1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304 TIẾP TỤC THỬ NGHIỆM
KÍCH THÍCH CÁ RÔ ĐỒNG
SINH SẢN
BẰNG KÍCH THÍCH TỐ
Cần Thơ, 2010
Cán bộ hướng dẫn
Ts. NGUYỄN VĂN KIỂM
KS. NGUYỄN THÀNH TÂM
Sinh viên thực hiện
LÊ HUYỀN HẠNH NGHĨA
MSSV: 06803024
L
ớp:
NTTS K13
LỜI CẢM TẠ
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa
Sinh Học Ứng Dụng trường Đại học Tây Đô đã tạo điều kiện để em được học
tập và nghiên cứu nâng cao trình độ trong những năm học vừa qua.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy hướng dẫn Tiến sĩ
chịu đựng được môi trường nước bẩn, hàm lượng oxy thấp. Vì thế ta có thể nuôi
cá ở mật độ cao.
Thí nghiệm sử dụng các loại kích dục tố và liều lượng khác nhau để kích thích
sinh sản nhân tạo cá cho kết qủa: Đối với nghiệm thức kích dục tố não thùy +
HCG ở 3 liếu là 1 mg + 1.000 UI, 1 mg + 1.500 UI, 1 mg + 2.000 UI trên 1kg cá
cái, sai khác không có ý nghĩa thống kê. Trong đó, ở liều lượng 1 mg + 2.000 UI
HCG/kg cá cái có kết qủa cao nhất, thể hiện sức sinh sản tương đối thực tế là
100 trứng/kg, tỷ lệ thụ tinh 69-77.4%, tỷ lệ nở 40%. Tương tự, nghiệm thức kích
dục tố não thùy + LHRHa ở 3 liều 1 mg + 50 µg, 2 mg + 50 µg và 3 mg + 50
µg/kg cá cái thì ở liều tiêm 1 mg + 50 µg/kg cho kết qủa cao nhất: sức sinh sản
thực tế 50376 ± 10500
a
trứng/kg (đợt 1) và 92947,6 ± 21426,9
a
trứng/kg (đợt 2),
tỷ lệ thụ tinh 94,6% (đợt 1) và 92,8% (đợt 2) , tỷ lệ nở 29% (đợt 1) và 31,3%
(đợt 2). Đối với nghiệm thức kích dục tố LHRHa+ HCG cũng ở 3 mức tiêm 50
µg + 1000UI, 50 µg +1500UI, 50 µg + 2000UI/kg cá cái thì ở liều tiêm 50 µg +
1000UI cho kết quả cao nhất sức sinh sản tương đối thực tế 78047.3±34211.8
trứng/kg, tỷ lệ thụ tinh 94.6 ± 1.5%, tỷ lệ nở 27 ±2.1%. Đối với mỗi TN đều có
khoảng thời gian hiệu ứng thuốc là như nhau 10-11 giờ.
5
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn nầy được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của
tôi, và các kết quả nầy chưa được dùng cho bất cứu luận văn cùng cấp nào khác.
Ngày 20 tháng 07 năm 2010
Ký tên
LÊ HUYỀN HẠNH NGHĨA
2.1.6 Tăng trưởng 5
2.1.7 Đặc điểm thành thục và sinh sản của cá Rô đồng 5
2.1.7.1 Phân biệt giới tính và lựa chọn cá bố mẹ 5
2.1.7.2 Đặc điểm của tuyến sinh dục cá rô đồng (Anabas Testudineus) 6
2.1.7.3 Sức sinh sản 7
2.2 Các nghiên cứu về kích thích sinh sản 8
2.2.1 Các loại kích tố sử dụng trong sinh sản nhân tạo 8
2.2.1.1 Não thùy 8
7
2.2.1.2 LHRH-a 8
2.2.1.3 DOM 9
2.2.1.4 HCG 9
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng 10
CHƯƠNG III
11
VẬT LIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
11
3.1. Vật liệu 11
3.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 11
3.1.2 Vật tư và dụng cụ thí nghiệm 11
3.1.3 Pha thuốc và cách tiêm cho cá 11
3.2 Phương pháp nghiên cứu 12
3.2.1 Tiêu chuẩn chọn cá bố mẹ cho tham gia sinh sản 12
3.2.2 Bố trí thí nghiệm 12
3.2.3 Cách thực hiện 14
3.2.4 Chỉ tiêu thủy lý hoá 15
3.2.5 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 15
CHƯƠNG IV
16
Bảng 4.2: Kết quả sử dụng Não thùy + hormon LRHa đến một số chỉ tiêu sinh
sản của cá rô đồng 19
Bảng 4.3: Kết quả sử dụng HCG + hormon LRHa đến một số chỉ tiêu sinh sản
của cá rô đồng. 22
Bảng 4.4: Quá trình phát triển phôi và hậu phôi của CRĐ trong điều kiện nhiệt
độ 28
0
C tính từ thời điểm sau khi trứng thụ tinh 26
10
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Cá rô 3
Hình 4.1: Sức sinh sản của CRĐ ở liều lượng Não + HCG 17
Hình 4.2: Các chỉ tiêu SS của CRĐ ở liều lượng Não + HCG 18
Hình 4.3: Sức SS của CRĐ ở liều lượng Não + LHRHa 21
CRĐ: Cá Rô đồng
12
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Hiện nay, nhu cầu về thực phẩm có nguồn gốc từ thủy sản ngày càng tăng.
