện và bơm
nước.
5. Hoàn thiện thiết kế và lập qui trình công nghệ chế tạo những sản phẩm
trên.
Các sản phẩm của đề tài là:
1. Động cơ gió bơm nước cột áp cao BP 350-12
• Đường kính bánh xe gió: D = 3,5m
• Vận tốc gió đònh mức: V = 8m/s
• Số cánh: B = 12
• Lưu lượng nước: Q ≤ 1,25m
3
/h ở H ≤ 20m
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
§ 1 - 1 Ngoài nước
Kể từ cuộc khủng hoảng dầu lửa đầu thập niên 70, nhiều nước trên thế
giới đã điều chỉnh chính sách năng lượng hướng về các nguồn năng lượng mới
và năng lượng tái tạo. Trong đó ở một số nước thì năng lượng gió được đánh
gía như một nguồn năng lượng có thể đóng góp một phần đáng kể trong cân
bằng năng lượng quốc gia.
1.1.1 Sự phát triển của các động cơ gió công suất lớn hoà mạng lưới
điện quốc gia:
• Tổng công suất lắp đặt và số lượng động cơ gió được lắp đặt
trên thế giới :
Từ năm 1991 trở về trước, Mỹ luôn là quốc gia dẫn đầu về tổng
công suất lắp đặt các tuabin gió, riêng ở bang California (1991) số lượng
các tuabin gió được lắp đặt là 16387 cái và tổng công suất là 1679 MW.
Nhưng cho đến nay, Châu u đã vượt qua Mỹ về công suất lắp đặt và
đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ.
Hiệp hội Năng lượng Gió Hoa Kỳ (AWEA) dự đònh tới năm 2007
sẽ lắp đặt trên 4.000 MW. Còn mục tiêu của Hiệp Hội Năng lượng Gió
Châu Âu đến năm 2030, tổng công suất lắp đặt các tuabin gió lên đến
15.000MW.
Hiện nay, các hãng chế tạo động cơ gió hàng đầu trên thế giới
phần lớn thuộc về Châu Âu với hơn 80% thò phần.
Năm 2002, tốc độ phát triển năng lượng gió của thế giới tăng
không đáng kể, chỉ vượt trội hơn năm 2001 là 5,9 %. Riêng Châu Âu đã
lắp thêm 6.163MW, tăng 36,1 % so với năm 2001. Sự phát triển của
việc sử dụng năng lượng gió ở Châu Âu và trên toàn thế giới được biểu
diễn trên hình 1 .
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC - 6 - BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE
Như đã thấy trên hình (1) sự tăng trưởng của việc lắp đặt các
tuabin gió từ 1998 là dấâu hiệu cho thấy ngày càng nhiều hơn các nước
quan tâm và đang phát triển việc sử dụng năng lượng gió.
Kết luận này hoàn toàn được củng cố bằng dự đoán về sự phát
triển năng lượng gió cho đến năm 2007. Theo dự đoán này , năng lượng
được sản xuất từ các tuabin gió có triển vọng tăng từ 32.037MW đến
hơn 83.000MW trên toàn thế giới đến năm 2007 [2].
Riêng ở Châu Âu, tới năm 2007, công suất được lắp đặt có triển
vọng tăng đến 58.000MW. Điều này có nghóa là sự phát triển năng
lượng gió hàng năm trên thế giới sẽ là 6.960MW/năm. Theo dự tính
trên, Châu Âu sẽ chiếm 68% tổng công suất lắp đặt trên toàn cầu.
Cũng trên hình 1 ta có thể thấy: công suất lắp đặt tích lũy từ WTs
(tuabin gió) ở Châu u là 23.832MW vào cuối năm 2002 và trên toàn
thế giới là 32.037MW. Như vậy cho thấy hiện nay Châu Âu nắm giữ 1
vai trò chủ chốt trong ngành công nghiệp năng lượng gió.
• Sự phát triển về công nghệ sản xuất tuabin gió [2]:
Bắt đầu từ những năm 1970, những cơ quan hàng không lớn trên thế giới
ngay từ đầu đã thử thiết kế những tuabin gió vài MW mà không đi theo con
đường mòn là nâng đường kính bánh xe gió lên từ từ và họ đã phạm phải sai
lầm khi nghó với trình độ công nghệ cao của họ sẽ thích hợp cho việc thiết kế
các động cơ gió.
