Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, vẫn không ít người coi văn hoá là lĩnh vực đứng ngoài kinh
tế, thậm chí phụ thuộc vào kinh tế, bám sau kinh tế. Nghĩa là chỉ khi nào kinh
tế phát triển ổn định thì mới có điều kiện để chăm lo đến đời sống tinh thần.
Tuy nhiên, nói đến văn hoá là nói đến cái đúng, cái đẹp, cái tốt, nghĩa là nói
đến phẩm chất thuộc đạo đức trong các mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với tự nhiên cũng như trong sự tu dưỡng không ngừng
để mong tiến tới hoàn thiện bản thân. Điều quan trọng để phát triển hoạt động
kinh doanh là kết hợp được giữa văn hóa và kinh doanh. Như vậy làm sao có
thể dung hoà hai lĩnh vực nói trên? Làm sao có thể đưa nhân tố văn hoá vào
kinh doanh và ngược lại, đưa các nhân tố kinh doanh vào văn hoá, nhưng
không làm tổn hại đến văn hoá?
Ngày nay, cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập của các nước trên
thế giới mỗi nước muốn đứng vững trên thương trường ngoài việc có một
tiềm lực kinh tế mạnh mẽ cũng cần phải có văn hóa kinh doanh.
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu và là một yêu cầu khách quan
đối với bất kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển. Việt Nam không nằm
ngoài xu hướng khách quan đó. Trong lĩnh vực Ngân hàng, để thực hiện hội
nhập, từ nay đến 2010, Việt Nam tiếp tục thực thi các cam kết trong Hiệp
định Thương mại Việt- Mỹ, bắt đầu thực hiện Hiệp định chung về Thương
mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Theo các
cam kết này, đến năm 2010, các ngân hàng Mỹ cũng được đối xử bình đẳng
như tất cả các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước.
Bắt đầu từ 2011 đến 2020, Việt Nam phải thực hiện những cam kết còn
lại trong khuôn khổ của Hiệp định thương mại Việt Mỹ cũng như các yêu cầu
còn lại của GATS về mở cửa dịch vụ tài chính- ngân hàng.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như vậy, sau khi hội nhập ngành ngân hàng ở Việt Nam đứng trước
những thách thức rất lớn đó là sự cạnh tranh mạnh mẽ của các ngân hàng
1.1.Khái quát về văn hóa kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về văn hóa kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm văn hóa
Muốn nghiên cứu vai trò của văn hóa đối với phát triển, trước tiên phải có
một khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu trúc của nó.
Trên thực tế, cũng đã có rất nhiều người cố gắng định nghĩa văn hóa. Nhưng
cho đến nay vẫn chưa có được một sự nhất trí và cũng chưa có định nghĩa nào
thoả mãn được cả về định tính và định lượng
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn, liên quan đến mọi
mặt của cuộc sống con người và do vậy có rất nhiều cách hiểu. Có tới hàng
trăm định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và
đánh giá khác nhau. Từ năm 1952, hai nhà nhân loại học người Mỹ là Alfred
Kroeber và Clyde Kluckhohn đã thống kê được 164 định nghĩa khác nhau về
văn hóa trong các công trình nghiên cứu nổi tiếng thế giới. Các định nghĩa về
văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các
định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều.
- Theo nghĩa gốc của từ
Tại phương Tây, văn hóa – culture (trong tiếng Anh, tiếng Pháp) hay
kultur (tiếng Đức) … đều xuất sứ từ chữ Latinh cultus có nghĩa là khai hoang,
trồng trọt, trông nom cây lương thực, nói ngắn gọn là sự vun trồng. Sau đó từ
cultus được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo
dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa bao hàm ý nghĩa văn là
vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được
bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm
quyền. Còn chữ hóa trong văn hóa là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái
đúng) để cảm hóa giáo dục và hiện thực hóa trong thực tiễn, đời sống. Vậy
văn hóa chính là nhân hóa hay nhân văn hóa. Đường lối văn trị hay đức trị
đến những hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội. Như vậy, hoạt động văn hóa
là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con
người khát vọng hướng tới chân - thiện – mỹ và khả năng sáng tạo chân –
thiện – mỹ trong đời sống.
Theo UNESCO “ Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện
mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm … Văn hóa không chỉ bao gồm
nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con
người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng …”
Theo Hồ Chí Minh: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa
học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về
mặc, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của phương thức sinh
hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng
những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Theo E.Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả,
là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả”
+ Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con
người. Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, vật lý học, hóa học
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
…), văn hóa nghệ thuật ( văn học, điện ảnh … ) được coi là hai phân hệ chính
của hệ thống văn hóa.