Trong khi đó các sản phẩm nuôi trồng chưa đáp ứng được nhu cầu thì vấn đề
khai thác đánh bắt thủy sản ở tự nhiên vẫn được tiến hành. Tuy nhiên, do việc
khai thác quá mức mà lại không đi đôi với việc bảo vệ nên nguồn lợi thủy sản
ngày càng cạn kiệt, hậu quả này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn diễn ra
trên toàn thế giới.
Nguồn lợi thủy sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) rất phong phú cùng
với môi trường rất thuận lợi cho nghề nuôi trồng thủy sản phát triển. Thực tế
trong nhiều năm qua đã chứng minh xuất khẩu thủy sản ở ĐBSCL đứng đầu
trong cả nước. Nhiều loài cá đã có quy trình kỹ thuật nuôi hoàn chỉnh như quy
trình sản xuất giống và nuôi cá Tra. Tuy nhiên, còn rất nhiều loài cá có giá trị
kinh tế cao có thể đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng nội địa,
nếu những loài cá này được đầu tư một cách đầy đủ. Trong số những loài có
tiềm năng như vậy là cá Rô Đồng (Anabas testudineus). Lợi thế của cá Rô Đồng
là có thể phát triển nuôi ở quy mô nhỏ với mức độ đầu tư thấp. Trong khi đó sản
phẩm luôn có thị trường rộng lớn- đó là thị trường nội địa.
Hiện nay phong trào nuôi cá Rô Đồng đã phát triển rất nhanh, đặc biệt là ở
ĐBSCL, rất nhiều hộ đã tự sản xuất được cá giống. Tuy nhiên việc sản xuất
giống nhân tạo cá Rô có nhiều thay đổi tùy theo kinh nghiệm của từng hộ, do đó
hiệu quả sản xuất cao.
Để tiến tới có một quy trình sinh sản nhân tạo cá Rô Đồng ổn định thì việc
“Tiếp tục nghiên cứu biện pháp cho sinh sản nhân tạo cá rô đồng (Anabas
Testudineus)” là rất cần thiết.
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học của Macrognathus siamensis
2.1.1 Phân Loại
Ngành: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Bộ phụ: Anabantidea
Họ: Anabantidae
Giống: Anabas
Loài: Anabas testudineus (Bloch, 1792)
Tên địa phương: Cá rô đồng
2.1.2 Hình thái cấu tạo
Theo Mai Đình Yên (1983) đã mô tả hình thái cá rô đồng như sau: Vây lưng
XVI-XVIII/8-11. Vây hậu môn VIII-X/19-22. Vẩy trên đường bên 15-19/10-14.
Thân cá kéo dài dẹp bên về phía sau. Chiều dài cá rô không kể đuôi gấp 3-4 lần
chiều cao thân. Đầu rộng, chiều dài đầu bằng chiều cao thân. Mõn ngắn, đầu
mõm nhọn. Miệng ở tận cùng, nghiêng chẻ sâu. Răng hàm xếp thành hàm rộng,
ngắn và nhọn. Các mắt lớn. Đỉnh và hai bên đầu có vảy. Cạnh của nắp mang
khía có răng cưa. Đường bên thành hai hàng. Vây lưng và vây hậu môn dài, có
có thể hô hấp bằng khí trời nhờ cơ quan hô hấp phụ, cá có thể tồn tại và phát
triển trong điều kiện môi trường bất lợi ở ngoài tự nhiên (Khoa và Hương,
1993).
