1
TRƯ
TRƯ
Ờ
Ờ
NG Đ
NG Đ
Ạ
Ạ
I H
I H
Ọ
Ọ
C TÂY ĐÔ
C TÂY ĐÔ
KHOA SINH H
KHOA SINH H
Ọ
Ọ
C
C
Ứ
Ứ
NG D
NG D
Ụ
Ụ
NG
NG
LU
LU
Á
Á
TRA
TRA
(
(
Pangasianodon
Pangasianodon
hypophthalmus
hypophthalmus
)
)
NUÔI
NUÔI
Ở
Ở
THO
THO
Ạ
Ạ
I SƠN
I SƠN
-
-
AN GIANG
AN GIANG
C
C
á
á
N TH
N TH
À
À
NH TÂM
NH TÂM
Sinh viên thực hiện
ĐOÀN KIM NGÂN
2010
2
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Hiện nay ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) được đánh giá là ngành có tiềm năng và
triển vọng lớn ở nước ta. Trong đó, Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có nhiều
điểm thuận lợi với nguồn tài nguyên phong phú rất thích hợp cho NTTS phát triển.
Đặc biệt là nghề nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở tỉnh An Giang, Đồng
Tháp, Cần Thơ. Trong đó An Giang là một trong những tỉnh đứng đầu về sản lượng,
chiếm 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, tăng từ 25% đến 27%/năm và chiếm
70% sản lượng cá tra nuôi của khu vực ĐBSCL. Tổng diện tích cá tra năm 2009 ở An
Giang khoảng 1.200 ha, sản lượng đạt gần 260.000 tấn (Minh Tuấn, 2009). Do cá có
nhiều ưu điểm như dễ nuôi, tăng trọng nhanh, kích thước lớn, sử dụng tốt thức ăn tự
chế, dễ dàng thích nghi với điều kiện môi trường khắc nghiệt nên cá tra được nuôi rất
phổ biến. Trong thời gian qua, ngành NTTS ở huyện Thoại Sơn cũng không ngừng
phát triển về diện tích và sản lượng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của
huyện Thoại Sơn nói riêng và tỉnh An Giang nói chung.
Tuy nhiên, phát triển nuôi cá tra với qui mô công nghiệp sẽ làm tăng lượng chất thải
hữu cơ, gây ô nhiễm cho vùng nước xung quanh. Việc mở rộng diện tích, nâng cao
sản lượng nhanh chóng dẫn đến tình hình dịch bệnh phát triển ngày càng nhiều. Việc
4
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1
Một số đặc điểm sinh học của cá tra
Theo Rainboth (1996) cá tra thuộc:
Ngành: Chordata
Lớp: Ostelchithyes
Bộ: Siluriforrmes
Họ: Pangasiidae
Giống: Pangasius
Loài: Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878.
được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn phê duyệt thì tốc độ tăng trưởng diện
tích của vùng trong các năm tới trung bình khoảng 4,2%/năm. Cụ thể đến năm 2010
diện tích nuôi cá tra của vùng đạt 8.600 ha tập trung chủ yếu ở Đồng Tháp là 2.300
ha, An Giang với 2.100 ha. Dự kiến đến năm 2015, diện tích nuôi cá tra của vùng đạt
11.000 ha và đến năm 2020 là 13.000 ha. Theo báo cáo của Bộ, đến nay diện tích thả
nuôi cá tra đạt 5.154 ha, tăng gần 600 ha so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với
dự kiến do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới, hoạt động xuất khẩu sụt giảm (Trí
Quang, 2010).
2.3 Tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản ở An Giang
An Giang là tỉnh nằm ở khu vực hạ lưu của lưu vực sông Mekong, đây là vùng đất
giàu tiềm năng được thiên nhiên ưu đãi, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy
sản. Tỉnh An Giang có hai nhánh sông Tiền và sông Hậu chảy qua với chiều dài 170
km cùng với hai nhánh sông Châu Đốc (28 km), Vàm Nao (7 km) và hệ thống kênh
gạch chằng chịt với tổng chiều dài 5.170 km (Trần Anh Dũng, 2005). Hệ thống sông
và kênh rạch nhiều đã tạo cho tỉnh An Giang lợi thế lớn trong phát triển ngành NTTS.