+ Theo nghĩa hẹp hơn nữa, văn hóa được coi như một ngành – ngành văn hóa
– nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế - kỹ thuật khác. Cách hiểu này
thường kèm theo cách đối xử sai lệch về văn hóa: coi văn hóa là lĩnh vực hoạt
động đứng ngoài kinh tế, sống được là nhờ trợ cấp của nhà nước và “ ăn theo”
nền kinh tế.
Trong ba cấp độ phạm vi nghiên cứu kể trên về thuật ngữ văn hóa, hiện
nay người ta thường dùng văn hóa theo nghĩa rộng nhất. Loại trừ những
chấp nhận hay không được chấp nhận trong một xã hội cụ thể. Có những tập
quán đẹp tồn tại lâu đời như một sự khẳng định những nét độc đáo của một
nền văn hóa này so với nền văn hóa kia như tập quán “mời trầu” của người
Việt Nam, tập quán các thiếu nữ Nga mời khách bánh mỳ và muối. Song cũng
có những tập quán không dễ gì cảm thông ngay như tập quán “cà răng căng
tai” của một số dân tộc thiểu số của Việt Nam.
- Văn hóa mang tính cộng đồng: Văn hóa không thể tồn tại do chính bản
thân nó mà phải dựa vào sự tạo dựng, tác động qua lại và củng cố của mọi
thành viên trong xã hội. Văn hóa như là một sự quy ước chung cho các thành
viên trong cộng đồng. Đó là những lề thói, những tập tục mà một cộng đồng
người cùng tuân theo một cách rất tự nhiên, không cần phải ép buộc. Một
người nào đó làm khác đi sẽ bị cộng đồng lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về
mặt pháp lí những việc làm của anh ta không có gì là phi pháp.
- Văn hóa mang tính dân tộc: Văn hóa tạo nên nếp suy nghĩ và cảm nhận
chung của từng dân tộc mà người dân tộc khác không dễ gì hiểu được. Vì thế
mà một câu chuyện cười có thể làm cho người dân các nước phương Tây cười
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chảy nước mắt mà người dân Châu Á chẳng thấy có gì hài hước ở đó cả. Vì
vậy, cùng một thông điệp mà ở nhiều nước lại có thể mang ý nghĩa hoàn toàn
khác nhau.
- Văn hóa có tính chủ quan: Con người ở các nền văn hóa khác nhau có
suy nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự việc. Cùng một sự việc có thể
được hiểu một cách khác nhau ở các nền văn hóa khác nhau. Một cử chỉ thọc
tay vào túi quần và ngồi gếch chân lên bàn để giảng bài của một thầy giáo có
thể được coi là rất bình thường ở nước Mỹ, trái lại không thể chấp nhận được
ở nhiều nước khác.
- Văn hóa có tính khách quan: Văn hóa thể hiện quan điểm chủ quan của
từng dân tộc, nhưng lại có cả một quá trình hình thành mang tính lịch sử, xã
hội được chia sẻ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác không phụ thuộc
doanh nói riêng.
1.1.1.2. Khái niệm văn hóa kinh doanh
Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của con người, xuất hiện cùng với
hàng hóa và thị trường. Nếu là danh từ thì kinh doanh là một nghề - được
dùng để chỉ những người thực hiện các hoạt động nhằm mục đích kiếm lợi,
còn nếu là động từ thì kinh doanh là một hoạt động – là việc thực hiện một,
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ
sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ trên thị trường. Dù xét từ giác độ nào thì
mục đích chính của kinh doanh là đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh
hay bản chất của kinh doanh là để kiếm lời.
Các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh là những người làm kinh
doanh, họ gồm các cấp độ như cá nhân, nhóm và tổ chức; họ có mối liên hệ
liên kết chặt chẽ với nhau và tạo thành tầng lớp các nhà kinh doanh hay tầng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lớp doanh nhân. Nhà kinh doanh sẽ căn cứ vào nhu cầu, thị hiếu và sở thích
của khách hàng để cung cấp hàng hóa và dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận.