2.1.5 Dinh dưỡng, sinh trưởng
Rô đồng là loài cá dữ, ăn tạp nghiêng về động vật do cấu tạo của ống tiêu hóa
ngắn hơn so với chiều dài thân cá 0,76 - 1,06. Cá có răng chắc, sắc, xếp thành
dãy trên hai hàm, trên hai hàm còn có răng nhỏ nhọn.
Thức ăn thích hợp của cá là tôm tép, cá con, phiêu sinh vật, động vật không
xương sống, côn trùng bay trong không khí, hạt cỏ, thóc, các phụ phẩm nông
nghiệp, các phế phẩm nhà máy chế biến thủy sản.
16
Lúc còn nhỏ thức ăn ưa thích của cá là những động vật phù du cỡ nhỏ như giáp
xác, ấu trùng tôm cá. Khi trưởng thành thức ăn của chúng rộng hơn nhu giun ít
tơ, mầm non thủy vật, ấu trùng, côn trùng,
Ngoài ra cá còn có khả năng sử dụng thức ăn chế biến rất tốt. Do vậy, cá rô đồng
là loài cá dễ nuôi.
2.1.6 Tăng trưởng
Cá rô đồng có kích thước tương đối nhỏ, nên tốc độ sinh trưởng của cá tương đối
chậm. Trong tự nhiên cá đạt 50 – 60 g/con/năm đối với cá đực và 50-
100g/con/năm đối với cá cái (Yakupitiyage và etal, 1998).
Trong điều kiện nuôi có bổ xung thức ăn cá đạt trọng lượng 30 - 35 g sau 3
tháng và 60 – 100 g sau 6 tháng (Khánh, 1999).
Theo Mangklamanee (1986) cá có tỷ lệ tăng trưởng 0,5-0,9g/ngày nhưng trong
thực tế nuôi ở ao có diện tích hẹp hoặc trong phòng thí nghiệm thì không đạt
được tỷ lệ này (Ray và Patra 1986).
Theo Yakupitiyage và ctv (1998) thì hệ số tiêu tốn thức ăn FCR của cá rô đồng
khá lớn từ 2,5-3,5 và nhu cầu đạm cần cho sự tăng trưởng của cá là 25%-35%.
2.1.7 Đặc điểm thành thục và sinh sản của cá Rô đồng
từ 300.000 - 700.000 trứng/kg cá cái. Trứng cá thuộc loại trứng nổi.
Theo Phạm Văn Khánh, 1999 thì hệ số thành thục sinh dục cá rô đồng cao nhất ở
giai đoạn IV từ tháng 4 đến tháng 9, từ đó thời gian này cũng là mùa sinh sản
của cá Rô đổng.
Còn trong sinh sản nhân tạo cá hầu như đẻ quanh năm. Theo Pravdin (1973) thì
điều kiện khí tượng thủy văn không những chỉ làm thay đổi mùa vụ đẻ trứng mà
còn làm thay đổi cả bản thân của sự đẻ trứng (trích dẫn bởi Mai Viết Văn, 2002).
Theo Phạm Văn Khánh (1999) sức sinh sản của cá rô đồng phụ thuộc rất nhiều
vào trọng lượng cơ thể cá và dao động từ 72000 đên120700
Bãi đẻ của cá Rô đồng là ven những bờ ao, bờ ruộng - kênh - mương, nơi có
nhiều cỏ và cây thủy sinh. Cá cái sẽ đẻ trứng vào trong nước, đồng thời với lúc
trứng được đẻ ra cũng là lúc tinh trùng từ cá đực được phóng ra. Trứng ngay lập
tức được thụ tinh và nổi lên trên mặt nước nhờ vào những lớp ván dầu màu vàng
được phóng ra cùng lúc với trứng. Do cá không có tập tính bảo vệ trứng sau khi
sinh sản (ngược lại đôi khi còn quay lại ăn cả trứng vừa đẻ ra) nên lượng trứng
đẻ ra rất nhiều (bù trừ lượng hao hụt do không thụ tinh, do địch hại), thường >
3000 trứng/cá cái.