NTTS ở An Giang đang tập trung vào các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao. Trong
đó cá tra đang được ưa chuộng hơn với qui mô sản xuất hàng hóa lớn hơn, đáp ứng
nhu cầu gia tăng nhanh chóng cho chế biến, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Nếu trước
1995 người dân thích thả cá basa vì cá ít bệnh, thịt ngon, giá cao, thì hiện nay ngược
lại người dân thích nuôi cá tra tuy giá thấp hơn nhưng dễ nuôi, mau lớn, thích nghi tốt
với môi trường khắc nghiệt, con giống dễ tìm, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn (Nguyễn
Chính, 2005). Tổng diện tích cá tra năm 2009 ở An Giang khoảng 1.200 ha, sản lượng
đạt gần 260.000 tấn, xấp xỉ năm 2008. Thế nhưng, do giá thức ăn chăn nuôi tăng liên
tục tăng (từ đầu năm đến nay tăng từ 500-600 đồng/kg), nâng giá thành sản xuất bình
quân khoảng 15.000-15.300 đồng/kg) trong khi giá bán bình quân là 14.400-14.800
đồng/kg. Điều này làm cho người nuôi cá tra tiếp tục thua lỗ nên một số hộ đã bỏ
trống ao (Minh Tuấn, 2009).
Nhìn chung ngành thủy sản của tỉnh An Giang trong những năm qua có một số điều
kiện thuận lợi cơ bản để phát triển như: điều kiện tự nhiên thích hợp, có tiềm năng
6
2.5 Tình hình dịch bệnh trên cá tra nuôi thương phẩm
Cá tra là loài cá nước ngọt được nuôi phổ biến ở các tỉnh ĐBSCL, tuy nhiên trong
những năm gần đây người nuôi cá tra bị thiệt hại khá lớn do dịch bệnh thường xuyên
xảy ra (Từ Thanh Dung và csv, 2004) do một số trở ngại chính trong NTTS: kỹ thuật
(17%), kinh tế xã hội (26%), dinh dưỡng (7%), bệnh tật (36%) và trở ngại khác
(14%). Từ đó cho thấy vấn đề dịch bệnh là một trở ngại lớn nhất trong NTTS.
Bệnh trên cá tra nuôi xảy ra khi môi trường xấu, mầm bệnh phát triển và cơ thể vật
chủ bị suy yếu. Các tác nhân gây bệnh chủ yếu trên động vật thủy sản là vi khuẩn (tần
suất xuất hiện 50,9%), siêu vi trùng (24,6%), ký sinh trùng (21,1%), nấm (3,4%) (Từ
Thanh Dung và csv, 2004). Theo Lý Thị Thanh Loan, 2007 (trích dẫn bởi Nguyễn Chí
Dũng, 2009). Từ đó cho thấy các bệnh thường xảy ra và gây thiệt hại cho người nuôi
là bệnh mủ gan với tần số xuất hiện cao (52,8%), bệnh xuất huyết (42,5%), bệnh phù
đầu, phù mắt (20,7%), bệnh vàng da và thân (21,6%). Riêng bệnh gan thận có mủ ở
An Giang chiếm tỉ lệ cao nhất đạt 66,7%, kế đến là Cần Thơ 54,89%, Vĩnh Long
53,8%, Đồng Tháp 36%. Bệnh thường xảy ra từ tháng 5 đến tháng 9 vào mùa nước
xoay ở ĐBSCL, đỉnh điểm rơi vào tháng 9-10 (Đoàn Nhật Phương, 2008).
2.6 Diễn biến về tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh An Giang
Theo nghi nhận của Chi cục Thủy Sản An Giang (trích dẫn bởi Trần Anh Dũng, 2005)
các bệnh thường gặp tại hầu hết các vùng nuôi cá tra trọng điểm của tỉnh An Giang
gồm:
Bệnh do vi khuẩn gây ra gồm các bệnh đốm trắng, bệnh nhiễm trùng huyết, bệnh lỡ
loét, bệnh đốm đỏ, bệnh mù mắt hay nổ mắt, bệnh nhiễm vi khuẩn và bệnh vàng da.
Bệnh do ký sinh trùng gây ra gồm các bệnh trùng bánh xe, bệnh trùng quả dưa, bệnh
sán lá gan, bệnh sán lá đơn chủ, bệnh giun tròn, bệnh trùng mỏ neo, bệnh rận cá và
bệnh bào tử trùng.
Tuy nhiên, trong thời gian qua chưa có nghiên cứu nào đánh giá hết tình hình dịch
bệnh trong nuôi cá tra thâm canh ở tỉnh An Giang và việc theo dõi cập nhật tình hình
dịch bệnh xảy ra tại các vùng nuôi trọng điểm cũng chưa được quan tâm đúng mức.
Ngay cả cơ quan quản lý chuyên ngành về thú y thủy sản của tỉnh cũng không thống
kê được hết tình hình dịch bệnh và thất thoát do dịch bệnh gây ra cho nghề nuôi cá tra
ệnh mủ gan tr
ên cá
tra
9
Bệnh phù đầu xuất huyết
Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây ra. Ngoài ra, một số
trường hợp còn phân lập được vi khuẩn A. sobria, A. caviae, hoặc Pseudomonas sp.
Vi khuẩn A. hydrophila thường lây lan qua đường miệng, có thể qua da hoặc mang
khi cá bị xây xát.
Điều trị: Một số kháng sinh được sử dụng hiện nay: Doxyciclin, Enrofloxacin,
Sulfamethoxazol-trimethoprim, flofenicol. Ngoài ra trong thực tế sử dụng có sự kết
hợp giữa các nhóm kháng sinh như: Sulfamethoxazol-trimethoprim, Enrofloxacin-
Amoxcillincillin, Enrofloxacin-Colistin để điều trị bệnh nói trên. Hình 2.4: Bệnh phù đầu xuất huyết
Bệnh vàng da
Chưa biết được tác nhân gây bệnh cụ thể, một số kết quả phân tích cho thấy trên mẫu
bệnh phẩm có hiện tượng giun tròn ký sinh làm tắt nghẽn cuống mật. Một số ao trước
khi bệnh sử dụng một khối lượng lớn kháng sinh và thời gian sử dụng kéo dài. Một số
ao sử dụng thức ăn tự chế với nguồn cá tạp không đảm bảo chất lượng cũng xảy ra
hiện tượng vàng da.
Phòng bệnh: Sử dụng nguồn thức ăn đảm bảo chất lượng, chế độ dinh dưỡng hợp lý
cho cá, quản lý tốt môi trường ao nuôi, định kỳ kiểm tra và xử lý nội ký sinh cho cá.
Điều trị: Cần phải phân tích mẫu để có thể đánh giá nguyên nhân gây bệnh, từ đó đưa
ra phương pháp điều trị hợp lý.
sinh ở mang, phá hủy các tơ mang khiến cá bị ngạt thở, thân đầy nhớt và bạc trắng.
11
Hình 2.7 Bệnh trùng bánh xe (trùng mặt trời)
2.8 Thuốc và hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản
Theo qui chế khảo nghiệm giống, thức ăn, thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học dùng
trong NTTS (Ban hành kèm theo quiết định số 18/2002/QĐ – BTS ngày 3/6/2002 của
Bộ trưởng Bộ Thủy Sản). Trong chương I, điều 3, các từ ngữ thuốc, hóa chất, chế
phẩm sinh học được hiểu như sau:
Thuốc: là chế phẩm có nguồn gốc từ động vật, thực vật, khoáng chất, hóa chất,
vacxin, và các chế phẩm sinh học khác dùng để phòng và trị bệnh, điều chỉnh sinh
trưởng, phát triển và sinh sản, xử lý và cải tạo môi trường nuôi.
Hóa chất: là sản phẩm hóa học được dùng để xử lý, cải tạo môi trường, phòng và trị
bệnh cho NTTS.
Chế phẩm sinh học: là sản phẩm có nguồn gốc từ sinh vật, kể cả vi sinh vật, các thực
liệu từ nấm, vi trùng, virut và các nguyên sinh; độc tố, nộc độc từ nguồn động vật
hoặc thực vật gây hại cho động vật để chuẩn đoán, phòng bệnh, chữa bệnh cho thủy
sản nuôi trồng và xử lý môi trường nước nuôi thủy sản.
Theo Nguyễn Phú Son và csv (2003) (trích dẫn bởi Đặng Thụy Mai Thy, 2007) thì chi
phí hóa chất và thuốc thú y thủy sản chỉ dao động quanh mức 5% (2-10%) tổng chi
phí cho nuôi cá thịt trong ao, bè/vụ. 12
13
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thông tin chung
4.1.1 Trình độ văn hóa của người nuôi
Trình độ học vấn còn thấp là một trong những hạn chế để áp dụng khoa học kỹ thuật
nhằm giảm giá thành và tăng lợi nhuận. Qua khảo sát 30 hộ nuôi cá tra ở Thoại Sơn -
An Giang cho kết quả về trình độ văn hóa của người nuôi như sau:
Bảng 4.1: Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa Số hộ nuôi Tỉ lệ phần trăm (%)
Cấp 1 8 26,7
Cấp 2 11 36,7
Cấp 3 6 20
Trung cấp 1 3,3
Đại học 4 13,3
Hầu hết các chủ hộ điều là nông dân có trình độ học vấn không cao 17% có trình độ
trung cấp và đại học, trình độ cấp 3 chiếm 20%, nhiều nhất là cấp 1 và 2 chiếm 63%
(Hình 4.1).
27%
36%
20%
17%
Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Trung cấp và Đại học
Hình 4.1: Tỉ lệ phần trăm trình độ văn hóa của người nuôi
Nhìn
chung trình độ văn hóa của các chủ hộ nuôi cá tra trong những năm gần đây đã
So với kết quả điều tra của Trần Văn Nhì (2005), đánh giá việc sử dụng nguồn nguyên
liệu địa phương làm thức ăn nuôi cá tra (Pangasius hypophthalmus) ở An Giang, qui
mô nông trại của các hộ nuôi hiện nay lớn hơn trước đây rất nhiều. Khi đó qui mô có
diện tích lớn nhất trên 3000m
2
chỉ chiếm (38,3%), ao từ 1000-3000m
2
chiếm (58,6%),
còn lại là những ao nuôi với qui mô nhỏ (3,1%). Điều đó cho thấy nuôi cá tra công
nghiệp ngày càng phát triển, diện tích nuôi ngày càng được mở rộng nguồn nước dễ bị
ô nhiễm thì tình hình quản lý dịch bệnh cũng được quan tâm nhiều hơn.
15
4.2 Đặc điểm về kỹ thuật
4.2.1 Diện tích, độ sâu, mật độ và kích cỡ cá nuôi
Kết quả điều tra 30 hộ nuôi cá tra ở huyện Thoại Sơn - An Giang thông tin về diện
tích, độ sâu mực nước và mật độ nuôi như sau:
Bảng 4.3.: Diện tích, độ sâu, mật độ thả và kích cỡ cá giống
Thông tin Số hộ nuôi Trung bình/ao
Diện tích (m
2
) 30 5.633 ± 1.902
Độ sâu (m) 30 3,84 ± 0,52
Kích cỡ cá giống (cm) 30 1,84 ± 0,44
Mật độ thả (con/m
2
) 30 56,6 ± 20,59
Qua Bảng 4.3 cho thấy diện tích trung bình của ao nuôi là (
5.633±1.902
m
2
con/m
2
), theo Nguyễn Thanh Phương và csv (2004) (trích dẫn bởi Trần Anh Dũng,
2005), thì mật độ trung bình của cá nuôi ao là (20,5 con/m
2
). Điều này cho thấy mật
độ thả trung bình ở các ao nuôi cá tra tại Thoại Sơn tương đối cao do người nuôi tận
dụng tối đa diện tích mặt nước. Nuôi mật độ cao sẽ gây bất lợi cho cá, cạnh tranh
nhiều về không gian sống dẫn đến cá phân đàn cao, cá yếu và nhỏ luôn bị cá khỏe
chen lấn, cạnh tranh thức ăn nên phải dạt vào bờ và nhóm cá này ngày càng yếu và dễ
bệnh hơn do chất lượng nước gần bờ xấu, nhiều rong tảo và thiếu thức ăn. Hơn nữa
nuôi ở mật độ cao còn làm tăng lượng mùn bã hữu cơ do thức ăn dư thừa và chất thải
của cá, từ đó làm cho nguồn nước nuôi giàu dinh dưỡng gây khó khăn trong quản lý
chất lượng nước và khống chế dịch bệnh trên cá nuôi.
4.2.2 Cải tạo ao
Chuẩn bị và cải tạo ao trước khi thả nuôi là khâu quan trọng đối với việc nuôi thủy sản
trong ao đất. Vì các yếu tố gây hại cho đối tượng nuôi có thể tồn tại dưới đáy ao. Qua
điều tra nhận thấy các ao nuôi đều là ao cũ đã qua quá trình sử dụng nên hầu như đều
cải tạo ao trước khi thả nuôi theo qui trình rút nước sên bùn dùng thuốc/hóa chất
phơi ao lấy nước vào. Có 8 loại thuốc hóa chất được sử dụng để cải tạo ao,
thông tin về các loại thuốc hóa chất này thể hiện ở Bảng 4.4.
