LUẬN VĂN:
vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Lời mở đầu
Sự chuyển đổi nền kinh tế thị trường (KTTT) theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước là xu hướng tất yếu của mọi xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà nền
kinh tế các nước phát triển trên thế giới đã đạt tới đỉnh cao và xu hướng vận động phát triển của
thế giới đang tiến vào thế kỷ văn minh trí tuệ thì sự chuyển đổi KTTT theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước là tất yếu khách quan của bất kỳ một quốc gia nào muốn vươn tới và
hoà nhập với xu hướng phát triển chung của nhân loại.
Về mặt kinh tế hiện nay Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia kém phát triển. Để có
Các mối quan hệ trong cơ chế thị trường chịu sự tác động của các qui luật kinh tế khách
quan như qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật lưu thông tiền tệ. Động lực của các mối
quan hệ này là lợi nhuận trong môi trường cạnh tranh. Cơ chế thị trường là cơ chế có rất nhiều
ưu điểm:
- Cơ chế thị trường là cơ chế năng động nhạy cảm có khả năng tự động điều tiết nền sản
xuất xã hội tức là sự phân bổ sản xuất vào các khu vực các ngành kinh tế hay sản xuất cái gì
như thế nào đều do thị trường quyết định mà không cần bất cứ sự điều khiển nào.
- Cơ chế thị trường đáp ứng được những nhu cầu đa dạng phức tạp của người tiêu dùng, tự
động kích thích sự phát triển của sản xuất, tăng cường chuyên môn hoá sản xuất.
- Cơ chế thị trường mang tính hiệu quả cao: Các doanh nghiệp muốn thu được lợi nhuận
cao thì đòi hỏi phải tiết kiệm chi phí sản xuất, kích thích tiến bộ của KHKTCN.
- Cơ chế thị trường thúc đẩy sự cạnh tranh làm cho sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao
hơn, giá thành các sản phẩm giảm.
Bên cạnh những mặt tích cực trên cơ chế thị trường còn rất nhiều khuyết tật và mâu thuẫn
như sau:
- Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết chạy theo lợi nhuận, các nhà sản xuất, sản xuất
quá nhiều một loại sản phẩm hàng hoá vào đó gây ra ế thừa dẫn đến sự khủng hoảng lãng phí.
- Cơ chế thị trường gây mất cân bằng xã hội. Tính cạnh tranh của cơ chế thị trường làm
xã hội phân hoá giàu nghèo, giai cấp.
- Cơ chế thị trường gây mất ổn định, mất cân đối trong sản xuất xã hội. Thực tế cho thấy
tranh nên công nghệ, KHKT chậm đổi mới chất lượng sản phẩm ngày càng thấp, giá cả ngày
càng cao do chi phí sản xuất quá lớn. Hàng hóa trên thị trường thiếu hụt nghiêm trọng kinh tế
chậm phát triển, thời kỳ này do nước ta chú ý trông chờ vào các viện trợ vốn và hàng hóa từ
nước ngoài. Khi nguồn viện trợ từ nước ngoài giảm và chấm dứt, nền kinh tế không theo kịp đã
rơi vào khủng hoảng sản xuất trì trệ đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả cao dẫn đến lạm phát
có thời kỳ lạm phát vượt mức 700% đời sống người lao động ngày càng khó khăn hơn.
Mặt khác, cũng trong thời kỳ này nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực đang phát
triển mạnh. Nền kinh tế ở các nước công nghiệp mới phát triển, nghiên cứu chủ yếu là thành
phần kinh tế tư bản tư nhân và Nhà nước chỉ đóng vai trò hướng dẫn nền kinh tế phát triển
thông qua các kế hoạch trung hạn và dài hạn. Nhà nước không can thiệp trực tiếp mà tạo điều
kiện để các doanh nghiệp cạnh tranh tự do trên thị trường. Chính vì vậy tốc độ tăng trưởng kinh
tế ở các nước này là rất cao, đời sống nhân dân nâng lên rõ rệt.
Trước sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng, trước xu hướng phát triển liên tục của các nước
trong khu vực và trên thế giới đặt nền kinh tế nước ta tới sự bức bách phải đổi mới.
Từ đại hội VI, của Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và thực
hiện chuyển đổi cơ chế kế hoạch hóa sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Đến đại hội
VII, Đảng ta xác định rõ việc chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền KTTT
định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Xem xét dưới góc độ khoa học, việc chuyển
đổi này là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với thực tế của nước ta, phù hợp với các quy luật kinh tế
,với xu thế của thời đại.