2.1.7.2 Đặc điểm của tuyến sinh dục cá rô đồng (Anabas Testudineus)
Chiều dài trung bình ở lần sinh sản đầu tiên được xác định khi đàn cá có 50% cá
thể thành thục sinh dục. Giữa giai đoạn thành thục sinh dục và chiều dài của cá
có một mối liên hệ khá chặt chẽ. Cá chỉ thành thục sau khi đạt đến một chiều dài
nhất định, do vậy xác định sự thành thục theo chiều dài là một trong các chỉ tiêu
trong việc đánh giá mức độ thành thục của một quần thể cá (Michael king,
1996).
Xác định mùa vụ sinh sản cá rô đồng (Anabas testudineus) nói riêng và các loài
thủy sản khác nói chung là việc rất cần thiết trong sinh sản nhân tạo, giúp người
18
sản xuất chủ động thời gian nuôi và lựa chọn cá bố mẹ cho sinh sản nhằm nâng
bộ của loài cũng thay đổi tùy theo kích cỡ và lứa tuổi khác nhau.
Ngay trong cùng một nhóm kích thước, sức sinh sản của cá cũng khác nhau
Nguyên nhân do những cá thể này sống trong những thuỷ vực khác nhau, chế độ
dinh dưỡng không như nhau (Nikolsky. 1963) Sức sinh sản có thể được điều
chỉnh thông qua dinh dưỡng, thức ăn phong phú, đầy đủ, sức sinh sản của cá
cũng tăng lên (Mai Đình Yên và csv, 1979).
19
2.2 Các nghiên cứu về kích thích sinh sản
2.2.1 Các loại kích tố sử dụng trong sinh sản nhân tạo
2.2.1.1 Não thùy
Hiện nay, não thùy cá được sử dụng thường ở 2 dạng là não tươi và não khô có
nguồn gốc từ nước ngoài đưa vào. Đây là loại kích tố được sử dụng rộng rãi nhất
vì bảo quản và vận chuyển dễ dàng và khi sử dụng cho cá đẻ ít xảy ra phản ứng
phụ.
Cấu tạo của não thùy thể của cá cũng như ở động vật có vú, nằm ở mặt bụng
của thùy trung gian, nối liền với mấu não dưới, chia thành bộ phận thần kinh và
bộ phận tuyến thể. Trong não thùy thể của cá lượng FSH rất thấp còn lượng LH
tương đương với động vật có vú (Nguyễn Tường Anh, 1999; Nguyễn Văn Kiểm,
2004).
Nguời ta lấy não thùy từ những loài cá chép, Trắm , Mè, Trê,… đã thành thục,
còn tươi sống, ở cá chết sau vài giờ thì hoạt tính kích dục tố chỉ còn lại 50%
(Nguyễn Tường Anh, 1999), trong trường hợp cùng thể trọng và mức độ thành
thục, thì não thùy của cá Chép cái có hoạt tính kích dục tố gây chin cao gấp hai
lần não thùy của cá Chép đực cùng loài.
Việc định liều não thùy cho cá bố mẹ khi tham gia sinh sản tùy thuộc vào nhiều
yếu tố: chất lượng họat tính của não thùy, đặc tính nhạy cảm của loài, tình trạng
thanh thuc của cá bố mẹ được tiêm, nhiệt độ nước các điều kiện khác của môi
trường chứa cá.
1966), cá vượt vằn (Stevens, 1967), cá sóc (Hyrose, 1972), cá bơn
(Zenzerov,1982)…(trích, Nguyễn Tường Anh. 1999)
Nước ta đã nghiêm cứu ứng dụng HCG kích thích sinh sản thành công trên nhiều
đối tượng. Cá Mè Trắng là 1500 - 2000UI (chế phẩm HCG của trung quốc) theo
quy trình kỹ thuật nuôi cá nước ngọt (vụ khoa học kỹ thuật, 1976), (trích,
Nguyễn Tường Anh. 1999). Cá Lóc (Ophicephalus striatus), liều sơ bộ
500UI/kg, liều quyết định1200 – 1500UI/kg, tiêm cách liều sơ bộ từ 12 – 24giờ.
(Phạm Văn Khánh, 2005). Cá rô đồng liều tiêm 1500 – 2000UI/kg cá cái, cá đực
= 1/2cá cái, chỉ tiêm một lần. (Trung tâm khuyến ngư Tiền Giang).