Trong khi đó những người “tiên phong” trong lónh vực năng lượng gió
của thế giới đã đi bằng con đường khác :
Do thiếu trình độ công nghệ cao và đội ngũ kỹ sư quan trọng họ đã bắt
đầu bằng việc nghiên cứu những động cơ gió công suất nhỏ mà cũng đã đầy
khó khăn. Công nghệ bắt đầu là công nghệ mượn : dạng khí động từ sổ tay cũ
của NASA, cánh được thiết kế như cánh máy bay, thông số vật liệu từ cơ sở
của hàng không, hộp số, máy phát, hệ thống đònh hướng từ những động cơ gió
bơm nước cũ…
Với việc hoàn thiện, cải tiến và nâng kích thước (công suất) một cách từ
từ . Con đường bắt đầu của đội “tiên phong” với việc mượn công nghệ đã được
chứng minh một cách thành công trong thực tế.
Từ những năm 1980, các hãng sản xuất động cơ gió trên thế giới mới chỉ
sản xuất được các động cơ gió có đường kính bánh xe gió là 20m (100kW), sau
đó phát triển lên đến 40m (500kW) – Đến đầu những năm 1990 mới bắt đầu
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC - 10 - BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE
những điều kiện này đã hội tụ cho Đan Mạch là quốc gia đứng đầu trong lónh
vực phong điện ngoài biển khơi.
Năm 1991, Đan Mạch đã lắp 11 động cơ gió của hãng BONUS (Đan
Mạch) với công suất 450 kW/ cái tại bờ biển phía nam Zeeland (chi phí cao hơn
lắp đặt trên đất liền 85%).
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC - 11 - BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE
Tháng 10/1995, nhà máy thứ 2 của Đan Mạch trên biển khơi
(TUNOKNOB) bắt đầu vận hành với 10 động cơ gió công suất 500 kW/cái của
hãng VESTAS (Đan Mạch). Theo Bộ trưởng Môi trường Đan Mạch đã thông
báo: đến năm 2005 Đan Mạch sẽ xây dựng 5 nhà máy phong điện “trên mặt
biển” với tổng công suất là 750 MW, đến năm 2015 công suất lắp đặt trên biển
sẽ đạt 2.300 MW ở 5 vò trí trên và đến năm 2030 sẽ đạt 4.000MW hoặc có thể
lớn hơn con số nêu trên từ 1.000 ÷ 2.000 MW.
Tại hội nghò Kyoto về việc kiểm soát các loại khí thải lồng kính, Đan
Mạch đã cam kết mức khí CO
2
thải ra không gian vào năm 2005 sẽ giảm 20%
so với mức năm 1998 dựa trên việc khai thác tiềm năng gió ngoài khơi nhằm
thay thế các nhà máy nhiệt điện đốt than.
1.1.2 Sự phát triển các động cơ gió công suất nhỏ :
Mặc dù các nước công nghiệp tiên tiến tập trung phát triển các động cơ
gió công suất lớn hòa mạng điện quốc gia nhưng bên cạnh đó kỹ thuật công
Cho đến nay họ đã chế tạo được 30 chủng loại động cơ gió từ 50W đến
5kW. Con đường phát triển của họ cũng bắt đầu từ những động cơ gió công
suất cực nhỏ 50W đến 100W. Sau đó là việc hợp tác với các công ty nước
ngoài để nhập công nghệ tiến tiến nhằm nâng từ từ công suất động cơ gió lên
300W, 500W, 750W và tới 5 kW. Trong số đó loại 100W, 300W và 500W là
loại được người tiêu dùng ưa chuộng nhất.
1.1.3 Sự phát triển các động cơ gió bơm nước trên thế giới :
Động cơ gió bơm nước được chia thành 3 loại :
a./ Thế hệ đầu tiên :
Các loại bơm gió cổ điển, loại nhiều cánh, động cơ gió của Mỹ,
loại bơm gió cỡ nhỏ với hộp giảm tốc.
• Ưu điểm : tỉ tốc đầu mút cánh thấp (λ
o
≤ 1), độ tin cậy
cao (hơn 20 năm), bảo dưỡng ít.
• Khuyết điểm : trọng lượng lớn, giá thành đầu tư cao,
lắp đặt phức tạp.
b./ Thế hệ thứ hai :
Bơm gió loại mới, nhẹ nhàng hơn đã được lắp đặt trong 20 năm
gần đây. Số cánh ít hơn, tỉ tốc đầu mút cánh (λ
o
=1 – 2).
• Ưu điểm : nhẹ hơn, dễ chế tạo, có hiệu quả trong kinh
tế và ứng dụng.