Bảng 4.4: Thuốc và hóa chất cải tạo ao
Thuốc/hóa chất Số hộ nuôi Tỉ lệ phần trăm (%)
Vôi 30 100
Muối 18 60
Chlorine 25 83,3
Sunphat đồng 3 10
Iodine 2 6,67
Virkon 2 6,67
BKC 5 16,6
Thời vụ nuôi và thả giống
Qua điều tra cho thấy số vụ nuôi bình quân của người dân nuôi cá tra công nghiệp là
1,5 vụ/năm. Thời gian mỗi vụ nuôi trung bình khoảng 6-8 tháng tùy theo kích cỡ con
giống. Nguồn giống thả nuôi chủ yếu là từ 3 nguồn chính: địa phương, trong tỉnh và
ngoài tỉnh.
18
B
ảng 4.5: Nguồn giống cá tra thả nuôi của các nông hộ
Nguồn giống Số hộ nuôi (n) Tỉ lệ phần trăm (%)
Địa phương 12 40
Trong tỉnh 10 33,3
Ngoài tỉnh 8 26,7
Tổng 30 100
Qua khảo sát cho thấy đa số người dân điều sử dụng nguồn giống từ địa phương
(40%) và trong tỉnh (33,3%). Còn lại một số hộ sử dụng nguồn giống mua từ tỉnh khác
chiếm (26,7%) (Hình 4.5).
40%
33%
27%
Địa phương Trong tỉnh Tỉnh khác
Hình 4.5: Tỉ lệ phần trăm nguồn giống cá tra thả nuôi của nông hộ
Con giống là một trong những yếu tố quan trọng và rất được quan tâm đối với người
nuôi cá tra. Nguồn giống có chất lượng tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của vụ nuôi.
Theo các hộ nuôi cá tra ở Thoại Sơn thì gần đây chất lượng cá giống thường không ổn
định, các hộ nuôi thường gặp nhiều khó khăn do việc chọn con giống kém chất lượng,
cá thường bị bệnh chỉ trong thời gian ngắn sau khi thả nuôi nên việc kiểm tra kỹ chất
lượng cá giống là việc làm rất cần thiết. Tuy nhiên, theo kết quả trên cho thấy, nguồn
giống trong tỉnh chỉ đáp ứng trên 70% nhu cầu giống cho các hộ nuôi cá thịt. Nếu sử
hoàn toàn, 33,3% số hộ sử dụng kết hợp TACN từ 1-2 tháng đầu và 2 tháng cuối vụ,
giai đoạn còn lại sử dụng TATC, không có hộ nào sử dụng hoàn toàn TATC. Điều này
cho thấy người dân đã nhận thức được vai trò của TACN trong nuôi cá tra (Hình 4.6).
66.7%
33.3%
TACN TACN + TATC
Hình 4.6: Tỉ lệ phần trăm các loại thức ăn sử dụng trong nuôi cá tra
TACN có chất lượng ổn định đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cá nuôi hạn chế được
ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng hoàn toàn TACN sẽ làm tăng chi phí sản xuất và
không phải nông hộ nào cũng có khả năng. Vì vậy một số hộ đã sử dụng TACN ở hai
20
tháng đầu và hai tháng cuối vụ, các tháng còn lại sử dụng TATC. Tùy thuộc vào điều
kiện của từng hộ nuôi sử dụng công thức TATC khác nhau nhưng chủ yếu là cám,
tấm, cá tạp và chất kết dính. Một số hộ nuôi còn bổ sung thêm một số thành phần khác
như: vitamin, thuốc, kháng sinh,…Tuy nhiên sử dụng TATC thì thời gian nuôi kéo
dài, hệ số tiêu tốn thức ăn cao do chất lượng thức ăn không đảm bảo nhu cầu dinh
dưỡng. Mặc khác, khi sử dụng TATC sẽ góp phần tăng cường ô nhiễm nước ao và gia
tăng sự xuất hiện dịch bệnh.
4.3 Tỉ lệ và nguyên nhân hao hụt trong nuôi cá tra
Hiện nay, nuôi cá tra được phát triển nhanh và nuôi với mật độ cao nên người nuôi
phải thay nước liên tục mà môi trường nuôi ngày càng biểu hiện xấu do lượng chất
hữu cơ thải trực tiếp ra môi trường rất lớn. Qua đó góp phần đưa mầm bệnh và nguồn
nước xấu từ ngoài vào làm nguy cơ xuất hiện dịch bệnh tăng lên ảnh hưởng đến tỉ lệ
hao hụt của cá nuôi là đều khó tránh khỏi. Tỉ lệ cao hay thấp cũng cần phải xem xét
đến nhiều yếu tố liên quan như: dịch bệnh, ô nhiễm môi trường nước, chất lượng con
giống hay mật độ thả.
0
10
20
hiện nay. Do đó, việc phổ biến cho người nuôi hiểu rõ kỹ thuật nuôi một cách bền
vững là cần thiết.
4.4 Tình hình xuất hiện bệnh trên cá tra trong mô hình nuôi ao đất ở Thoại Sơn-
An Giang.
Nuôi cá tra công nghiệp là mô hình rất có hiệu quả, tuy nhiên do mật độ nuôi quá cao
và cung cấp một lượng lớn thức ăn nên môi trường nuôi dễ dàng bị ô nhiễm tạo điều
kiện cho bệnh phát sinh và lây lan. Hiện nay bệnh là vấn đề được người nuôi rất quan
tâm trong quá trình ương cá giống cũng như nuôi cá thịt. Theo thông tin ghi nhận từ
các hộ nuôi cá tra thường xuất hiện các bệnh phổ biến như: Gan thận mủ (GTM), phù
đầu xuất huyết (PĐXH), vàng da, bệnh do ký sinh trùng và gần đây có xuất hiện thêm
bệnh trắng gan trắng mang (TGTM)… gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi.
4.4.1 Bệnh do ký sinh trùng
Kết quả khảo sát trên 30 hộ nuôi cá tra tại Thoại Sơn cho thấy đa số các hộ nuôi nhận
dạng được bệnh trên cá nuôi do ký sinh trùng hay vi khuẩn gây ra đều thông qua tập
huấn và hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật địa phương, từ các cửa hàng kinh doanh thuốc
thú y thủy sản hoặc do kinh nghiệm của người nuôi có được. Các hộ cho rằng trong
nuôi cá tra thâm canh thì tác nhân gây bệnh ký sinh chủ yếu thuộc nhóm trùng bánh
xe (TBX), sán lá mang, trùng mỏ neo, rận cá và trùng quả dưa. Có hai loại ký sinh
trùng được biết đến nhiều nhất là trùng bánh xe (100%) và sán lá mang (80%) (Hình
4.8). Các loại bệnh do ký sinh trùng khác gây ra ở mức tương đối thấp với dưới 50%
số hộ phát hiện. Các hộ còn cho biết thêm ký sinh trùng xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn
tháng 1-3 của chu kỳ nuôi, ở giai đoạn cá lớn thì ít hơn. Tuy nhiên, với điều kiện của
hộ nuôi, chỉ có thể phát hiện những ký sinh trùng có kích thước lớn như nhóm giun
sán còn nhóm ký sinh trùng có kích thước nhỏ như TBX, trùng quả dưa… thì không
thể phát hiện được ở tại ao nuôi nên người dân phải nhờ đến các trung tâm chuẩn đoán
dịch bệnh. Do đó ảnh hưởng không nhỏ trong việc điều trị bệnh cho cá.
22
0
10
20
4
do đây là một hóa chất trị bệnh ký sinh trùng khá hiệu quả và rẻ tiền.
Bên cạnh đó Dipterex cũng được một số hộ nuôi sử dụng để điều trị bệnh ký sinh
trùng trên cá rất có hiệu quả (Hình 4.9).
23
83.3
26.7
33.3
20
60
46.7
13.3
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
%
CuSO4 BKC TCCA NaCl Dipterex Iodine Khác
Hình 4.9: Tỉ lệ phần trăm thuốc và hóa chất trị bệnh ký sinh trùng
4.4.2 Bệnh do vi khuẩn
Tỉ lệ các loại bệnh do vi khuẩn gây ra được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 4.7: Các loại bệnh do vi khuẩn
Tên bệnh Số hộ nuôi Tỉ lệ phần trăm (%)
100
%
Gan thận mủ Phù đầu xuất huyết Trắng gan trắng mang Đốm đỏ
Lở loét Tuột nhớt Vàng da
Hình 4.10: Tỉ lệ phần trăm tần suất xuất hiện bệnh do vi khuẩn trên cá tra
Theo người nuôi cho biết hầu hết các bệnh do vi khuẩn gây ra đều làm hao hụt rất cao
đặc biệt là bệnh mủ gan tỉ lệ cá chết khi bị nhiễm bệnh có thể lên đến 90%, đây là loại
bệnh gây nhiều thiệt hại lớn làm ảnh hưởng tới năng suất và lợi nhuận của nông hộ và
cũng là một trong những loại bệnh tốn nhiều chi phí thuốc, hóa chất phòng trị bệnh và
cũng là bệnh khó trị nhất.
