Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, vẫn không ít người coi văn hoá là lĩnh vực đứng ngoài kinh
tế, thậm chí phụ thuộc vào kinh tế, bám sau kinh tế. Nghĩa là chỉ khi nào kinh
tế phát triển ổn định thì mới có điều kiện để chăm lo đến đời sống tinh thần.
Tuy nhiên, nói đến văn hoá là nói đến cái đúng, cái đẹp, cái tốt, nghĩa là nói
đến phẩm chất thuộc đạo đức trong các mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với tự nhiên cũng như trong sự tu dưỡng không ngừng
để mong tiến tới hoàn thiện bản thân. Điều quan trọng để phát triển hoạt động
kinh doanh là kết hợp được giữa văn hóa và kinh doanh. Như vậy làm sao có
thể dung hoà hai lĩnh vực nói trên? Làm sao có thể đưa nhân tố văn hoá vào
kinh doanh và ngược lại, đưa các nhân tố kinh doanh vào văn hoá, nhưng
không làm tổn hại đến văn hoá?
Ngày nay, cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập của các nước trên
thế giới mỗi nước muốn đứng vững trên thương trường ngoài việc có một
tiềm lực kinh tế mạnh mẽ cũng cần phải có văn hóa kinh doanh.
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu và là một yêu cầu khách quan
đối với bất kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển. Việt Nam không nằm
ngoài xu hướng khách quan đó. Trong lĩnh vực Ngân hàng, để thực hiện hội
nhập, từ nay đến 2010, Việt Nam tiếp tục thực thi các cam kết trong Hiệp
định Thương mại Việt- Mỹ, bắt đầu thực hiện Hiệp định chung về Thương
mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Theo các
cam kết này, đến năm 2010, các ngân hàng Mỹ cũng được đối xử bình đẳng
như tất cả các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước.
Bắt đầu từ 2011 đến 2020, Việt Nam phải thực hiện những cam kết còn
lại trong khuôn khổ của Hiệp định thương mại Việt Mỹ cũng như các yêu cầu
còn lại của GATS về mở cửa dịch vụ tài chính- ngân hàng.
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
1
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
Như vậy, sau khi hội nhập ngành ngân hàng ở Việt Nam đứng trước
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA KINH
DOANH TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.Khái quát về văn hóa kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về văn hóa kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm văn hóa
Muốn nghiên cứu vai trò của văn hóa đối với phát triển, trước tiên phải có
một khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu trúc của nó.
Trên thực tế, cũng đã có rất nhiều người cố gắng định nghĩa văn hóa. Nhưng
cho đến nay vẫn chưa có được một sự nhất trí và cũng chưa có định nghĩa nào
thoả mãn được cả về định tính và định lượng
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn, liên quan đến mọi
mặt của cuộc sống con người và do vậy có rất nhiều cách hiểu. Có tới hàng
trăm định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và
đánh giá khác nhau. Từ năm 1952, hai nhà nhân loại học người Mỹ là Alfred
Kroeber và Clyde Kluckhohn đã thống kê được 164 định nghĩa khác nhau về
văn hóa trong các công trình nghiên cứu nổi tiếng thế giới. Các định nghĩa về
văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các
định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều.
- Theo nghĩa gốc của từ
Tại phương Tây, văn hóa – culture (trong tiếng Anh, tiếng Pháp) hay
kultur (tiếng Đức) … đều xuất sứ từ chữ Latinh cultus có nghĩa là khai hoang,
trồng trọt, trông nom cây lương thực, nói ngắn gọn là sự vun trồng. Sau đó từ
cultus được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo
dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người.
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
3
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa bao hàm ý nghĩa văn là
vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được
bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm
tới “chân - thiện – mỹ”. Đó là ba giá trị trụ cột vĩnh hằng của văn hóa nhân
loại.
Cho nên, theo nghĩa này, văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của
con người dù đó chỉ là những suy tư thầm kín, những giao tiếp ứng xử cho
đến những hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội. Như vậy, hoạt động văn hóa
là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con
người khát vọng hướng tới chân - thiện – mỹ và khả năng sáng tạo chân –
thiện – mỹ trong đời sống.
Theo UNESCO “ Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện
mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm … Văn hóa không chỉ bao gồm
nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con
người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng …”
Theo Hồ Chí Minh: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa
học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về
mặc, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của phương thức sinh
hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng
những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Theo E.Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả,
là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả”
+ Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con
người. Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, vật lý học, hóa học
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
5
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
…), văn hóa nghệ thuật ( văn học, điện ảnh … ) được coi là hai phân hệ chính
của hệ thống văn hóa.
+ Theo nghĩa hẹp hơn nữa, văn hóa được coi như một ngành – ngành văn hóa
– nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế - kỹ thuật khác. Cách hiểu này
niệm về văn hóa như sau:
“ Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra
trong quá trình lịch sử”.
* Những nét đặc trưng của văn hóa
Văn hóa có một số đặc trưng tiêu biểu sau:
- Văn hóa mang tính tập quán: Văn hóa quy định những hành vi được
chấp nhận hay không được chấp nhận trong một xã hội cụ thể. Có
những tập quán đẹp tồn tại lâu đời như một sự khẳng định những nét
độc đáo của một nền văn hóa này so với nền văn hóa kia như tập quán
“mời trầu” của người Việt Nam, tập quán các thiếu nữ Nga mời
khách bánh mỳ và muối. Song cũng có những tập quán không dễ gì
cảm thông ngay như tập quán “cà răng căng tai” của một số dân tộc
thiểu số của Việt Nam.
- Văn hóa mang tính cộng đồng: Văn hóa không thể tồn tại do chính
bản thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố
của mọi thành viên trong xã hội. Văn hóa như là một sự quy ước
chung cho các thành viên trong cộng đồng. Đó là những lề thói,
những tập tục mà một cộng đồng người cùng tuân theo một cách rất
tự nhiên, không cần phải ép buộc. Một người nào đó làm khác đi sẽ bị
cộng đồng lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về mặt pháp lí những việc
làm của anh ta không có gì là phi pháp.
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
7
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
- Văn hóa mang tính dân tộc: Văn hóa tạo nên nếp suy nghĩ và cảm
nhận chung của từng dân tộc mà người dân tộc khác không dễ gì hiểu
được. Vì thế mà một câu chuyện cười có thể làm cho người dân các
nước phương Tây cười chảy nước mắt mà người dân Châu Á chẳng
thấy có gì hài hước ở đó cả. Vì vậy, cùng một thông điệp mà ở nhiều
nước lại có thể mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.
- Văn hóa luôn tiến hóa: Một nền văn hóa không bao giờ tĩnh lại và bất
biến. Ngược lại văn hóa luôn luôn thay đổi và rất năng động. Nó luôn
tự điều chỉnh cho phù hợp với trình độ và tình hinh mới. Trong quá
trình hội nhập và giao thoa với các nền văn hóa khác, nó có thể tiếp
thu các giá trị tiến bộ, hoặc tích cực của các nền văn hóa khác. Ngược
lại, nó cũng tác động ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác.
Việc nắm bắt được những nét đặc trưng của văn hóa cho chúng ta một
tầm nhìn bao quát, rộng mở và một thái độ hết sức quan trọng và thận trọng
với những vấn đề văn hóa. Mọi sự kết luận vội vàng hoặc một sự thiếu trách
nhiệm đều có thể làm thui chột khả năng sáng tạo văn hóa. Nhận biết đầy đủ
và sâu sắc những đặc trưng này sẽ giúp chúng ta xác định được biểu hiện và
vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội nói chung và trong hoạt động kinh
doanh nói riêng.
1.1.1.2. Khái niệm văn hóa kinh doanh
Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của con người, xuất hiện cùng với
hàng hóa và thị trường. Nếu là danh từ thì kinh doanh là một nghề - được
dùng để chỉ những người thực hiện các hoạt động nhằm mục đích kiếm lợi,
còn nếu là động từ thì kinh doanh là một hoạt động – là việc thực hiện một,
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ
sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ trên thị trường. Dù xét từ giác độ nào thì
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
mục đích chính của kinh doanh là đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh
hay bản chất của kinh doanh là để kiếm lời.
Các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh là những người làm kinh
doanh, họ gồm các cấp độ như cá nhân, nhóm và tổ chức; họ có mối liên hệ
liên kết chặt chẽ với nhau và tạo thành tầng lớp các nhà kinh doanh hay tầng
lớp doanh nhân. Nhà kinh doanh sẽ căn cứ vào nhu cầu, thị hiếu và sở thích
của khách hàng để cung cấp hàng hóa và dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận.
1.1.2.1. Văn hóa kinh doanh đối với xã hội
Để biết được vai vai trò của văn hóa đối với xã hội như thế nào thì trước tiên
chúng ta nên tìm hiểu vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội như
thế nào.
* Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển xã hội
Có quan điểm cho rằng: sự phát triển của các quốc gia chính là sự tăng
trưởng cao về mặt kinh tế. Quan điểm này có nguồn gốc từ lý luận “quyết
định luật kinh tế” cho rằng kinh tế quy định,quyết định mọi mặt của đời sống
xã hội và vì vậy, phát triển kinh tế bằng mọi hình thức và với bất kỳ giá nào là
mục đích tối cao của các quốc gia.
Nhưng thực tế cho thấy rằng việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh
tế bằng mọi giá có những thành tựu là nhu cầu vật chất của dân cư được đáp
ứng, các thành tựu về khoa học công nghệ đã giúp con người thám hiểm được
vũ trụ, đại dương … nhưng kèm theo nó là biết bao hậu quả nghiêm trọng đe
dọa cuộc sống con người như ô nhiễm môi trường, thiên tai, bệnh tật …
Để lập lại cân bằng giữa tự nhiên và con người, giữa tăng trưởng kinh
tế với ổn định và phát triển hài hòa trình độ phát triển của các quốc gia không
chỉ căn cứ vào sự tăng trưởng hay sự phát triển kinh tế của nó, mà thước đo
sự phát triển quốc gia căn cứ vào mức độ phát triển con người.
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
11
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
Như vậy, mục đích hay mục tiêu cao cả nhất của các quốc gia phải là
sự phát triển con người toàn diện, là việc nâng cao chất lượng đời sống cho
nhân dân chứ không phải là mục tiêu phát triển kinh tế hay phat triển một số
bộ phận, một số mặt nào đó của đời sống xã hội. Và văn hóa theo nghĩa rộng
nhất – nghĩa được sử dụng phổ biến – với tư cách là phương thức sống và sự
phát triển con người toàn diện – chính là mục tiêu tối thượng cho sự phát triển
của các quốc gia.
* Văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội
thì sẽ tạo được động lực rất mạnh mẽ thúc đẩy cả đất nước đứng lên.
- Thứ ba: Các loại hình văn hóa nghệ thuật, các sản phẩm văn hóa hữu
hình và vô hình nếu được khai thác và phát triển hợp lý sẽ tạo ra sự
giàu có về đời sống vật chất và tinh thần của quốc gia, tạo động lực
thúc đẩy phát triển xã hội.
*Văn hóa là linh hồn và hệ điều tiết của phát triển
Vai trò của các nhà nước là lãnh đạo và quản lý sự phát triển kinh tế -
xã hội của quốc gia. Để thực hiện vai trò này, nhà nước phải định hướng
đường lối, kế hoạch, chính sách, mô hình và các chiến lược phát triển của
quốc gia. Trong công việc và quá trình này, văn hoá đóng vai trò là “tính
định” của sự phát triển, là nhân tố cơ bản mà nhà nước cần phải dựa vào để
tạo lập và vận hành mô hình phát triển, một kiểu quốc gia mà nó cho là tốt
nhất hay tối ưu nhất.
Nhân tố văn hóa có trong mọi công tác, hoạt động xã hội và thường tác
động tới con người một cách gián tiếp, vô hình tạo ra các “khuôn mẫu” xã
hội. Do đó văn hóa đóng vai trò điều tiết, dẫn dắt sự phát triển thể hiện ở mọi
mặt của đời sống xã hội : chính trị, hành chính nhà nước, phát triển kinh tế,
giáo dục, ngoại giao … sự định hướng và tác động của văn hóa sẽ mạnh mẽ
hơn, hiệu quả hơn nếu nhà nước tổ chức nghiên cứu tìm ra hệ thống các giá trị
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
13
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
của văn hóa dân tộc và chính thức phát huy, phát triển bản sắc của dân tộc
trong mọi mặt và quá trình phát triển xã hội.