Chuyển nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung hành chính quan liêu
bao cấp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN là nội dung bản chất và đặc điểm khái quát nhất của nước ta
trong giai đoạn hiện nay và cả tương lai.
KTTT cần phải chuyển từ tác phong chỉ huy mệnh lệnh sang tác phong hỗ trợ tạo môi trường
và điều kiện cho thị trường phát triển, xử lý hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với cân bằng ổn
định, giữa phát triển kinh tế với việc thể hiện các chính sách xã hội.
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần nhưng nền kinh tế Nhà nước
phải đóng vai trò chủ đạo. Sự quản lý điều tiết định hướng phát triển nền KTTT của Nhà nước
là thông qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà
nước. Kinh tế Nhà nước phải nắm vị trí quan trọng trong một số lĩnh vực then chốt có nghĩa là
"mạch máu" của nền kinh tế chi phối các thành phần kinh tế khác. Nhưng cùng với việc nhấn
mạnh vai trò chủ đạo của KTNN thì cần coi trọng khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp
đặt chúng trong mối quan hệ hữu cơ gắn bó thống nhất không tách rời biệt lập.
Nhà nước phải khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển đó là khu vực tư nhân
nhằm thu hút đầu tư vốn từ khu vực này. Kinh nghiệm của Nhật Bản, các con rồng Châu á và
các nước trong nhóm nghiên cứu cho thấy sự thành công của họ là nhờ công lao to lớn của khu
vực tư nhân.
Nhà nước dựa trên cơ sở ổn định chính trị lấy chính trị làm tiền đề và điều kiện cải cách
kinh tế đổi mới quản lý cho phù hợp với điều kiện của KTTT đưa cải cách tiến lên những bước
phát triển mới.
Nhà nước mở rộng tự do buôn bán với nước ngoài. Mở cửa hội nhập nền kinh tế trong
nước với nền kinh tế thế giới trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ toàn vẹn lãnh thổ. Sự mở cửa
hội nhập thể hiện với tự do hóa thương mại, đầu tư và chuyển giao khoa học công nghệ trên cơ
sở phát huy lợi thế và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Xu hướng quốc tế
hóa đời sống kinh tế với khu vực hóa và toàn cầu hóa ngày càng phát triển và trở thành xu thế
tất yếu của thời đại của cuộc cách mạng KHCN hiện nay. Để tránh nguy cơ tụt hậu và những
thành tựu KHCN mới nhất thì không còn cách nào khác ngoài việc mở cửa, mở rộng quan hệ
giữa Chính phủ và thị trường trong một nền kinh tế hỗn hợp nhằm bảo đảm sự phát triển có
hiệu quả với mức tăng trưởng kinh tế nhanh.
Mặt khác nếu để nền KTTT tự do hoạt động không có sự kiểm soát của Nhà nước thì sẽ
dẫn đến rất nhiều hậu quả. Nguy cơ khủng hoảng kinh tế là khôn lường. Thị trường tự do hoạt
động, giá cả theo thị trường leo thang, sản xuất tràn lan gây nên một sự lãng phí rất lớn các nhà
sản xuất chạy theo những ngành mang lại lợi nhuận cao như ma túy, buôn lậu làm hàng giả,
kinh doanh văn hóa đồi trụy. Đó là chưa kể tới tình trạng lạm phát và thất nghiệp cũng từ đó
mà gia tăng không cách gì kiềm chế được. Thị trường tự do hoạt động chính là quan điểm kinh
tế của trường phái cổ điển nhưng quan điểm này là hoàn toàn sai lầm và đã gây ra những biến
động lớn tiêu cực tới nền kinh tế các nước trong thời kỳ đó. Thực tế trong những thập kỷ gần
đây cho thấy nền KTTT luôn luôn trải qua các giai đoạn phồn vinh và đình trệ. Gần đây nhất
kinh tế Thái Lan đã bị khủng hoảng nặng. Cuộc khủng hoảng này đã lây sang các nước
Inđônêsia, Hàn Quốc và đã kéo nền kinh tế nước này chậm xuống 30 năm. Tác hại của khủng
hoảng kinh tế là rất lớn, nó cuốn trôi tất cả thành tựu kinh tế trong 30 năm của Inđônêsia làm
cho sản xuất bị đình trệ, thất nghiệp tăng cao, đồng tiền trong nước bị mất giá nghiêm trọng.