• Khuyết điểm : độ tin cậy không cao bằng loại đầu,
lại với chương trình quốc gia về năng lượng gió bằng dự án thứ 6 (1980 –
1985). Kết quả của dự án này là hơn 1700 động cơ gió được lắp đặt, chủ
yếu là mẫu 12 – PU 500 của tổ chức CWD (Hà Lan). Rút kinh nghiệm từ
những động cơ gió này năm 1985 – 1990 ( dự án thứ 7) được soạn thảo
và thực hiện với việc tập trung kinh phí để giới thiệu những thiết kế mới,
hỗ trợ lắp đặt, bảo quản và sửa chữa thiết bò. Việc sản xuất kinh doanh
động cơ gió bơm nước tăng nhanh vào cuối năm 1992 và đã lắp đặt được
3.500 cái.
Dự án thứ 8 (1992 – 1997) nhằm thực hiện lắp đặt 5.000 động cơ
gió bơm nước vớ việc thương mại hóa trọn vẹn.
Dự án thứ 9 (1997 – 2002) của án Độ nhằm triển khai các mục tiêu
:
• Thực hiện việc nghiên cứu phát triển, cải tiến thiết kế và
tăng hiệu suất làm việc của động cơ gío bơm nước.
• Thử nghiệm trên hiện trường và lập các mô hình trình diễn.
• Củng cố và phát triển các cơ sở sản xuất động cơ gió bơm
nước.
• Đẩy mạnh việc marketing và phát triển các mạng lượi bảo
trì sửa chữa.
Hiện ở Ấn Độ có trên 20 công ty sản xuất và lắp ráp động cơ gió
bơm nước. Hầu hết các công ty này đều theo hướng : thời gian đầu nhập
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC - 14 - BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE
khẩu các thiết bò nước ngoài, cải tiến cho phù hợp và sản xuất trong
nước hoặc cộng tác với công ty nước ngoài để sản xuất trong nước.
chưa giải quyết được vấn đề phối hợp tải giữa động cơ gió và bơm guồng
gỗ.
Cũng trong năm 1980, chương trình năng lượng mới MS 10-05 được
thành lập do Bộ Điện Lực chủ trì.
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC - 15 - BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE
Năm 1985-1990: Chương trình năng lượng mới đổi sang mã số 52C
và do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chủ trì.
Trong thời gian này đã có thêm nhiều cơ quan tham gia nghiên cứu
về năng lượng gió như : Viện Kỹ Thuật Quân Sự (Bộ Quốc Phòng), Viện
Kỹ Thuật Giao Thông (Bộ Giao Thông Vận Tải), Trường Đại Học Cơ Điện,
Trường Đại Học Bách Khoa Tp. HCM, Trung tâm Phát Thanh và Truyền
Hình Tp. HCM, Xí nghiệp Cơ Khí 2-9 Tp. HCM.
Nhữõng cơ quan này đã nghiên cứu, thiết kế chế tạo và lắp đặt thử
nghiệm một số mẫu động cơ gió phát điện công suất nhỏ và động cơ gió
bơm nước. Tất cả những mẫu này chỉ mang tính chất thử nghiệm chứ chưa
triển khai được vào thực tế ứng dụng .
• Từ năm 1990 đến nay:
Trung tâm Nghiên Cứu Thiết Bò Nhiệt và Năng Lượng Mới là cơ
quan duy nhất chủ trì thực hiện các dự án, đề tài cấp nhà nước về năng
lượng gió đã được đánh giá xuất sắc.
Đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu thiết kế chế tạo động cơ gió
bơm nước cột áp cao” – 1991.
Ngoài ra còn nhiều công trình dự án về năng lượng gió mà
RECTERE đã làm cho các tỉnh .
Nhìn lại khoảng thời gian qua ở Việt Nam, việc nghiên cứu năng
lượng gió được tiến hành theo 3 xu hướng sau:
1. Xu hướng tiến ngay vào thiết kế chế tạo động cơ gió có kích
thước và công suất lớn (10kW). Xu hướng này đã bò thất bại ngay
khi đang lắp đặt dở dang (động cơ gió 10kW ở Cần Giờ), hay
động cơ gió tại Cà Ná, Minh Hải, Đà Nẵng chỉ hoạt động trong
thời gian rất ngắn đã bò hỏng.
2. Xu hướng sao chép nguyên mẫu mã nước ngoài hoặc nhập thẳng
thiết bò và chỉ cần ứng dụng. Xu hướng này cũng đã được chứng
minh trong thực tế là không đạt kết quả tốt.
3. Xu hướng nghiên cứu phân tích các mẫu của nước ngoài, lắp đặt
thử nghiệm để cải tiến hay để xuất mẫu mã cho phù hợp với công
nghệ Việt Nam, chế độ gió và nhu cầu sử dụng.