Ngoài ra, trong quá trình kinh doanh, các doanh nhân có mối liên hệ chặt chẽ
với môi trường bên ngoài vì hoạt động của nó có ảnh hưởng rất lớn đến các
hoạt động khác của con người, nên ngoài sự điều chỉnh từ phía khách hàng,
kinh doanh còn chịu sự điều tiết của pháp lý, xã hội … Đồng thời, những tín
hiệu từ phía môi trường bên ngoài cũng rất có ý nghĩa với chủ thể kinh doanh,
nó tác dụng đến quá trình tồn tại và quá trình ra quyết định của chủ thể kinh
doanh. Như vậy, chủ thể kinh doanh và môi trường bên ngoài có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau, không có môi trường bên ngoài thì không thể tồn tại chủ
thể kinh doanh lẫn hoạt động kinh doanh và ngược lại.
Trong kinh doanh, những sắc thái văn hóa có trong toàn bộ quá trình tổ
chức và hoạt động của hoạt động kinh doanh, nó thể hiện từ cách chọn và
cách bố trí máy móc và dây chuyền công nghệ; từ cách tổ chức bộ máy về
nhân sự và hình thành quan hệ giao tiếp ứng xử giữa các thành viên trong tổ
dọa cuộc sống con người như ô nhiễm môi trường, thiên tai, bệnh tật …
Để lập lại cân bằng giữa tự nhiên và con người, giữa tăng trưởng kinh
tế với ổn định và phát triển hài hòa trình độ phát triển của các quốc gia không
chỉ căn cứ vào sự tăng trưởng hay sự phát triển kinh tế của nó, mà thước đo
sự phát triển quốc gia căn cứ vào mức độ phát triển con người.
Như vậy, mục đích hay mục tiêu cao cả nhất của các quốc gia phải là
sự phát triển con người toàn diện, là việc nâng cao chất lượng đời sống cho
nhân dân chứ không phải là mục tiêu phát triển kinh tế hay phat triển một số
bộ phận, một số mặt nào đó của đời sống xã hội. Và văn hóa theo nghĩa rộng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhất – nghĩa được sử dụng phổ biến – với tư cách là phương thức sống và sự
phát triển con người toàn diện – chính là mục tiêu tối thượng cho sự phát triển
của các quốc gia.
* Văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội
Động lực của sự phát triển là cái thúc đẩy sự phát triển khi bản thân sự
phát triển đó đã có, đã nảy sinh. Muốn biết những động lực của sự phát triển
xã hội cần phải tìm ra những yếu tố gây nên, kích thích, thúc đẩy sự hoạt động
của con người và trước hết là của khối đông người.
Động lực phát triển của xã hội hay của một quốc gia là một hệ thống
động lực mà trong đó văn hóa có vị trí trung tâm là cốt lõi của nó. Một số lý
do chính để văn hóa có vai trò tạo ra sự kích thích, thúc đẩy và phát triển của
các quốc gia và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung như sau:
- Thứ nhất: Văn hóa với hệ thống những thành tố của nó – bao gồm các
giá trị vật chất như máy móc, dây chuyền công nghệ, công trình kiến trúc, sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ … và các giá trị tinh thần như các phát minh sáng
kiến, lối sống, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghệ thuật âm thanh, lễ hội,
sân khấu tuồng chèo kịch, nghề thủ công, ngôn ngữ, văn chương, điện ảnh
nhiếp ảnh … - chính là “kiểu sống” của một dân tộc nhất định; nó là lối sống
đặc thù và rất ổn định của dân tộc ấy. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
giáo dục, ngoại giao … sự định hướng và tác động của văn hóa sẽ mạnh mẽ
hơn, hiệu quả hơn nếu nhà nước tổ chức nghiên cứu tìm ra hệ thống các giá trị
của văn hóa dân tộc và chính thức phát huy, phát triển bản sắc của dân tộc
trong mọi mặt và quá trình phát triển xã hội.
Như vậy, văn hóa có tác động rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế
xã hội. Khi văn hóa được ứng dụng trong linh vực kinh – gọi là văn hóa kinh
doanh – thì sự tác động này còn mang ý nghĩa trực tiếp hơn. Bởi vì văn hóa
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kinh doanh sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho những doanh nghiệp áp dụng. Sự
phát triển của một quốc gia bao hàm cả sự phát triển kinh tế, khi có tác động
của văn hóa kinh doanh, kinh tế có thêm bàn đạp để thúc đẩy sự tăng trưởng
đồng thời cũng tạo nên sự phát triển đối với một xã hội.
1.1.2.2. Vai trò của văn hóa kinh doanh với doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là sự tổng hòa của quan niệm giá trị, tiêu chuẩn
đạo đức, triết lý kinh doanh, quy phạm hành vi, ý tưởng kinh doanh, phương
thức quản lý và quy tắc chế độ được toàn thể thành viên trong doanh nghiệp
chấp nhận, tuân theo. Văn hóa doanh nghiệp lấy việc phát triển toàn diện con
người làm mục tiêu cuối cùng. Cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp là tinh thần
doanh nghiệp và quan điểm giá trị của doanh nghiệp.