Đứng trước vấn đề khó khăn đó các nhà kinh tế đều khẳng định rằng muốn khắc phục các hiện
tượng trên thì Nhà nước cần phải can thiệp sâu hơn vào nền kinh tế. Thiếu vai trò kinh tế của
Nhà nước, nền kinh tế không tài nào phát triển được.
Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế đem lại hiệu quả rất lớn: Nhà nước điều chỉnh
quá trình sản xuất, phân phối lại trao đổi và tiêu dùng, hình thành các thị trường nhỏ, điều tiết
quá trình kinh doanh thu hút vốn đầu tư. Đồng thời Nhà nước kịp thời đảm bảo tính ổn định
phát huy mọi nguồn lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Nhà nước có vai trò to lớn như vậy nhưng thực tế vai trò kinh tế của Nhà nước mới chỉ
được thừa nhận cách đây gần 60 năm kể từ sau cuộc đại suy thoái 1929 - 1933. Đối với nước ta
nhìn nhận kinh nghiệm của thế giới và các kinh nghiệm trong khu vực từ đó mà phát triển tạo ra
Nhà nước có chức năng tạo ra môi trường và điều kiện cho việc tiến hành các hoạt động
sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường bằng cách: duy trì pháp luật, trật tự an toàn xã hội,
thi hành nhất quán các chính sách và thể chế theo hướng đổi mới, ổn định môi truờng kinh tế
thi hành nhất quán các chính sách và thể chế theo hướng đổi mới, ổn định môi trường kinh tế vĩ
mô kìm chế lạm phát, điều tiết thị trường ngăn ngừa và xử lý kịp thời những "cơn sốt" về giá
cả. Nhà nước đề ra luật pháp bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư.
- Nhà nước ngăn ngừa các tác động bên ngoài, ngăn ngừa những âm mưu phá hoại nền
kinh tế của các thế lực thù địch để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc mở rộng quan hệ ngoại giao, buôn bán với nước
ngoài.
- Thông qua hệ thống pháp luật, Nhà nước đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh
nghiệp, các nhà sản xuất kinh doanh. Trong nền KTTT mục đích của các nhà sản xuất kinh
doanh là lợi nhuận vì vậy họ bằng mọi cách và tìm mọi cách để thu lợi nhuận cao có thể là thủ
tiêu đối thủ cạnh tranh của mình vì vậy Nhà nước cần phải có sự can thiệp để điều chỉnh những
hành vi của họ vào những việc làm có lợi như nâng cao chất lượng sản phẩm đa dạng phong
phú mẫu mã cạnh tranh về giá cả. Đồng thời Nhà nước còn có chức năng chống độc quyền của
các doanh nghiệp. Độc quyền trong nền KTTT đồng nghĩa với sự mất cân đối giữa cung - cầu, giữa tiêu dùng và sản xuất, đồng nghĩa với sự leo thang của giá cả vì vậy đầy có thể là nguyên
nhân dẫn đến lạm phát.
- Nhà nước dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển của các thành phần kinh tế. Thông
qua kế hoạch và chính sách kinh tế sử dụng có trọng điểm và hiệu quả các năng lực tập trung và
lực lượng dự trữ. Nhà nước kiểm soát và phân phối các nguồn tài nguyên của đất nước để nâng
cao hiệu quả sử dụng và bảo vệ môi trường sinh thái. Quản lý và kiểm soát tài sản quốc gia tại
- Các doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân ngoài yêu cầu
đảm bảo nền kinh tế phát triển đúng định hướng XHCN còn do thành phần kinh tế này gắn với
loại hình sở hữu cao nhất là sở hữu Nhà nước. KTNN phát triển dựa trên một trình độ lực lượng
sản xuất phát triển cao trình độ quản lý và phân phối sản phẩm gần với mục tiêu của CNXH
thời kỳ quá độ.
- Kinh tế Nhà nước đóng vai trò là mạch máu lưu thông, bao gồm những ngành nghề lĩnh
vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống tài chính, ngân sách bảo hiểm ,
những cơ sở thương mại, dịch vụ quan trọng với quy mô lớn và vừa, công nghệ tiến bộ.
- Kinh tế Nhà nước thể hiện đầy đủ tính ưu việt của CNCS đảm bảo sự thống nhất tăng
trưởng kinh tế với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, thống nhất chính sách kinh
tế với chính sách xã hội.
- Kinh tế nhà nước chiếm vị trí then chốt có liên quan tới hoạt động của toàn nền kinh tế,
chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác.
- Kinh tế Nhà nước mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách và là đòn bẩy đẩy nhanh tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Kinh tế Nhà nước mở đường hướng dẫn hỗ trợ các thành phần
kinh tế khác cùng phát triển.
- Kinh tế Nhà nước thể hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
XHCN.
Ngoài ra chức năng kinh tế Nhà nước thể hiện ở vai trò điều tiết kiểm kê kiểm soát của
Nhà nước đối với khu vực tư nhân.
Nói tóm lại, Nhà nước có chức năng kinh tế rất lớn, điều hành quản lý ở tầm vĩ mô nhưng
đối với từng nước thì các chức năng đó thể hiện công dụng một cách khác nhau tùy thuộc vào
chế độ kinh tế của từng nước, tùy thuộc sự phát triển kinh tế của nước đó ra sao mà sử dụng cho
phù hợp.
2. Chính sách kinh tế:
Để thể hiện một cách triệt để các chức năng của Nhà nước thì đòi hỏi Nhà nước phải có
các chính sách kinh tế (chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách
tín dụng ) và các kế hoạch nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển có hiệu quả.
Hệ thống các chính sách kinh tế giúp cho Nhà nước có thể điều khiển hoạt động của các
doanh nghiệp. Mỗi chính sách kinh tế là một hành lang hướng dẫn hoạt động đầu tư mở rộng
sản xuất phát triển, hướng dẫn các doanh nghiệp hành động một cách phù hợp đối với lợi ích
của toàn xã hội. Mỗi chính sách kinh tế đều có thể tác động về cả hai phía cung và cầu:
* Chính sách tài chính: trong cơ chế thị trường việc phân phối tài chính được thể hiện trên
thị trường theo các các qui luật của thị trường thậm chí còn tồn tại thị trường tài chính mà ở đó
diễn ra hoạt động trao đổi mua bán đáp ứng quan hệ cung - cầu về nguồn lực tài chính. Hoạt
động tài chính càng trở nên phong phú đa dạng tác động tới mọi mặt của đời sống xã hội. Nhà
nước sử dụng chính sách tài chính như là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế. Chính sách tài chính là một trong những công cụ quản lý vĩ mô chủ yếu của Nhà nước có vai trò cực
kỳ quan trọng trong quá trình thể hiện đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng.
- Nhà nước sử dụng chính sách tài chính nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một định hướng cơ
tiền trong nước tạo môi trường ổn định cho tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao về bền vững.
Thông qua sự phối hợp hoạt động giữa ngân hàng Nhà nước và ngân hàng thương mại để thu
hút nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đưa vào sản xuất kinh doanh tạo ra việc làm, giảm tỷ lệ
người thất nghiệp.
- Nhà nước sử dụng chính sách tài chính tiền tệ để điều tiết các hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần chuyển đổi cơ cấu nông
nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu “công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ". Nhà nước
phát triển thị trường tiền tệ ở nông thôn đáp ứng nhu cầu phát triển của nông dân đưa nông
nghiệp thành ngành sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường thể hiện chương trình xoá đói
giảm nghèo của Đảng và Nhà nước đồng thời thông qua chính sách phát triển nhằm nâng cao
đời sống nhân dân ỏ nông thôn rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Thông qua
hoạt động của thị trường tiền tệ cho vay với lãi suất ổn định nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp
chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường nâng cao tính tự chủ về tài chính của doanh
nghiệp để doanh nghiệp có điều kiện đổi mới thiết bị công nghệ nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh.
* Chính sách tín dụng, chính sách ngoại hối cũng là một trong những công cụ quản lý của
Nhà nước. Nhà nước sử dụng chính sách ngoại hối nhằm thể hiện các nghiệp vụ hối đoái, tổ
chức và điều tiết thị trường hối đoái trong nước theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc
tế nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ, nguồn vốn từ nước ngoài và thu hút kiều hối, ổn định tỷ giá
hối đoái nhằm kìm chế lạm phát ổn định giá cả trong nước, tổ chức quản lý chặt chẽ nợ nước
ngoài.
Về chính sách tín dụng, thông qua các ngân hàng trung ương, xuất phát từ nhu cầu của thị
trường và các nhà doanh nghiệp vay vốn để đầu tư sản xuất. Nhà nước sử dụng chính sách tín
dụng nhằm thể hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ đồng thời tăng cường vai trò quản lý của
Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng.
Nhà nước. Sau 15 năm đổi mới đất nước ta đã phải đối phó với rất nhiều khó khăn, nhưng Đảng
và Nhà nước ta đã đề ra được một số một tiêu và giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn đó.
1. Mục tiêu.
Xu hướng vận động nền kinh tế các quốc gia trên thế giới cho thấy không một đất nước
nào có nền kinh tế phát triển lại không nhấn mạnh vai trò kinh tế của Nhà nước. ở các nước
đang phát triển trong suốt nhiều thập kỷ qua người ta vẫn nhận thấy có một xu hướng đó là
cùng với qúa trình tự do hoá giá cả và các hoạt động sản xuất kinh doanh thì vai trò quản lý của
Nhà nước vẫn được tăng cường. Tuy nhiên sự quản lý của Nhà nước không phải lúc nào cũng
có lợi vì vậy Nhà nước nên thận trọng tránh các can thiệp trực tiếp, chỉ can thiệp trực tiếp trong
những trường hợp thật sự cần thiết. Đối các nước khác nhau thì vai trò của Nhà nước được thể
hiện khác nhau nhưng về nguyên tắc Nhà nước có thể và cần phải can thiệp vào thị trường.
Trên thế giới không có mô hình nào chung áp dụng cho tất cả các nước mà phải căn cứ vào điều
kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể, các nước phải tìm ra cho mình một vị trí tiếp cận
với nền kinh tế, một cách thức riêng của mình để can thiệp vào thị trường định hướng nền kinh
tế đến các mục tiêu mong muốn trên cơ sở tôn trọng các quy luật khách quan của thị trường.
Xuất phát từ lí luận chung đó, Việt Nam cũng không nằm ngoài ngoại lệ. Đặc điểm của
Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướg XHCN ở nước ta là Nhà nước pháp
quyền XHCN, là Nhà nước của dân do dân vì dân, Nhà nước công nông đặt dưới sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản Việt Nam. Chính vì vậy đảm bảo giữ vững định hướng XHCN trong việc
phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại ở nước ta. Sự khác biệt về bản chất Nhà nước là một
nội dung và là điều kiện, tiền đề cho sự khác biệt mô hình kinh tế thị trường ở nước ta so với
các nước khác.
Bằng việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế, Nhà nước quản lý và can thiệp vào
nền kinh tế với mục tiêu làm giàu cho đất nước thúc đẩy sự phát triển của nèen kinh tế quốc
2. Các giải pháp đổi mới nâng cao vai trò kinh tế của Nhà nước.
Từ thực trạng nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay còn nhiều hạn chế chưa phát
huy hết các nguồn lực hiện có. Để cho nền kinh tế nước ta vươn lên phát triển sánh cùng với sự
phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới thì Nhà nước ta cần thiết phải tìm mọi
cách để nâng cao vai trò kinh tế của mình hơn nữa trong việc quản lý điều hành, điều tiết nền
kinh tế ở tầm vĩ mô.
a. Nhà nước tiếp tục đa dạng hóa các loại hình sở hữu, đổi mới phương thức hoạt động của các
doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước cho phù hợp với cơ chế thị trường.
ở nước ta hiện nay đang tồn tại 3 loại hình sở hữu chính là sở hữu Nhà nước, sở hữu tư
nhân và sở hữu tư bản Nhà nước. Các loại hình thức này có mối quan hệ vừa cạnh tranh vừa
hợp tác lẫn nhau tạo nên cơ sở của kinh tế thị trường trong sự vận động của cơ chế thị trường.
Song cả 3 loại hình thức sở hữu này chưa có sự cân đối. Sở hữu tư nhân còn quá hạn chế trong
khi đó sở hữu Nhà nước lại quá nhiều thậm chí trong một số ngành, lĩnh vực cần thiết. Vì vậy
cần thu hẹp sở hữu Nhà nước ở những ngành kinh tế không cần thiết và đẩy mạnh phát triển
hình thức sở hữu tư nhân và tư bản Nhà nước. Nhà nước cần có chính sách thiết thực nhằm thúc
đẩy sở hữu tư nhân phát triển vì đây là động lực cho sự phát triển của xã hội vì nó cho phép mọi
người dân có điều kiện đầu tư phát huy tối đa nguồn lực hướng tới sự phát triển. Mặt khác Nhà
nước cũng cần phải xóa bỏ tư tưởng e ngại sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân sẽ lấn át
khu vực kinh tế quốc doanh.