Như vậy, văn hóa có tác động rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế
xã hội. Khi văn hóa được ứng dụng trong linh vực kinh – gọi là văn hóa kinh
doanh – thì sự tác động này còn mang ý nghĩa trực tiếp hơn. Bởi vì văn hóa
kinh doanh sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho những doanh nghiệp áp dụng. Sự
phát triển của một quốc gia bao hàm cả sự phát triển kinh tế, khi có tác động
của văn hóa kinh doanh, kinh tế có thêm bàn đạp để thúc đẩy sự tăng trưởng
có tính thuyết phục khi nó tách ra khỏi lợi ích cá nhân, còn văn hoá doanh
nghiệp thì phải bảo vệ cho mọi quyền lợi và lợi ích của cá nhân. Văn hoá của
doanh nghiệp được thể hiện ở phong cách lãnh đạo của người lãnh đạo và tác
phong làm việc của nhân viên
Văn hoá doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự phát
triển của mỗi doanh nghiệp, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu
tố văn hoá, ngôn ngữ, tư liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức thì
doanh nghiệp đó khó có thể đứng vững và tồn tại được. Trong khuynh hướng
xã hội ngày nay thì các nguồn lực của một doanh nghiệp là con người mà văn
hoá doanh nghiệp là cái liên kết và nhân lên nhiều lần các giá trị của từng
nguồn lực riêng lẻ. Do vậy, có thể khẳng định văn hoá doanh nghiệp là tài sản
vô hình của mỗi doanh nghiệp.
Ngày nay, doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới.
Toàn cầu hóa kinh tế đòi hỏi việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp phải có
những bước tính khôn ngoan, lựa chọn sáng suốt. Không thể để xảy ra tình
trạng quốc tế hóa văn hóa doanh nghiệp, mà phải trên cơ sở văn hóa Việt
Nam để thu hút lấy tinh hoa của nhân loại, sáng tạo ra văn hóa doanh nghiệp
tiên tiến nhưng phù hợp với tình hình và bản sắc văn hóa Việt Nam.
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
15
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
Để phát huy ưu thế của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh
cạnh tranh kinh tế toàn cầu, khi đối mặt với các doanh nghiệp nước ngoài, các
doanh nghiệp Việt Nam cần phải xem xét và kiện toàn hơn nữa vấn đề văn
hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp khi được xây dựng hoàn thiện
không những kích thích sức phát triển sản xuất mà còn có ý nghĩa quan trọng
để xây dựng uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp. Hiện nay, việc xây dựng
văn hóa doanh nghiệp ở nước ta cần chú ý đồng bộ 5 phương diện sau:
Một là, xây dựng quan niệm lấy con người làm gốc. Văn hóa doanh
nghiệp lấy việc nâng cao tố chất toàn diện của con người làm trung tâm để
cầu của người tiêu dùng cùng với việc nâng cao chất lượng phục vụ để tăng
cường sức mua của khách hàng; 3- Xây dựng quan niệm phục vụ là thứ nhất,
doanh lợi là thứ hai. Tiến hành khai thác văn hóa đối với môi trường sinh tồn
của doanh nghiệp, xây dựng hình ảnh doanh nghiệp tốt đẹp.
Bốn là, xí nghiệp trong quá trình phát triển phải tăng cường ý thức đạo
đức chung, quan tâm đến an sinh xã hội. Từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX vấn đề
bảo vệ môi trường, vấn đề sản xuất các loại hàng hóa tiêu dùng không độc hại
đã thành định hướng giá trị mới của tất cả các quốc gia trên thế giới. Đó là
một thách thức lớn đối với tất cả các doanh nghiệp. Ở nước ta hiện nay, các
doanh nghiệp phát triển nhanh chóng nhưng hậu quả của sự phát triển ấy cũng
hết sức nặng nề mà biểu hiện rõ nhất là ô nhiễm môi trường và lãng phí tài
nguyên. Để khắc phục tình trạng đó, cần thông qua văn hóa doanh nghiệp
hướng tới mục tiêu phát triển lâu dài, bền vững tránh được tình trạng phát
triển vì lợi ích trước mắt mà bỏ quên lợi ích con người. Định hướng của phát
triển là phải kết hợp một cách hữu cơ sự phát triển của doanh nghiệp với tiến
bộ của loài người nhằm bảo đảm sự phát triển doanh nghiệp một cách liên
tục, ổn định, hài hòa.
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
17
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
Năm là, xây dựng tinh thần trách nhiệm xã hội. Một doanh nghiệp
không những phải coi sản phẩm của mình là một bộ phận làm nên quá trình
phát triển nhân loại mà còn phải coi việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp
mình là một bộ phận của văn hóa nhân loại. Doanh nghiệp đóng góp cho xã
hội không chỉ ở số lượng của cải mà còn phải thỏa mãn được nhu cầu văn hóa
nhiều mặt của xã hội hiện đại như tích cực ủng hộ, tài trợ cho sự nghiệp giáo
dục, văn hóa, xã hội, thúc đẩy khoa học - kỹ thuật phát triển và tiến bộ. Thông
qua các hoạt động nhân đạo và văn hóa này hình ảnh doanh nghiệp sẽ trở nên
tốt đẹp hơn, uy tín của doanh nghiệp được nâng lên đáng kể. Đó cũng là
hướng phát triển lành mạnh, thiết thực để các doanh nghiệp đóng góp ngày
- Một khách hàng không hạnh phúc sẽ kể về điều này với 9 người khác.
Như vậy, theo những số liệu thống kê trên cho thấy rằng phần lớn khách
hàng sẽ không tự động giãi bày về nỗi thất vọng của họ đối với chất lượng
dịch vụ mà họ sẽ rời bỏ bạn và không bao giờ quay lại nữa.
Do đó, việc hỏi ý kiến khách hàng là cần thiết để nâng chất lượng dịch
vụ cũng như nâng cao doanh số bán hàng. Việc hỏi ý kiến khách hàng về mức
độ thỏa mãn cũng chứng tỏ rằng công ty đang thực sự quan tâm tới công việc
kinh doanh của mình và quan tâm tới khách hàng. Cho dù có thể chúng ta
nghe phải một số lời chỉ trích, bù lại bạn có thể thấy được những công việc
mình đang làm có đúng không và cần phải cải thiện như thế nào. Ngoài các
ích lợi trên, chúng ta sẽ còn có được nhiều ích lợi khác từ việc giao tiếp. Mỗi
cuộc giao tiếp là một cơ hội cho dịch vụ khách hàng.
Trong một nền kinh tế lành mạnh, khách hàng phải được tôn trọng,
không chỉ với nghĩa là những người trả tiền để mua hàng hoá và dịch vụ.
Doanh nhân phải có trách nhiệm đối với hàng hóa và dịch vụ và bảo vệ khách
hàng, cói đó không chỉ như nghĩa vụ hợp đồng mà còn là nghĩa vụ đạo đức.
1.1.3. Nội dung cơ bản của văn hóa kinh doanh
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
19
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
Văn hóa kinh doanh là một phương diện của văn hóa trong xã hội và là
văn hóa trong lĩnh vực kinh doanh. Văn hóa kinh doanh bao gồm toàn bộ các
giá trị vật chất và tinh thần, những phương thức và kết quả hoạt động của con
người được tạo ra và sử dụng trong quá trình kinh doanh. Theo hướng tiếp
cận này, để tạo nên hệ thống văn hóa kinh doanh hoàn chỉnh với bốn nhân tố
cấu thành (bao gồm triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh
nhân và các hình thức văn hóa khác) chủ thể kinh doanh phải kết hợp đồng
thời hai hệ giá trị sau:
Trước hết, chủ thể kinh doanh sẽ lựa chọn và vận dụng các giá trị văn
hóa dân tộc, văn hóa xã hội… vào hoạt động kinh doanh để tạo ra sản phẩm,
Một số triết lý kinh doanh của các doanh nhân Trung Quốc đã đưa họ
đến những thành công lớn trong hoạt động kinh doanh của mình:
- Phải có những cái nhìn mới mẻ, mạnh bạo: khác với nhiều doanh
nhân ở các quốc gia khác, các doanh nhân Trung Quốc không chấp
nhận “trói mình” trong một ngành nào đó. Họ không ngần ngại thay
đổi và biết tạo ra những thành tựu kỳ diệu cũng như gây được ấn
tượng ngay trong các ngành nghề truyền thống. Wong Kwong Yu, tỷ
phú trong việc bán lẻ trực tuyến của Trung Quốc cũng có cách xâm
nhập thị trường một cách rất sáng tạo. Ông không xâm nhập vào thị
trường Bắc Kinh đã có sẵn những đối tác mạnh mà ông lại chọn
Thượng Hải, bằng cách đưa nhân sự của mình sang công ty Wong
mới thành lập có tên là GoMe Tech. Vốn thực của công ty chính là
lương năm đầu tiên trả cho các nhân viên đó. Sau 1 năm công ty mới
trả lương cho các nhân viên, với vốn góp bằng 1 năm tiên lương của
mình, các nhân viên vẫn được bảo toàn trong số vốn đầu tư đồng thời
được chia sẻ lợi nhuận khi làm ăn có hiệu quả.
