Xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty bảo hiểm dầu khí Đông Đô (PVI Đông Đô) thuộc Tổng công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam đến năm 2015 - Pdf 11

LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Bảo hiểm thương
mại phát triển chưa lâu nhưng đã có những phát triển vượt bậc và là một trong những
ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong nền kinh tế quốc dân.
Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mọi doanh nghiệp phải hoàn
toàn tự chủ trong kinh doanh, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh
doanh của mình. Công cuộc hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới đòi hỏi các
doanh nghiệp không chỉ chú trọng đến thực trạng và xu thế biến động của môi trường
kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp mà còn phải tính đến cả các tác động tích cực
cũng như tiêu cực của môi trường kinh doanh khu vực và quốc tế. Môi trường kinh
doanh ngày càng rộng, sự cạnh tranh và biến động diễn ra ngày càng mạnh mẽ khiến cho
việc vạch hướng đi trong tương lai ngày càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự
phát triển của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh là một công cụ định hướng và điều
khiển các hoạt động của doanh nghiệp theo các mục tiêu phù hợp với hoàn cảnh môi
trường và do đó, nó đóng vai trò quyết định sự thành, bại của doanh nghiệp.
Công ty bảo hiểm dầu khí Đông Đô (PVI Đông Đô )là thành viên của tổng công
ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam trong suốt quá trình thành lập gần 3 năm đã dần hình
thành, phát triển và khẳng định được vị trí của mình so với các công ty thành viên
cũng như các công ty bảo hiểm khác. Tuy vậy cùng với việc Việt Nam gia nhập
WTO, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung cũng như PVI Đông Đô nói riêng đều
có những cơ hội cũng như thách thức không hề nhỏ. Đặc biệt là cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu với tác động rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp.
Đứng trước tình hình kinh tế đầy biến động đó, PVI Đông Đô cần phải đề ra
chiến lược kinh doanh để có thể nắm bắt được cơ hội kinh doanh, hạn chế được các
khó khăn, thách thức cũng như khắc phục được các vấn đề còn yếu kém để kinh
doanh ngày càng hiệu quả. Đây là 1 vấn đề có ý nghĩa rất lớn trong thời gian tới đối
với PVI Đông Đô.
Trong thời gian thực tập tại công ty bảo hiểm dầu khí Đông Đô, trên cơ sở kiến
thức nhà trường đã trang bị cho kết hợp với sự tìm hiểu tình hình kinh doanh thực tế

ty, TGĐ chỉ đạo cho các phòng ban xây dựng kế hoạch doanh thu, chi phí, nhân sự,
bổ sung trang thiết bị văn phòng theo định hướng sau :
+ Phát huy củng cố hệ thống bán lẻ.
+ Giảm tỷ trọng doanh thu từ các nghiệp vụ XCG xuống 55 %, đẩy mạnh các
mảng khai thác các nghiệp vụ về con người, XDLĐ, hàng hóa và cháy nổ.
+ Phòng hàng hải và phòng tài sản kỹ thuật: tỷ trọng xe cơ giới không quá 20%.
2
+ Phòng xe cơ giới: doanh thu từ các nghiệp vụ phi cơ giới tối thiểu đạt 30 %.
+ Kế hoạch về doanh thu năm 2010
Bảng 1:Bảng kế hoạch doanh thu năm 2010 của PVI Đông Đô
TT Phòng KHDT
(tỷ đồng )
TT Phòng KHDT
(tỷ đồng )
1 TSKT 18 5 Hoàng Mai 13.5
2 Hàng hải 17.5 6 Thanh Xuân 13.5
3 Xe cơ giới 17.5 7 Gia Lâm 11
4 Ba đình 13.5 8 Đông Anh 8.0
PVI Đông Đô 112.5
+ Kế hoạch nhân sự năm 2010: dự kiến bổ sung nhân sự cho các phòng ban
theo tiến độ sau
-Quý I: P.XCG, P.Hoàng Mai, P.TSKT, P.Đông Anh, P.HCTH, P.GĐBT.
-Quý II: P.XCG, P.Hoàng Mai, P.Đông Anh, P.Gia Lâm.
- Quý III: P.XCG, P.TSKT, P.Thanh Xuân, P.Ba Đình.
- Quý IV: P.hàng hải, P.Thanh Xuân, P.Hoàng Mai.
1.2. Nội dung chiến lược kinh doanh của công ty và quy trình xây dựng chiến
lược trong doanh nghiệp bảo hiểm
1.2.1. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
Trong quá trình hình thành và phát triển lý luận về chiến lược kinh doanh, có rất
nhiều quan điểm khác nhau. Sau đây em xin đưa ra một quan điểm:

bên ngoài
Đánh giá
và phán
đoán đúng
môi trường
bên trong
của doanh
nghiệp
Tổng hợp
phân tích
và dự báo
về môi
trường
kinh doanh
bên ngoài
Tổng hợp
kết quả đánh
giá, phán
đoán môi
trường bên
trong doanh
nghiệp
Các quan
điểm mong
muốn, kỳ
vọng của
lãnh đạo
doanh
nghiệp
Hình