Về phương thức hoạt động của các doanh nghiệp chưa thực sự phù hợp với cơ chế thị
trường , chưa có sự thống nhất từ trên xuống dưới, cơ chế quản lý cồng kềnh kém hiệu quả dẫn
đến nhiều xí nghiệp làm ăn thua lỗ, Nhà nước ta cần có chính sách để tự do các doanh nghiệp
hoạt động nhưng phải có chế độ kiểm soát chặt chẽ trong lĩnh vực tài chính phải có những
chính sách buộc công bố công khai kết quả kinh doanh. Hơn nữa trong các doanh nghiệp Nhà Trong công tác kế hoạch hóa thương mại trong nền kinh tế thị trường Nhà nước phải thực
hiện tốt những nhiệm vụ sau:
- Nhà nước phải xây dựng chiến lược thị trường và quy hoạch sự phát triển thương mại
đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hàng hóa.
- Nhà nước phải xác định các cân đối trên thị trường: cân đối giữa cung - cầu, cân đối giữa
tiền và hàng
- Nhà nước phải xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung cho các ngành, vùng,
lĩnh vực. Định hướng cho các ngành các cấp đơn vị xác định phương hướng phát triển phương
hướng đầu tư một cách lâu dài.
- Đổi mới phương pháp xây dựng kế hoạch 5 năm, 10 năm các kế hoạch ngắn hạn hay dài
hạn đảm bảo tính thống nhất trong cân đối các nguồn lực xã hội.
d. Nhà nước phải thường xuyên đổi mới cơ chế hoạt động của nền kinh tế, sử dụng các chính
sách kinh tế một cách đồng bộ theo yêu cầu của cơ chế thị trường.
Không phải trong giai đoạn nào thời kỳ nào nền kinh tế thị trường cũng có những ưu điểm
và khuyết tật giống nhau. Tùy vào từng thời kỳ từng giai đoạn phát triển khác nhau của nền
kinh tế, những khuyết tật của nền kinh tế thị trường sẽ biểu hiện khác nhau và không phải lúc
nào cũng thuận lợi. thị trường luôn luôn vận động và không chịu áp đặt theo xu hướng vận
động nào vì vậy để cho nền kinh tế không bị tụt hậu, phát triển theo sự phát triển của cơ chế thị
trường thì Nhà nước phải thường xuyên đổi mới cơ chế hoạt động của nền kinh tế. Thông qua
việc tự do hóa giá cả trên thị trường, tự do cạnh tranh Nhà nước cần phải hướng thị trường
vốn thị trường đầu tư, thị trường hàng hóa theo sự phát triển ổn định.
mới quản lý kinh tế vĩ mô.
Thứ nhất, công cụ để quản lý kinh tế hiệu quả nhất đó chính là hệ thống pháp luật. Hệ
thống pháp luật nước ta hiện nay còn rất nhiều điều cần nói tới. Đó chính là sự thiếu đồng bộ
còn nhiều thiếu sót. Theo cơ chế thị trường nền kinh tế đang vận động phát triển đi lên nảy sinh
nhiều hiện tượng cần được pháp luật bảo vệ nhưng trên thực tế hệ thống pháp luật của ta còn
thiếu trầm trọng . Vì vậy Nhà nước cần phải.
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống luật pháp mà đặc biệt là luật kinh tế.
- Tăng cường hiệu lực pháp luật hơn nữa đối với hoạt động của các doanh nghiệp.
- Trong pháp luật kinh tế phải quy định đầy đủ các quan hệ nảy sinh trong nền kinh tế thị
trường như cạnh tranh chống độc quyền, phá sản, quyền sở hữu, bảo hiểm xã hội sửa đổi kịp
thời những quy định không phù hợp đã kìm hãm sự phát triển kinh tế trước đây.
- Bên cạnh việc đổi mới hoàn thiện luật kinh tế thì việc đổi mới hoàn thiện luật doanh
nghiệp luật lao động luật dân sự là hết sức cần thiết.
Thứ hai, để cho việc quản lý Nhà nước đạt được hiệu quả cao phải nói tới đội ngũ cán bộ
quản lý đội ngũ cán bộ quản lý của nước ta hiện nay đang là vấn đề nan giải. Một số không nhỏ
cán bộ quản lý thiếu trình độ năng lực quản lý, một số khác thoái hóa biến chất dẫn đến việc
quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp kém hiệu quả, không biết đối phó với những khó khăn
dẫn đến việc thua lỗ, quản lý lỏng lẻo. Bên cạnh đó là tệ quan liêu tham nhũng đang có chiều
hướng gia tăng. Vì vậy cần phải:
- Đào tạo đội ngũ chuyên gia thực sự có năng lực có phẩm chất chính trị, hình thức chức
năng chuyên môn hóa trong lĩnh vực hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội tầm vĩ mô.