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
21
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
- Cẩn trọng và hiệu quả trong quản lý : Các doanh nhân Trung Quốc
thường suy tính và lựa chọn cho mình những phương thức tổ chức
quản lý rất có hiệu quả. Họ thường chú trọng vào việc quản lý theo
định hướng một cách có tổ chức, quan tâm đến các nhà quản lý, vai
trò và trách nhiệm của nhà quản lý và đặc biệt là yếu tố tài chính.
- Giàu có nhưng không hoang phí.
- Khả năng suy tính và phán đoán.
- Coi trọng yếu tố nội lực và những giá trị truyền thống
Giải trí ngoài công sở: Gần một nửa các doanh nhân cho rằng mỗi ngày
trôi qua đối với họ tại công ty hay tập đoàn là một ngày đấu tranh. Tuy nhiên,
một trong những nhân tố giúp họ không ngừng vươn tới thành công là họ luôn
- Quan hệ trong nội bộ đơn vị kinh doanh và quan hệ với xã hội
* Đạo đức kinh doanh
Hiện nay, các doanh nghiệp đều thiết lập cho mình những quy tắc đạo
đức riêng dựa trên các khái niệm đạo đức thương trường đã có nền móng từ
hàng ngàn năm trước.
Đạo đức kinh doanh là hệ thống các quan niệm, các quy tắc xử sự, các
chuẩn mực đức, các quy chế, nội quy… có vai trò điều tiết các hoạt động của
quá trình kinh doanh nhằm hướng đến triết lý đã định.
Viện đạo đức kinh doanh quốc tế ( International Business Ethics
Institute) ở Mỹ đã từng xác định 4 công việc mà công ty cần phải thực hiện để
củng cố và gia tăng uy tín cho thương hiệu:
- Trung thực với các nhà đầu tư và tiêu dùng.
- Cải thiện ngày một tốt hơn tình hình nội bộ hãng bằng cách gia tăng
tinh thần trách nhiệm và lợi ích của nhân viên, tăng năng suất lao
động.
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
23
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp Khoa Ng©n hµng – Tµi chÝnh
- Đánh bóng thương hiệu một cách chuyên nghiệp và thực chất.
- Xử lý một cách bài bản những việc liên quan đến cổ phiếu và tài
chính, luôn luôn nhớ rằng thương hiệu tốt không tự nhiên mà có và
lợi nhuận tăng theo đạo đức.
Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của đạo đức kinh doanh là
thái độ của lãnh đạo công ty đối với các nhân viên. Theo một công trình
nghiên cứu do Tạp chí Fast Company tiến hành năm 2001, 26% số nhân viên
Mỹ tuyên bố rằng họ quan tâm thực sự tới thành công của công ty họ làm
việc; 55% đánh đồng lợi ích công ty với lợi ích của ông chủ; chỉ có 19%
không yêu công ty mà họ phục vụ, chỉ vì đối xử không thỏa đáng với nhân
viên mà đại đa số các doanh nghiệp bị mất vô ích tới hai phần ba thời gian
làm việc của nhân viên.
* Văn hóa doanh nhân
Văn hóa doanh nhân chính là tài năng, đạo đức và phong cách của nhà
kinh doanh. Nó có vai trò quyết định trong việc hình thành văn hóa kinh
doanh của chủ thể kinh doanh.
Kinh doanh là một nghề phức tạp, đòi hỏi chủ thể kinh doanh vừa có
đức vừa có tài, trong đó đức là cơ sở của tài. Hay nói cách khác thì đạo đức,
tài năng, phong cách của chủ thể kinh doanh sẽ có vai trò quyết định trong
việc hình thành văn hóa kinh doanh. Doanh nhân không chỉ là người quyết
định cơ cấu tổ chức và công nghệ kinh doanh mà còn là người sáng tạo ra các
biểu tượng, các ý thức hệ, ngôn ngữ, niềm tin, nghi lễ, huyền thoại … Do đó,
trong quá trình xây dựng và phát triển kinh doanh, văn hóa của doanh nhân sẽ
được phản chiếu lên văn hóa kinh doanh.
Phong cách doanh nhân chính là sự tổng hợp các yếu tố diện mạo, ngôn
ngữ, cách cư xử và cách hành động của doanh nhân. Phong cách của doanh
nhân thường được đồng nhất với phong cách kinh doanh của họ vì nhà kinh
§ång N«ng Nh QuÕ Ng©n hµng 46Q
25