Trong quá trình phát triển, mỗi doanh nghiệp đều nỗ lực xây dựng một hệ
thống quan điểm giá trị để công nhân viên chức chấp nhận, tạo ra sự hài hòa
trong nội bộ doanh nghiệp, một không khí văn hóa tích cực để phát huy thế
mạnh văn hóa của tập thể, tăng cường nội lực và sức mạnh của doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp là một giai đoạn phát triển của tư tưởng quản lý doanh
nghiệp hiện đại, thể hiện sự chuyển dịch chiến lược phát triển kỹ thuật nhằm
tạo nên những sản phẩm hàm chứa hàm lượng văn hóa cao. Bởi thế, có thể coi
văn hóa doanh nghiệp là yếu tố tối quan trọng của thực tiễn doanh nghiệp
đương đại.
Vai trò của văn hóa kinh doanh đối với doanh nghiệp vô cùng quan
cạnh tranh kinh tế toàn cầu, khi đối mặt với các doanh nghiệp nước ngoài, các
doanh nghiệp Việt Nam cần phải xem xét và kiện toàn hơn nữa vấn đề văn
hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp khi được xây dựng hoàn thiện
không những kích thích sức phát triển sản xuất mà còn có ý nghĩa quan trọng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
để xây dựng uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp. Hiện nay, việc xây dựng
văn hóa doanh nghiệp ở nước ta cần chú ý đồng bộ 5 phương diện sau:
Một là, xây dựng quan niệm lấy con người làm gốc. Văn hóa doanh
nghiệp lấy việc nâng cao tố chất toàn diện của con người làm trung tâm để
nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp, làm cho quan niệm giá trị của doanh
nghiệp thấm sâu vào các tầng chế độ chính sách, từng bước chấn hưng, phát
triển doanh nghiệp. Điều đó bao gồm các nội dung cơ bản: 1- Bồi dưỡng tinh
thần trách nhiệm của công nhân viên chức để phát huy tính tích cực, tính chủ
động của họ; 2- Bồi dưỡng quan điểm giá trị doanh nghiệp và tinh thần doanh
nghiệp để nó trở thành nhận thức chung của đông đảo công nhân viên chức và
trở thành động lực nội tại khích lệ tất cả mọi người phấn đấu; 3- Tăng cường
đào tạo và phát triển tài nguyên văn hóa trong doanh nghiệp nhằm tạo ra
không khí văn hóa tốt đẹp để nâng cao tố chất văn hóa và trình độ nghiệp vụ
của công nhân viên chức; 4- Có chế độ thưởng, phạt hợp lý, có cơ chế quản lý
dân chủ khiến cho những người có cống hiến cho sự phát triển của doanh
nghiệp đều được tôn trọng và được hưởng lợi ích vật chất xứng đáng với công
sức mà họ đã bỏ ra.
Hai là, xây dựng quan niệm hướng tới thị trường. Việc các doanh
nghiệp phải trở thành doanh nghiệp tự chủ để phù hợp với kinh tế thị trường
đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh chóng hình thành quan niệm thị trường linh
động, sát với thực tiễn. Quan niệm thị trường bao gồm nhiều mặt như giá
thành, khả năng tiêu thụ, chất lượng đóng gói và chất lượng sản phẩm, các
dịch vụ sau bán hàng, các kỳ khuyến mãi nhằm thu hút khách hàng… Tất cả
phải hướng tới việc tăng cường sức cạnh tranh, giành thị phần cho doanh
hội không chỉ ở số lượng của cải mà còn phải thỏa mãn được nhu cầu văn hóa
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiều mặt của xã hội hiện đại như tích cực ủng hộ, tài trợ cho sự nghiệp giáo
dục, văn hóa, xã hội, thúc đẩy khoa học - kỹ thuật phát triển và tiến bộ. Thông
qua các hoạt động nhân đạo và văn hóa này hình ảnh doanh nghiệp sẽ trở nên
tốt đẹp hơn, uy tín của doanh nghiệp được nâng lên đáng kể. Đó cũng là
hướng phát triển lành mạnh, thiết thực để các doanh nghiệp đóng góp ngày
càng nhiều hơn vào công cuộc đổi mới, vì mục đích: “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, văn minh” mà Đảng ta đã đề ra và được toàn dân ủng hộ.