4
trường vĩ mô tác động đến doanh nghiệp trong thời kỳ chiến lược và chiều hướng ảnh
hưởng của chúng. Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài là môi trường kinh tế
trong nước và thế giới, môi trường chính trị pháp luật, tự nhiên, môi trường văn hóa
xã hội, môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bước 2: Tổng hợp, phân tích tác động từ các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài
để xác định được các cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp.
Bước 3: Phân tích, đánh giá và phán đoán đúng môi trường bên trong của
doanh nghiệp để từ đó xác định được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Vấn
đề cần đạt được ở bước này là người hoạch định chiến lược phải xác định được các
mặt như: sự hợp lý của cơ cấu doanh nghiệp, năng lực lãnh đạo của cán bộ cấp cao
cũng như năng lực của đội ngũ nhân viên, công tác bồi thường, quản lý rủi ro hay khả
năng tài chính của doanh nghiệp đã tốt chưa, kênh phân phối bán hàng của doanh
nghiệp có vấn đề nào không.
Bước 4: Tổng hợp lại và rút ra điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Về nguyên
tắc phải xét trên tất cả các mặt nhưng trên thực tế thường xác định các điểm mạnh,
lợi thế của doanh nghiệp cũng như xác định các vấn đề còn tồn đọng, yếu kém của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong thời kỳ chiến lược.
Bước 5. Nghiên cứu các quan điểm, mong muốn cũng như ý kiến của ban lãnh
đạo doanh nghiệp. Trong bước này phải hoàn toàn đánh giá lại được các mục tiêu của
doanh nghiêp cũng như triết lý kinh doanh cùng các quan điểm của ban lãnh đạo. Vì
ban lãnh đạo chính là những người thực hiện xây dựng và tổ chức chiến lược của
doanh nghiệp.
Bước 6: Hình thành 1 hoặc 1 vài chiến lược cụ thể. Việc hình thành 1 hay 1 số
chiến lược cụ thể không phải phụ thuộc vào cán bộ hoạch định chiến lược mà phụ
thuộc vào các vấn đề tồn đọng, hay các mặt mạnh, lợi thế của doanh nghiệp để hình
thành phương án chiến lược.
Bước 7: Lựa chọn 1 chiến lược cụ thể trong các chiến lược đã hình thành ở
bước 4. Để lựa chọn, các nhà hoạch định có thể dựa vào các công cụ, phương pháp
cụ thể dựa trên tình hình thực tế của doanh nghiệp và khả năng phán đoán cũng như

Tổng trọng số của tất cả các yếu tố là 1;
Cho điểm mức độ đáp ứng của từng chiến lược theo từng yếu tố được xác định
theo nguyên tắc sau:
1 – 2 : Yếu
3 – 4 : Kém
5 – 6 : Trung bình
7 – 8 : Khá
9 – 10 : Tốt
6
- Tổng điểm mà các phương án chiến lược nhận được trong khoảng 1 – 10.
- Nguyên tắc lựa chọn:
Loại tất cả các phương án có tổng điểm dưới 5.00
Chọn phương án chiến lược có tổng điểm cao nhất.
Mẫu đánh giá chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
TT Tiêu chí
Mức
độ
quan
trọng
Phương án 1 Phương án 2 Phương án n
Hạng Điểm Hạng Điểm Hạng Điểm
1
Phù hợp với hoàn
cảnh môi trường