Ở nước ngoài HCG còn được sử dụng cho cá Chình, cá Nheo Mang Túi Ấn
Độ…Liều lượng HCG sử dụng cho cá phụ thuộc nhiều vào mức độ tinh khiết
của chế phẩm, cũng như mức độ thành thục của cá.
Liều lượng HCG trước đây được các tác giả Phạm Văn Khánh (1999), Đặng
Ngọc Giao (1999), Nguyễn Ngọc Phúc (2000) sử dụng cho cá rô đồng sinh sản
dao động từ 2500 đến 4000UI/kg
Nhìn chung đối với loài cá đồng, khi dùng hormone kích thích sinh sản, những
tác giả đều sử dụng liều tiêm cho cá đực = 1/3 liều cho cá cái.
212.2.2 Tình hình nghiên cứu về sản xuất giống cá rô đồng
Kích thích tố đóng vai trò quan trọng trong thực tiễn sản xuất đối với các loài cá
nuôi, trong điều kiện nuôi, nhiều loài cá không sinh sản tự phát.
Hiện nay nhiều người đã sử dụng nhiều loại hormone để kích thích cá rô sinh sản
và đạt hiệu tương đối tốt như dùng HCG với liều 3000UI/kg , thì tỷ lệ đẻ 100%,
tỉ lệ thụ tinh 97,2%, tỉ lệ nở 98,56% hoặc khi sử dụng LHRH_ a liều 70 µg thì
tỷ lệ cá đẻ 100%, lệ thụ tinh 96,7%, tỉ lệ nở: 99,32% (Nguyễn Văn Triều, 2001).
Theo Nguyễn Văn Thành (1998) khi dùng HCG với liều 3000 UI/kg tỷ lệ cá đẻ
100%, tỉ lệ thụ tinh 98%, tỉ lệ nở 100%, khi sử dụng liều 20 - 30
tháng 4/2010 đến tháng 7/2010.
Địa điểm: Trường Đại Học Tây Đô
3.1.2 Vật tư và dụng cụ thí nghiệm
• Kích dục tố
- HCG (Human Chorionic Gonaldotropin): Sản xuất tại Việt Nam.
- LRHa
+
DOM (Lutenizing Releasing Hormon analog + Domperidon):
LRHa do Trung Quốc sản xuất.
- Não thùy
• Hoá chất
- Nước cất, nước muối sinh lý: Dùng cho sinh sản nhân tạo.
• Các loại dụng cụ và vật tư
- Test pH
- Test Oxy
- Nhiệt kế thuỷ ngân.
- Kính hiển vi.
- Cân điện tử
- Máy đo pH
- Dao mổ, kéo, khay, kim chích, thau, lọ, thước kẻ vạch (mm), bàn đo cá.
3.1.3 Cách pha thuốc và cách tiêm thuốc cho cá
Não thùy được lấy từ lọ đặt vào trong tờ giấy sạch, chờ cho bốc hơi hết acetone
thì cho vào trong cối sứ, dùng chày chà nhuyễn não thùy bột nhão ta dùng kim
tiêm bơm nước muối sinh lý vào pha trộn cho đều với thể tích cần dùng.
Khi dùng các loại kích tố như HCG, LHRHa thì dùng bơm tiêm bơm nước lọc
với thể tích cần dùng vào lọ rồi lắc nhẹ. Đối với lọ chứa HCG ta dùng thêm một
23
24
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm có 3 NT với 3 lần lặp lại ở
các liều lượng khác nhau.
Nghiệm thức Liều kích dục tố não thùy + HCG
mg + UI/kg cá cái
1 1 + 1000
2 1 + 1500
3 1 + 2000
Thí nghiệm 2 : Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng Não thùy + LHRH_a lên
sự sinh sản của cá rô đồng.
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm có 3 NT với 3 lần lặp lại ở
các liều lượng khác nhau.
Nghiệm thức Liều kích dục tố Não thùy + LHRH_a
mg + µg/kg cá cái
1 1 + 50
2 2 + 50
3 3+ 50
Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng LHRH_a + HCG lên sự
sinh sản của cá rô đồng
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm có 3 NT với 3 lần lặp lại ở
các liều lượng khác nhau.
Nghiệm thức Liều kích dục tố LHRH_a + HCG
µg + UI/kg cá cái
1 50 + 1000
2 50 + 1500
3 50 + 2000
25
tinh được tính theo công thức: