Phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của Nguyễn Huy Tưởng – bài mẫu 3 - Pdf 11

Phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”
của Nguyễn Huy Tưởng – bài mẫu 3
1. Hồi thứ năm, hồi cuối bi kịch lịch sử VŨ NHƯ TÔ xoay quanh một sự kiện chính: Sự kiện đốt phá
Cửu trùng đài, bắt, giết những người đã sáng tạo ra nó, chôn vùi họ trong tro tàn Cửu Trùng đài và trong
tro tàn của lịch sử một triều đại mục ruỗng của hôn quan bạo chúa. Bao trùm hồi kịch là một nỗi đau và
một niềm hoang mang lớn thấm đượm một ý vị triết mỹ sâu xa.
Hành động, sự kiện chính của hồi này có thể tóm tắt như sau:
Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn giữa nhân dân, thợ xây đài với Vũ Như Tô và bạo chúa Lê
Tương Dực, Trịnh Duy Sản cầm đầu một phe cánh đối nghịch trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi
kéo thợ thuyền làm phản. Biết tin có binh biến, bạo loạn trong phủ chúa, nguy hiểm đến tính mạng Vũ
Như Tô, Đan Thiềm hết lời khuyên và giục chàng đi trốn. Nhưng Vũ khăng khăng không nghe vì tự tin
mình “quang minh chính đại”, “không làm gì nên tội” và hi vọng ở chủ tướng An Hòa Hầu.
Tình hình càng lúc càng nguy kịch. Lê Tương Dực bị giết; đại thần, hoàng hậu, cung nữ của y cũng vạ
lây; Đan Thiềm bị bắt, .… Kinh thành điên đảo.
Khi quân khởi loạn đốt Cửu trùng đài thành tro, Vũ Như Tô mới tỉnh ngộ. Chàng trơ trọi, đau đớn vĩnh
việt cửu trùng đài rồi bình thản ra pháp trường.
Ở hồi này, mâu thuẫn, xung đột kịch đã được đẩy lên đến đỉnh điểm. Hai mâu thuẫn cơ bản của vở kịch
đã hòa vào nhau, “cô đặc các mâu thuẫn bên trong, phơi bày những xung đột sâu sắc của thực tại dưới
dạng bão hòa và căng thẳng đến cực độ mang ý nghĩa tượng trưng nghệ thuật”. Và, nếu như trong những
hồi đầu mâu thuẫn thứ hai chỉ tiềm ẩn, có vẻ mờ nhạt thấp thoáng đằng sau mâu thuẫn thứ nhất, thì giờ
đây, nó hầu như đã nhập hòa làm một với mâu thuẫn thứ nhất. Nó hầu như “không thể giải quyết” và, mọi
khắc phục mâu thuẫn đều dẫn đế “sự diệt vong những giá trị quan trọng”. Những giá trị quan trọng ấy là
Cửu Trùng Đài và những người đã dày công sáng tạo nên nó: Trớ trêu thay, gần cuối vở kịch, những
người dân nổi loạn (trong đó có những người thợ xây đài, vốn trước đây nặng ân nghĩa với Vũ Như Tô)
thậm chí, hầu như đã không mấy quan tâm đến việc trả thù bạo chúa Lê Tương Dực – việc này đã có phe
cánh Trịnh Duy Sản đảm nhiệm – mà chỉ mải mê đốt phá Cửu Trùng Đài và chăm chăm truy diệt Vũ Như
Tô, truy diệt người cung nữ “đồng bệnh” với ông là Đan Thiềm!
Tính đa nghĩa, thâm trầm, giàu sắc thái triết mỹ của vở kịch liên quan nhiều đến các biểu tưởng mà tác
giả đã dụng công tạo ra, hướng độc giả ít nhiều các suy tư về Tự do, Quyền lực, Sắc, Tài, Tình, Nhân dân,
Cái Thiện, Cái Ac, Cái Đẹp,… Trong đó hình tượng đa nghĩa mang tính biểu tượng nghệ thuật cần phải
nói đến trước tiên là Cửu Trùng Đài. Một mặt, Cửu Trùng Đài – như cái tên của nó – là một công trình

tiểu thuyết,…), và người nghệ sĩ tác giả của tác phẩm ấy, phải là một kiến trúc sư (chứ không phải một
nhà điêu khắc, họa sĩ, nhạc sĩ, hay một nhà văn). Sự lựa chọn của Nguyễn Huy Tưởng tất nhiên không
bao hàm một cái nhìn thứ bậc, một thái độ trọng khinh, mà chỉ đơn giản là vì sự lựa chọn này giúp ông
triển khai được nhiều mối quan hệ và tạo cho biểu tượng nghệ thuật trở nên lung linh, lấp lánh nhiều tầng
ý nghĩa.