2
Giúp công ty có các
lợi thế so với đối thủ
cạnh tranh


Tính xác thực của
phân tích và nhận
định

Tổng điểm 1.00
Nguồn: Giáo trình Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp (Tr77)
Bước 8: Cụ thể hóa chiến lược đã chọn ở bước 7. Bước này gồm 2 công việc cụ
thể. Thứ nhất: cụ thể chiến lược thành các chương trình, dự án. Thứ hai: xác định các
chính sách kinh doanh, công tác quản trị ở các cấp như cấp doanh nghiệp, cấp bộ
phận.
1.3. Sự cần thiết phải xây dựng chiến lược của PVI trong thời gian tới
Trong điều kiện biến động của thị trường kinh doanh hiện nay, hơn bao giờ hết
chỉ có 1 điều mà doanh nghiệp có thể biết chắc chắn là sự thay đổi. Vì vậy xây dựng
chiến lược như là một hướng đi giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm vượt qua sóng gió
và những thay đổi trên thương trường, vươn tới tương lai bằng chính khả năng và sự
nỗ lực của mình.
Xây dựng chiến lược giúp cho mỗi cá nhân của doanh nghiệp có những nhận
thức hết sức quan trọng. Mục tiêu của xây dựng chiến lược là đạt được sự thấu hiểu
và cam kết thực hiện cả trong ban giám đốc cũng như trong đội ngũ người lao động.
Vì vậy lợi ích quan trọng nhất của xây dựng chiến lược là đem lại sự hiểu biết thấu
đáo cho người lao động về công việc họ đang làm để họ cảm thấy họ chính là 1 phần
của doanh nghiệp và sau đó cam kết thực hiện.
Ngoài những mong muốn đạt được về mặt tài chính, việc xây dựng chiến lược
còn giúp cho từng thành viên của doanh nghiệp có khả năng nhạy cảm thị trường, sản
phẩm, đối thủ cạnh tranh, từ đó nâng cao chất lượng người lao động. Đây là 1 trong
những hoạt động mang tính sống còn của doanh nghiệp bảo hiểm
CHƯƠNG II :GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ PVI ĐÔNG ĐÔ
VÀ CÁC LĨNH VỰC KINH DOANH CHÍNH CỦA CÔNG TY
8
2.1. Sơ lược về quá trình hình thành phát triển của PVI Đông Đô

sử dụng các phần mềm hỗ trợ.
2.1.2 Mạng lưới văn phòng kinh doanh khu vực
1. Văn phòng khu vực Gia Lâm
9
Địa chỉ: Số 8 tổ 17 P.Thạch Bàn, Gia Lâm, Hà Nội.
Cán bộ phụ trách: Mai Xuân Thưởng. SĐT: 0988427888.
Tel: 84 4 6763035
Fax: 84 4 6763032
2. Văn phòng khu vực quận Thanh Xuân
Địa chỉ: 42 Nguyễn Ngọc Nại, Thanh Xuân, Hà Nội.
Cán bộ phụ trách: Hoàng Trung Thành. SĐT: 0912 232501.
Tel: 84 4 5665324
Fax: 84 4 5665325
3.Văn phòng khu vực Hoàng Mai
Địa chỉ: 18/19 Kim Đồng, Hoàng Mai, Hà Nội.
Cán bộ phụ trách: Phạm Duy Vịnh. SĐT: 0936 292888.
Tel: 84 4 6649172
Fax: 84 4 6649173
4. Văn phòng khu vực Đông Ạnh
Địa chỉ: Nhà 21, dãy 4, tổ 4, thị trấn Đông Anh, Hà Nội.
Cán bộ phụ trách: Đặng Việt Hưng. SĐT: 0919 506886.
Tel: 84 4 9654899
Fax: 84 4 9654898
5.Văn Phòng khu vực Ba Đình
Địa chỉ: 240 Đội Cấn, Hà Nội.
Cán bộ phụ trách: Bùi Hữu Ánh. SĐT: 0913 292616.
Tel: 84 4 2918408
Fax: 84 4 2734055
2.2. Các lĩnh vực kinh doanh chính của PVI Đông Đô
2.2.1. Đầu tư tài chính