1.1.2.3. Vai trò của văn hóa kinh doanh với khách hàng
“Không có khách hàng sẽ không có bất cứ công ty nào tồn tại”. Nhận định
của nhà kinh tế nổi tiếng Erwin Frand đã cho thấy vai trò của khách hàng
trong mọi hoạt động kinh doanh. Trong những thời kỳ kinh doanh suy thoái,
các doanh nghiệp đã phải đối mặt với sự sụt giảm đáng kể của doanh thu, kéo
theo việc cắt giảm nhân viên và thu hẹp quy mô dịch vụ. Tuy nhiên, điều này
thực sự không giúp doanh nghiệp lấy lại đà tăng trưởng. Và trong lúc khó
khăn, dịch vụ lại càng phải được ưu tiên quan tâm hàng đầu: càng thu hút
được nhiều khách hàng, càng mau chóng và dễ dàng vượt qua giai đoạn
khủng hoảng.
Khi cuộc chiến giá cả gặp thất bại, các công ty thường có xu hướng
xem dịch vụ như một cứu cánh giúp họ có tạo lợi thế cạnh tranh. Nhiều nhà
tiếp thị của các công ty lớn đang quay trở lại với quan điểm “đưa dịch vụ lên
hàng đầu”. Tuy nhiên, trong khi rất nhiều công ty “bán” các dịch vụ khách
hàng hoàn hảo, thì một số công ty chỉ dừng lại ở mức độ “cung cấp”. Vấn đề
chính là ở chỗ có rất ít nhà tiếp thị đã từng một lần thực sự phục vụ khách
hàng của họ.
Trong kinh doanh ý kiến của khách hàng hết sức quan trọng vì sự bất
mãn của khách hàng đôi khi không bắt nguồn từ sản phẩm nghèo nàn, mà lại
nảy sinh từ những thái độ phục vụ khách hàng của nhân viên.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cấu thành (bao gồm triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh
nhân và các hình thức văn hóa khác) chủ thể kinh doanh phải kết hợp đồng
thời hai hệ giá trị sau:
Trước hết, chủ thể kinh doanh sẽ lựa chọn và vận dụng các giá trị văn
hóa dân tộc, văn hóa xã hội… vào hoạt động kinh doanh để tạo ra sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ. Đó là tri thức, kiến thức, sự hiểu biết về kinh doanh được
thể hiện từ việc tuyển chọn nhân công, lựa chọn nguyên nhiên vật liệu, lựa
chọn máy móc dây chuyền công nghệ…; ngôn ngữ được sử dụng trong kinh
doanh; niềm tin, tín ngưỡng và tôn giáo; là các giá trị văn hóa truyền thống;
các hoạt động văn hóa tinh thần…
Đồng thời, trong quá trình hoạt động, các chủ thể kinh doanh cũng tạp
ra các giá trị của riêng mình. Các giá trị này được thể hiện thông qua những
giá trị hữu hình như giá trị của sản phẩm, hình thức mẫu mã sản phẩm; máy
móc, thiết bị nhà xưởng; biểu tượng, khẩu hiệu, lễ nghi, sinh hoạt, thủ tục,
chương trình, truyền thuyết, các hoạt động văn hóa tinh thần (các phong trào
văn nghệ, thể dục thể thao…). Đó còn là những giá trị vô hình như phương
thức tổ chức và quản lí kinh doanh; hệ giá trị, tâm lí và thị hiếu tiêu dùng;
giao tiếp và ứng xử trong kinh doanh; chiến lược, sứ mệnh và mục đích kinh
doanh; các quy tắc, nội quy trong kinh doanh, tài năng kinh doanh…
Tuy nhiên, sự phân biệt hai hệ giá trị kể trên chỉ là tương đối, các giá trị văn
hóa dân tộc, văn hoá xã hội đã được chọn lọc và các giá trị văn hóa được tạo ra
trong quá trình kinh doanh không thể tách bạch, chúng hòa quyện vào nhau tạo
thành một hệ thống văn hóa kinh doanh với bốn nhân tố cấu thành là:
*Triết lý kinh doanh:
Triết lý kinh doanh bao gồm toàn bộ sứ mệnh, tôn chỉ, phương châm,
chiến lược… có vai trò định hướng trong quá trình kinh doanh.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hoạt động kinh doanh kinh doanh chỉ có thể thực hiện khi có đủ 3 yếu
Giải trí ngoài công sở: Gần một nửa các doanh nhân cho rằng mỗi ngày
trôi qua đối với họ tại công ty hay tập đoàn là một ngày đấu tranh. Tuy nhiên,
một trong những nhân tố giúp họ không ngừng vươn tới thành công là họ luôn
biết duy trì cân bằng giữa cuộc sống và công việc