Xu hướng thứ 3 đã được RECTERE kiên trì theo đuổi từ năm 1990
đến nay và thu được một số kết quả đáng khích lệ như PD 170-6 chính là
được cải tiến từ mẫu KOALA của Ba Lan sau một thời gian lắp đặt thử
nghiệm và cải tiến hoàn thiện thiết kế và công nghệ.
Cho đến nay, RECTERE đã lắp đặt được hơn 900 động cơ gió PD
170-6 và hơn 100 động cơ gió trục đứng cánh mềm HL 250, HL 300, HL
350 tại hơn 40 tỉnh thành trong cả nước. Con số này thực ra còn quá khiêm
tốn so với tiềm năng gió ở nhiều vùng nông thôn của nước ta.
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LƯNG GIÓ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC - 17 -
Chương 2: LỰA CHỌN ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU - 18 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE
Chương 2
LỰA CHỌN ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU § 2 – 1 Cơ sở chọn đối tượng nghiên cứu, cách tiếp cận và thiết kế
nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được lựa chọn xuất phát từ việc phân
tích nhu cầu sử dụng, trình độ công nghệ và chế độ gió ở các vùng nông thôn
Việt Nam.
• Tiềm năng về Năng lượng Gió ở Việt Nam:
Nước ta với 3000km bờ biển và nằm trong khu vực gió mùa được đánh
giá là có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng gió.
Năng lượng gió được tính gần đúng bằng công thức :
E = 0,6V
3
Sự chênh lệch này phụ thuộc vào mức độ dao động gió ở từng vùng, tốc
độ gió dao động càng nhiều thì độ chênh lệch càng lớn và ngược lại.
Trong khi đó năng lượng gió được tạo ra tỷ lệ với lập phương của vận
tốc gió. Ví dụ với cùng chế độ gió cấp 3 (v=3.4m/s – 5.4m/s) thì năng lượng gió
thu được ở 5m/s lớn hơn gấp 2 lần năng lượng gió thu được ở vận tốc gió 4m/s
với cùng một diện tích hứng gió.
Bản đồ phân bố tốc độ gió trung bình được xây dựng trên số liệu của 206
trạm khí tượng thủy văn toàn quốc., và cho một hình ảnh khái quát về tình hình
phân bố tốc độ gió trên lãnh thổ Việt Nam như sau :
• Ngoài khơi gió thổi mạnh và giảm dần khi vào đất liền. Tại các hải
đảo phía đông nước ta có tốc độ gió trung bình năm từ 6-8 m/s. Ở xa
bờ và gần bờ là 5-6 m/s. Riêng các hải đảo phía Tây và Tây Nam chỉ
3-4 m/s.
• Vùng duyên hải tiếp giáp với đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ từ
Diễn Châu đến Cửa Tùng có tốc độ gió trung bình năm trên 4 m/s.
• Khu vực từ đèo Hải Vân đến Quảng Ngãi do khuất gió Tây Nam nên
tốc độ gió trung bình của vùng này chỉ khoảng 1-2 m/s.
Khi đánh giá tiềm năng gió cần lưu ý đến hệ số K (hệ số ảnh hưởng).
Giá trò K ở một số vùng đặc trưng như sau :
• Cao nguyên : K = 4 – 4,5
• Đồng bằng Bắc Bộ : K < 2,5
• Đồng bằng Nam Bộ : K = 3,5 – 4
Như vậy với cùng tốc độ gió trung bình thì năng lượng sinh ra ở đồng
bằng Nam Bộ lớn gấp 1,3-1,5 lần so với đồng bằng Bắc Bộ.
2
). Riêng khu vực gần biên
giới Đông Bắc Bắc Bộ do trực tiếp chòu ảnh hưởng của gió mùa Đông BẮc thì
có tiềm năng gió lớn hơn.
Tuỳ theo vò trí tương đối với hướng xâm nhập của gió mùa mà có những
nơi mật độ năng lượng có thể lên tới 400 – 500 kWh/m
2
. Nhìn chung, Trung Bộ
có tiềm năng gió đáng kể, khu vực phía Tây có tổng năng lượng hàng năm
khoảng 200 – 500 kWh/m
2
, phần phía Đông mở ra phía biển từ 500 – 900
kWh/m
2
, vùng Tây Nguyên cũng có tiềm năng gió khá phong phú.
Tóm lại, nước ta nằm trong khu vực châu Á gió mùa, nhiều nơi có vận
tốc gió trung bình cao đánh giá một tiềm năng lớn để có thể phục vụ việc phát
triển năng lượng gió tại Việt Nam.