Nghiệp vụ hàng hải chiếm tỷ trọng cao thứ 3 trong cơ cấu doanh thu của bảo
hiểm dầu khí. Và bảo hiểm dầu khí luôn đứng vị trí số 1 trên thị trường bảo hiểm
Việt Nam trong lĩnh vực này. Hiện nay PVI Đông Đô đang xây dựng các chương
trình bảo hiểm cho các đội tàu bằng cách tận dụng tối sự hỗ trợ bằng các hợp đồng
sẵn có của tổng công ty nên bảo hiểm hàng hải cũng trở thành 1 trong những thế
mạnh.
+ Bảo hiểm xe cơ giới :
Tuy bảo hiểm xe cơ giới không phải là một trong những loại hình bảo hiểm thế
mạnh của bảo hiểm dầu khí nhưng với hệ thống mạng lưới kinh doanh rộng khắp trên
địa bàn Hà Nội cùng với đội ngũ bảo hiểm với khả năng kinh doanh , tiếp cận khách
11
hàng tốt vì vậy bào hiểm xe cơ giới đã chiếm được một lượng doanh thu chiếm tỷ
trọng lớn trong toàn doanh thu của PVI Đông Đô
+ Loại hình bảo hiểm khác
Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm cộng đồng như bảo hiểm con người…tuy chưa
đạt được kết quả như kỳ vọng nhưng sau những nỗ lực vượt bậc, PVI Đông Đô cũng
đã có được vị trí tương đối cao so với các công ty thành viên trong tổng công ty và
các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước. Điển hình với kế hoạch phát
triển hệ thống mạng lưới bán lẻ rộng khắp Hà Nội.
2.2.3. Kinh doanh tái bảo hiểm
Theo những qui định của Pháp luật hiện hành, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được
phép giữ lại mức trách nhiệm tối đa trên mỗi rủi ro hoặc trên mỗi tổn thất riêng lẻ
không quá 10% tổng số nguồn vốn chủ sở hữu. Phần trách nhiệm vượt quá tỷ lệ 10%
nói trên phải nhượng tái bảo hiểm. Các nghiệp vụ phải thu xếp tái bảo hiểm thường
liên quan đến bảo hiểm năng lượng, hàng hải, tài sản, xây dựng, lắp đặt, trách nhiệm
dân sự với các phương thức chính như sau:
- Tái bảo hiểm chỉ định: tái bảo hiểm chỉ định chủ yếu là qua môi giới tái bảo
hiểm thắng chào phí do các nhà môi giới bảo hiểm nước ngoài thu xếp, chiếm tỷ lệ
phần lớn giá trị bảo hiểm.
- Tái bảo hiểm cố định: Chương trình tái bảo hiểm được PVI chuẩn bị hàng

viên thứ 150 của WTO- sự kiện đánh dấu mốc hoàn thành hành trình 12 năm kể từ
ngày nộp đơn xin gia nhập. Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) bước
sang tuổi thứ bảy cùng đà tăng nhanh chóng của chỉ số chứng khoán bắt đầu từ giữa
2006. Đầu năm 2007, VN-Index lần đầu được ghi nhận với 4 chữ số trong tháng
1/2007 và đạt mức cao nhất trong lịch sử: 1,171 điểm ngày 12/3/2007. Vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam trong năm 2006 cũng cao nhất tính
từ năm 1988: 10,2 tỷ USD- tăng gấp 2 lần so với 1 năm trước. Tăng trưởng GDP của
năm 2006 đạt 8,17%, mặc dù có giảm 0,26% so với năm 2005 nhưng vẫn ở trên mức
bình quân 7,51% của giai đoạn 2001-2005.
Tuy thế, mầm mống “sốc” nội sinh bắt đầu xuất hiện ngay từ tháng 2/2007 khi
các chỉ số tăng trưởng thị trường vốn và tiền tệ không thực sự phản ánh bản chất cải
thiện năng lực của nền kinh tế. Những dấu hiệu này ngày càng bộc lộ rõ trong những
tháng tiếp theo, đặc biệt trên TTCK. Tổng mức vốn hóa của TTCK đạt tới qui mô
20%-30% GDP, chủ yếu do bùng phát bong bóng giá tài sản tài chính. Theo thống kê
của Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh, tới tháng 4/2008, 87 công ty chứng
khoán, 30 công ty quản lý quỹ, 298.000 tài khoản đầu tư cá nhân- trong đó có trên
7.000 của nhà đầu tư nước ngoài, tham gia các giao dịch tài sản tài chính tại Việt
Nam. Trong khi đó, một loạt những nhân tố căn bản cần thiết được đảm bảo lại bị coi
nhẹ, thậm chí bỏ qua. Các nhà đầu tư cá nhân tham gia TTCK với hiểu biết hạn chế.
Truyền thông tài chính còn hạn chế cả về số lượng, trình độ xử lý, và đảm bảo công
bằng thông tin. Chăm sóc quan hệ với nhà đầu tư trở thành điểm nóng chỉ khi giá cổ
phiếu bước sang thời kỳ sụt giảm kéo dài. Dù vậy thì hoạt động này vẫn bị nhầm lẫn,
xếp cùng nhóm với hoạt động PR, quảng cáo của doanh nghiệp. Các nguyên tắc quản
trị và vấn đề xung đột lợi ích trong công ty đại chúng còn quá xa lạ. Nguồn lực huy
14
động qua thị trường vốn được doanh nghiệp sử dụng tràn lan, kém hiệu quả vào các
dự án mở rộng và lĩnh vực kinh doanh mới nhiều nhất là bất động sản và tài chính-
ngân hàng. Tăng trưởng nóng có dấu hiệu dựa vào "rent-seeking".
Sang 2008, kinh tế Việt Nam cùng lúc đối mặt với nhiều thách thức lớn. TTCK
giảm sút đẩy lùi chỉ số chứng khoán giao dịch tại TP.Hồ Chí Minh về mức thấp nhất