2. Trong hồi kịch này, Vũ Như Tô- Đan Thiềm, cũng là cặp hình tượng bi kịch mang tính biểu tượng
nghệ thuật cao.
Vũ Như Tô hiện lên như một tính cách bi kịch, vừa bướng bỉnh vừa mềm yếu vừa kiên định vừa dễ hoang
mang. Nhân vật bi kịch thường mang trong mình không chỉ những say mê khát vọng lớn lao mà còn
mang cả những lầm lạc trong hành động và tư duy của chính nó. Nhưng, không bao giờ khuất phục hoàn
cảnh, nhân vật bi kịch bướng bỉnh vùng lên chống lại và thách thức số phận.
Tính cách nổi bật nhất của Vũ Như Tô: là tính cách của người nghệ sĩ tài ba, hiện thân cho niềm khát
khao và đam mê sáng tạo Cái Đẹp. Nhưng trong một hoàn cảnh cụ thể cái đẹp ấy thành ra phù phiếm, nó
sang trọng, siêu đẳng, thậm chí, “cao cả và đẫm máu” như một “bông hoa ác”. Vì thế, đi tận cùng niềm
đam mê khao khát ấy Vũ Như Tô tất phải đối mặt với bi kịch đau đớn của đời mình. Chàng trở thành kẻ
thù của dân chúng, thợ thuyền mà không hay biết.
Cái tài ba được nói đến chủ yếu ở các hồi, lớp trước thông qua hành động của anh và nhất là lời của các
nhân vật khác nói về anh: thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một”. Nghệ sĩ ấy có thể “sai khiến gạch đá như
viên tướng cầm quân, có thể xây những lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch
nhỏ”. Anh “chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công”. Nhưng
chính vì quá đam mê khao khát đắm chìm trong sáng tạo mà Vũ càng dễ xa rời thực tế đời sống; càng
sáng suốt trong sáng tạo nghệ thuật thì càng mê muội trong những toan tính âu lo đời thường. Hồi thứ V
không nói nhiều đến tài năng của nhân vật (chỉ duy nhất có Đan Thiềm nhắc đến), mà đặt Vũ vào việc tìm
kiếm một câu trả lời: xây Đài Cửu Trùng là đúng hay sai? có công hay có tội? Nhưng Vũ không trả lời
được thỏa đáng câu hỏi đó bởi chàng chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập
trường của nhân dân, trên lập trường cái Đẹp mà không đứng trên lập trường cái Thiện. Hành động của
chàng không hướng đến sự hòa giải mà thách thức và chấp nhận sự hủy diệt. Vũ đã từng tranh tinh xảo
với hóa công, giờ lại bướng bỉnh tranh phải- trái với số phận và với cuộc đời. Hành động kịch hướng vào
cuộc đua tranh này thể hiện qua diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô.
Nếu Vũ Như Tô là người đam mê Cái Đẹp và khát khao sáng tạo Cái Đẹp thì tính cách của Đan Thiềm là

thành âm hưởng chủ đạo bao trùm đọan kết đã đành mà còn thành một thứ chủ âm dội ngược lên toàn bộ
những phần trước của vở bi kịch. “Ôi mộng lớn! Oi Đan Thiềm! Oi Cửu Trùng Đài!”. Đó cũng là những
tiếng kêu cuối cùng của Vũ Như Tô khi ngọn lửa oan nghiệt đang bùng bùng thiêu trụi Cửu Trùng Đài,
trước khi tác giả của nó bị dẫn ra pháp trường. Trong tiếng kêu ấy “mộng lớn”, “Đan Thiềm”, “Cửu
Trùng Đài” đã được Vũ đặt liên kế với nhau, nỗi đau mất mát như nhập hòa làm một, thành một nỗi đau
bi tráng tột cùng.
Như vậy điễn biến tâm trạng của hai nhân vật ở hồi cuối này góp phần thể hiện tính cách bi kịch ở mỗi
người cũng như những gì được xem là “đồng bệnh”, “tri âm” (hay đồng điệu) ở họ, đồng thời qua đó, góp
phần khơi sâu hơn chủ đề của tác phẩm.
Chứng “đồng bệnh” ở Đan Thiềm và Vũ Như Tô được chính hai người nói ra, cả khi tự nói về mình –
“đôi mắt thâm quầng này do những lúc thức khi người ngủ, khóc khi người cười, thương khi người
ghét”¬ – lẫn khi nói về Vũ Như Tô– “Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc người phụ nữ… tài bao nhiêu,
lụy bấy nhiêu”. Chứng “đồng bệnh” ấy, thực chất là sự đồng điệu trong mộng ước, đồng điệu trong nỗi
đau… xuất phát từ sự tự ý thức sâu xa về bi kịch của Tài và Sắc (hay là sự bạc bẽo của thân phận nghệ sĩ
và giai nhân, được thâu tóm cô đúc trong chữ Lụy).
3. Bằng một ngôn ngữ kịch có tính tổng hợp rất cao, nhất là trong hồi cuối Vũ Như Tô, nhà văn đã đồng
thời khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt hành động, xung đột kịch rất thành công, tạo nên một
bức tranh đời sống bi kịch rất hoành tráng trong nhịp điệu bão tố của nó.
Nhịp điệu được tạo ra thông qua nhịp điệu của lời nói – hành động (nhất là qua khẩu khí, nhịp điệu, sắc
thái lời nói – hành động của Đan Thiềm ¬– Vũ Như Tô đối đáp với nhau và với phe đối nghịch; qua lời
nói¬ ¬– hành động của những người khác trong vai trò đưa tin, nhịp điệu “ra”, “vào” của các nhân vật
đầu và cuối mỗi lớp – các lớp đều ngắn, có những lớp rất ngắn: chỉ dăm ba lượt thoại nhỏ; những tiếng
reo, tiếng thét, tiếng động dội từ hậu trường phản ánh cục diện, tình hình nguy cập, điên đảo trong các lời
chú thích nghệ thuật hàm súc của tác giả).
Với một ngôn ngữ có tính tổng hợp (kể, miêu tả, bộc lộ…) và tính hành động rất cao như vậy, người ta dễ
dàng hình dung cả một không gian bạo lực kinh hooàng trong một nhịp điệu chóng mặt: Lê Tương Dực bị
Ngô Hạch giết chết, Hoàng hậu nhảy vào lửa tự vẫn (qua lời kể của Lê Trung Mại); Nguyễn Vũ tự tử
bằng dao (ngay trên sân khấu), Đan Thiềm suýt bị bọn nội giám thắt cổ ngay tại chỗ; Vũ Như Tô ra pháp
trường. Rồi tiếng nhiếc móc, chửi rủa, la ó, than khóc, máu, nước mắt… tất cả hừng hực như trên một cái
chảo dầu sôi lửa bỏng khổng lồ.

dậy trừ diệt chúng; nhưng mặt khác, trên tinh thần nhân văn, vở kịch đã ca ngợi những nhân cách nghệ sĩ
chân chính và tài hoa như Vũ Như Tô, những tấm lòng yêu quý nghệ thuật đến mức quên mình như Đan
Thiềm.
Đây là chủ đề được thể hiện chủ yếu qua mâu thuẫn thứ hai của vở kịch: mâu thuẫn giữa niềm khát khao
hiến dâng tất cả cho nghệ thuật của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng với lợi ich trực tiếp và thiết
thực của đời sống nhân dân.
Các từ khóa trọng tâm " cần nhớ " của bài viết trên hoặc " cách đặt đề bài " khác của bài viết trên:
• đọc đoạn trích vĩnh biệt cửu trùng đài
• Cai dep trong chu nguoi tu tu va vinh biet cuu trung dai
• Phan tich hai mau thuan trong doan trich vinh biet cuu trung dai
• ten nhan vat trong truyen vu nhu to cua huy tuong
• Suy nghi cua em ve so phan bi kich cua nhan vat vu nhu to trong doan trich vinh biet cuu trung dai
• Soạn bài vĩnh biệt cửu đầu
• soan bai cuu trung dai
• quan điểm nghệ thuật của tác giả nguyễn huy tưởng trong vở bi kịch vĩnh biệt cửu trùng đài là gì?
qua hai nhân vật vũ như tô và đan thiềm hãy làm sáng tỏ hệ thống trên
• Phân tích lời đề tựa kịch vũ như tô
• Phân tich đoan trich vinh vinh biet cuu trung đai
• phan tich tam trang vu nhu to va dan thiem trong doan trich vinh biet cuu trung dai
• phân tích tâm trạng của vũ như tô và đan thiềm trong đoạn trích vĩnh biệt cửu trùng đài
• phan tich so phan bi kich cua nham vat vu nhu to qua doan trich vinh biet cuu trung dai
• phan tich nhyng mau thuan xung dot chong vo kich vu nhu to
• phan tich nhung mau thuan trong tac pham vinh biet cuu trung dai ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status