Giải pháp xử lý bệnh do vi khuẩn
Đối với bệnh do vi khuẩn gây ra người dân đều sử dụng kháng sinh để điều trị. Tuy
nhiên, hầu hết đều cho rằng khi chọn loại thuốc kháng sinh thì người nuôi cá đều
thông qua tư vấn của cán bộ kỹ thuật và hướng dẫn của của hàng kinh doanh thuốc thú
y thủy sản. Kết quả khảo sát cho thấy các bệnh do vi khuẩn gây thiệt hại nhiều như
trình bày trên thì hầu hết số hộ khảo sát (trên 80%) đều cho rằng các loại kháng sinh
thông thường như Oxytetracycline, Tetracycline,… đều trị không hiệu quả vì vi khuẩn
đã kháng thuốc, mà họ sử dụng các loại biệt dược như Amoxcillincillin, Ampicillin
và các loại kháng sinh nhóm Fluoroquinolones đã được Bộ Nông Nghiệp hạn chế sử
dụng như: Enrofloxacine, Norflocacine, Ciprofloxacine và một số kháng sinh khác
như Colistin, Trimethoprim, Flofenicol… (Phụ lục C) đều trị rất có hiệu quả. Người
nuôi cho biết bệnh do vi khuẩn xuất hiện kéo dài từ 7-10 ngày và có thể lên đến 20
ngày. Nếu có cách điều trị thích hợp, quản lý môi trường ao nuôi tốt thì bệnh sẽ giảm
dần sau 5-7 ngày điều trị. Đối với bệnh mủ gan, thì hầu hết các hộ nuôi đều có sử
dụng các loại kháng sinh trên kết hợp với nhau Bệnh phù đầu xuất huyết dùng
Kanamycin, Flofenicol, Doxycyllin, Sunfamid, Enrofloxacin, Ciprofloxacin,
Amoxcillin, Ampicillin,…và tùy theo kinh nghiệm của mỗi hộ nuôi mà có cách phối
trộn các loại thuốc với nhau với liều lượng khác nhau. Còn đối với bệnh TGTM khi
càng trở nên kém hiệu quả.
Nhận thức của người nuôi về bệnh trên cá tra
Theo đa số các hộ nuôi cá ở Thoại Sơn thì bệnh xuất hiện hầu như quanh năm nhưng
bệnh tập trung nhiều nhất vào những tháng gió lạnh, lúc giao mùa, nước đổ và khi lũ
rút. Ở những tháng nhiệt độ thấp cá bỏ ăn dẫn đến suy yếu, nhiễm bệnh và chết. Ở
những tháng mùa hè (tháng 4-5) nhiệt độ cao cũng làm cho cá bị sốc và nhiễm bệnh
đặc biệt là bệnh xuất huyết ruột gây chết cá. Những tháng lũ rút hay những tháng lũ
mới đổ về thì nguồn nước bị ô nhiễm cũng làm cho cá dễ bị bệnh. Hầu hết các hộ nuôi
cá Tra ở Thoại Sơn đều quan tâm đến vấn đề dịch bệnh ở cá nuôi và biết cách phòng
trị bệnh cho cá. Có nhiều phương pháp phòng trị bệnh khác nhau như giữ gìn tốt môi
trường nước, bổ sung thuốc và hóa chất phòng trị bệnh. Tuy nhiên kiến thức phòng, trị
bệnh cá của người dân chủ yếu từ kinh nghiệm thực tế sản xuất. Phòng bệnh luôn
được tiến hành nhưng phương thức của mỗi người khác nhau, biện pháp đơn giản luôn
được thực hiện là thay nước, xử lý nước, bổ sung vitamin hằng ngày trong khẩu phần
ăn của cá. Thuốc phòng trị bệnh cá của người dân sử dụng chủ yếu từ 3 nguồn: thuốc