công ty thành viên là những yếu tố quan
trọng giúp PVI Đông Đô có thể đứng
vững trên thương trường đầy biến động
cho đến thời điểm hiện nay.
+ Thị trường bảo hiểm của Việt Nam là
1 trong những thị trường vẫn còn rất
nhiều tiềm năng, nhiều tài sản chưa được
khai thác hoặc chưa được khai thác triệt
để.
+Cùng với sự suy thoái kinh tế, tài sản
mất giá cũng tạo ra những cơ hội nhất
định. Lợi dụng sự mất giá của tài sản,
PVI Đông Đô cũng có thể tích lũy sản
phẩm để chuẩn bị chiến lược cho giai
đoạn phát triển tiếp theo
+ Khi PVI Đông Đô thành lập cũng
chính là giai đoạn đầu của quá trình hội
nhập toàn cầu, đây là thách thức đối với
một doanh nghiệp mới thành lập.
+ sự cắt giảm chi tiêu của chính phủ và
các tập đoàn kinh tế, nhà đầu tư nước
ngoài, các doanh nghiệp và người tiêu
dùng, sự mất giá của tài sản làm cho quy
mô của tài sản và trách nhiệm bảo hiểm
của doanh nghiệp giảm.
+ Do khủng hoảng kinh tế nên một bộ
phận lớn khách hàng của PVI Đông Đô
mất khả năng thanh toán, giãn tiến độ
đầu tư, đẩy công nợ phí bảo hiểm tăng
nhanh, tận dụng tối đa các quyền lợi bảo

thông đường thủy nội bộ, luật phòng cháy chữa cháy, bộ luật dân sự về quy định bảo
hiểm bắt buộc đã tạo ra môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi cho doanh nghiệp
kinh doanh bảo hiểm.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đảm bảo sự lành mạnh của thị trường,
bao gồm các quy định bảo vệ người tiêu dùng như hoàn thiện các quy định về nội
dung và phương thức giao kết hợp đồng bảo hiểm nhằm đảm bảo tính an toàn của
giao dịch cho cả người mua lẫn công ty bảo hiểm và các đối tượng liên quan (đại lý,
môi giới bảo hiểm). ngoài ra còn có các quy định cụ thể và đặc thù hơn điều chỉnh
hoạt động cạnh tranh đảm bảo cạnh tranh công bằng và lành mạnh trên thị trường
ngành bảo hiểm, bởi đây là một ngành rất đặc thù và nhạy cảm.
Ngoài ra nhà nước cũng ban hành các đạo luật bãi bỏ các quy định mang tính
bảo hộ các doanh nghiệp trong nước về địa bàn hoạt động, đối tượng khách hàng, các
loại hình nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc, tái bảo hiểm bắt buộc, hoàn thiện các điều
kiện, tiêu chuẩn cấp phép minh bạch, thận trọng thay thế cho cơ chế cấp phép theo
từng trường hợp cụ thể.
Bổ sung, sửa đổi một số quy định nhằm tăng khả năng giám sát tài chính của
các công ty bảo hiểm bao gồm vốn pháp định, khả năng thanh toán, hoạt động tài
chính của các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục tiêu lựa chọn được các nhà đầu tư
có năng lực tài chính, cam kết lâu dài đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm
Việt Nam, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO. Các quy định này giúp doanh
17
nghiệp nâng cao chất lượng quản trị điều hành, phát hiện sớm các rủi ro đồng thời hỗ
trợ cho công tác quản lý giám sát của các cơ quan chức năng.
Bảng 3. Phân tích SWOT để xác định cơ hội và nguy cơ
từ môi trường chính trị và pháp luật
O : Những cơ hội T : Những nguy cơ
+ Việt Nam là 1 trong những nước có nền
chính trị ổn định nhất thế giới nên thu hút
được rất nhiều hoạt động đầu tư.
+ Có môi trường kinh doanh tốt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status