Triết lý kinh doanh là một hệ thống bao gồm những giá trị cốt lõi có tính
pháp lý và đạo lý tạo nên phong thái đặc thù của chủ thể kinh doanh và
phương thức phát triển bền vững của hoạt động này. Đôi khi triết lý kinh
doanh còn là cơ sở để các nhà quản trị đưa ra các quyết định quản lý có tính
chiến lược quan trọng trong những tình huống mà sự phân tích lỗ lãi không
thể giải quyết. Đồng thời, triết lý kinh doanh còn là phương tiện để giáo dục
và phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh. Vì thế, nên trong
những công ty xuất sắc của Mỹ như IBM, HB, Intel… các nhà quản trị đều có
thói quen đối chiếu triết lý kinh doanh với các dự định hành động cũng như
các kế hoạch, chiến lược trong giai đoạn xây dựng, và vấn đề đầu tiên mà các
nhân viên mới phải học là sự hòa nhập với môi trường văn hóa của công ty
với trọng tâm là triết lý kinh doanh để giá trị của công ty được truyển tải và di
truyền vào từng thành viên, tạo nên sứ mệnh và hành vi chung của toàn thể
nhân viên trong công ty.
Hình thức thể hiện của triết lý kinh doanh cũng rất khác nhau với mỗi
một chủ thể kinh doanh cụ thể. Đó có thể là một văn bản được in thành một
cuốn sách nhỏ hoặc dưới dạng một câu khẩu hiệu hoặc bào hát. Triết lý kinh
doanh cũng có thể không được thể hiện bằng các dạng vật chất mà tồn tại ở
những giá trị niềm tin định hướng cho quá trình kinh doanh. Và dù dưới hình
thức nào thì triết lý kinh doanh luôn trở thành ý thức thường trực trong mỗi
chủ thể kinh doanh, chỉ đạo những hành vi của họ.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kết cấu nội dung của triết lý kinh doanh thường gồm những bộ phận sau:
- Sứ mệnh và các mục tiêu kinh doanh cơ bản
- Các phương thức hành động để hoàn thành được những sứ mạng và
Hành vi kinh doanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp và chính tư cách
ấy tác động trực tiếp đến thành bại của tổ chức. Đạo đức kinh doanh trong
chiều hướng ấy trở thành một nhân tố chiến lược quan trọng trong việc phát
triển doanh nghiệp.
Hầu hết các doanh nghiệp đều nhận thấy đạo đức trong kinh doanh là
một vấn đề quan trọng trong kinh doanh nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn lúng
túng trong việc đưa vấn đề này vào hoạt động của mình. Để thực hiện được
cần phải:
- Quan điểm và sự gương mẫu của lãnh đạo: sự quyết tâm tôn trọng các
giá trị đạo đức, cho dù trong nhiều trường hợp phải chịu thua thiệt, và
sự gương mẫu trong việc thực hiện những giá trị này của lãnh đạo sẽ
tạo niềm tin và động lực cho mọi người cùng nhau làm an chân chính.
- Xây dựng bộ quy tắc đạo đức thống nhất: Bộ quy tắc đạo đức này được
xem như là một cẩm nang hướng dẫn cho nhân viên và là cơ sở để giải
quyết các vấn đề liên quan đến đạo đức trong doanh nghiệp.
- Các chương trình huấn luyện về đạo đức: có thể đó là những khóa học
tập trung hay ngoài giờ, hoặc các buổi hội thảo, nói chuyện chuyên đề,
hay thi đố vui xử lý tình huống, diễn kịch tuyên truyền, thi viết báo
tường hay vẽ tranh cổ động.
- Xây dựng các kênh thông tin: thành lập hội đồng gồm các nhân viên
thường trực và chuyên trách về đạo đức.
Hoạt động kinh doanh đòi hỏi các chủ thể phải có những hành vi phù
hợp với đạo lý dân tộc và các quy chuẩn về cái thiện và cái tốt chung của toàn
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhân loại. Do vậy, đạo đức kinh doanh sẽ góp phần phát triển mối quan hệ với
người lao động, với chính quyền, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với
nhà cung cấp và với cộng đồng xã hội, từ đó góp phần tạo nên môi trường
kinh doanh ổn định.
* Văn hóa doanh nhân