• Nhu cầu về động cơ gió phát điện công suất nhỏ:
Theo dự kiến về cơ bản chương trình điện khí hóa nông thôn ở nước ta
sẽ hoàn thành vào năm 2010 với khoảng 70% số hộ nông dân được sử dụng
điện lưới quốc gia. Như vậy, trên toàn quốc vẫn còn khoảng 30% số hộ dân ở
nông thôn vùng sâu, vùng cao, biên giới, hải đảo không thể có lưới điện quốc
gia. Do đặc điểm về đòa hình, nhu cầu năng lượng bò phân tán ( người dân sống
rải rác) và phụ tải điện bé với thu nhập thấp, đời sống còn nhiều khó khăn, nhu
cầu năng lượng của người dân chỉ hạn chế ở việc thắp sáng, nghe đài, xem tivi
cột áp thấp, đề tài đã sử dụng các cách tiếp cận sau :
• Tiếp cận hệ thống :
Thiết bò động cơ gió nói chung rất phức tạp và
phụ thuộc vào nhiều yếu tố : vận tốc gió, nhu cầu sử dụng (công suất,
lưu lượng và cột áp) , trình độ công nghệ và các quan điểm thiết kế
khác nhau. Quá trình nghiên cứu và p hát triển động cơ gió trên thế
giới đã có một bề dày lòch sử. Chính vì vậy, việc sử dụng phương
pháp phân tích các vấn đề một cách có hệ thống là một điều rất cần
thiết giúp tìm ra các vấn đề tồn tại trong thiết kế và công nghệ, các
vấn đề bức xúc cần giải quyết tránh việc nghiên cứu trùng lặp.
• Tiếp cận liên ngành :
Để chế tạo động cơ gió cần đến sự tham gia
của khá nhiều ngành : trước hết là ngành cơ khí chế tạo, ngành điện
– điện tử về phương diện làm các máy phát chuyên dụng, các bộ bảo
vệ bình accu và các bộ điều chỉnh…, ngành vật liệu mới về phương
diện làm các bánh xe gió, máy công tác …. Chính vì vậy, để nâng cao
chất lượng của các sản phẩm nghiên cứu, đề tài cần tập hợp đội ngũ
chuyên gia trong các lónh vực trên.
Chương 2: LỰA CHỌN ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU - 22 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE • Tiếp cận trên cơ sở kế thừa có chọn lọc :
Việc nghiên cứu phát
triển các động cơ gió phát điện công suất nhỏ và các động cơ gió
bơm nước đã được các nước công nghiệp tiên tiến rất quan tâm, đặc
biệt nhằm mục đích giúp đỡ các nước đang phát triển. – Rất nhiều dự
thiết bò đạ được lắp đặt và ứng dụng trong thực tế.
Ngay ở trong nước cũng có một số mẫu thiết bò đã được nghiên cứu. Mặc
dù chưa triển khai được vào thực tế sản xuất vì còn một số vấn đề kỹ thuật cần
phải giải quyết nhưng chắc chắn việc thu thập thông tin nghiên cứu và phân
Chương 2: LỰA CHỌN ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU - 23 – BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KC 07 – 04 – PHẦN NĂNG LƯNG GIÓ RECTERRE
tích các tài liệu kỹ thuật ngoài nước và trong nước là phương pháp rất quan
trọng. Nó sẽ giúp cho đề tài tiếp thu được những thành tựu mới và khắc phục
được những vấn đề còn tồn tại.
Thông qua mạng Internet, thông qua các đề tài các cấp, thông qua các
nghiên cứu thường xuyên, các quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức Quốc tế,
RECTERE đã thu thập được nhiều những tài liệu kỹ thuật, các tạp chí, các thiết
kế giúp cho việc triển khai nghiên cứu của đề tài.
2./ Phương pháp thu thập thông tin qua nghiên cứu mẫu :
Phương pháp này cho phép thu thập được nhiều thông tin tổng hợp bằng
trực quan. Song vấn đề quan trọng là lựa chọn mẫu nào để nghiên cứu và sử
dụng kỹ thuật nào để khảo sát mẫu. Cần nghiên cứu qua các thông tin và các
tài liệu kỹ thuật đã được thu thập để lựa chọn những mẫu phù hợp.
Để đánh giá lựa chọn mẫu mã của các thiết bò động cơ gió phát điện và
bơm nước cần tập trung vào những điểm chính sau đây :
• Số lượng và thời gian đã lắp đặt loại mẫu đó. Nó đánh giá
mức độ đón nhận của thò trường và đồng thời cũng nói lên chất