LUẬN VĂN:
Tác dụng tích cực và hạn chế những khiếm
khuyết của cả hai yếu tố thị trường và sự
can thiệp của nhà nước
Lời mở đầu
quy luật cung cầu, quyluật lưu thông tiền tệ. Có thể nói cơ chế thị trường là tổng thể hữu
cơ giữa các nhân tố kinh tế: cung cầu, giá cả trong đó người sản xuất và người tiêu dùng
tác động lẫn nhau thông qua thị trường để xác định được ba vấn đề cơ bản là sản xuất cái
gì ? như thế nào? và cho ai ?
Những mặt ưu của thị trường và cơ chế thị trường:
- Thừa nhận công dụng xã hội của sản phẩm và lao động chi phí sản xuất ra nó. Do
đó nó kích thích những người sản xuất trao đổi hàng hoá giảm chi phí sản xuất và lưu
thông cải tiến chất lượng, quy cách, mẫu mã, hình thức cho phù hợp nhu cầu, thị hiếu
người tiêu dùng. Sản xuất hàng hoá là việc riêng của từng người có tính độc lập đối với
người sản xuất khác. Nhưng hàng hoá của họ có đáp ứng nhu cầu xã hội về chất lượng,
hình thức thị hiếu người tiêu dùng không? Chỉ trên thị trường và thông qua thị trường các
vấn đề trên mới được khẳng định và có lời giải đáp. Ngoài chức năng là nơi kiểm nghiệm
sự chấp nhận của người tiêu dùng, thì thị trường còn có chức năng là đóng vai trò như
một đòn bẩy, nó kích thích và hạn chế sản xuất và tiêu dùng. Trên thị trường mọi hàng
hoá đều mua bán theo giá cả thị trường. Cho nên người sản xuất luôn tìm cách hạ giá
thành sản xuất ít hơn giá cả thị trường, không những không giảm mà còn tăng chất lượng
sản phẩm. Điều này tạo điều kiện cho người sản xuất có một thế mạnh trên thị trường và
làm ăn có lãi. Dẫn đến làm phát triển sự tiến bộ xã hội. Cạnh tranh cung - cầu làm cho giá cả thị trường biến đổi thông qua sự biến đổi đó thị trường có tác dụng kích thích hoặc hạn
chế sản xuất đối với người sản xuất, kích thích hoặc hạn chế tiêu dùng đối với người tiêu
dùng. Ngoài ra thị trường còn cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng.
Thị trường cho biết những biến động về nhu cầu xã hội, số lượng giá cả, cơ cấu và xu
hướng thay đổi của nhu cầu các loại hàng hoá dịch vụ. đó là những thông tin cực kỳ quan
trọng đối với người sản xuất hàng hoá, giúp họ điều chỉnh sản xuất cho phù hợp với
thông tin của thị trường.
Cơ chế thị trường hoạt đồng theo các quy luật của nền kinh tế thị trường. Đó là quy luật
giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ Thông qua các
hoạt động trao đổi mua bán hàng hoá cơ chế thị trường với sự dẫn dắt của giá cả đã có tác
thị trường không bảo đảm được việc tạo ra một cơ cấu sản phẩm tối ưu phù hợp với yêu
cầu xã hội. Do chạy theo lợi nhuận nên nhà sản xuất có thể gây nên những tác động tiêu
cực cho xã hội như ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, phân hoá giàu nghèo mà
toàn xã hội phải gánh chịu.
Thị trường và cơ chế thị trường có những khuyết tật nhất định và cụ thể. Do tính tự
phát dẫn tới sự hỗn độn trong nền kinh tế. Mặt khác nó kích thích lợi ích cá nhân, lợi ích
cục bộ, nhưng lại xem nhẹ lợi ích xã hội, lợi ích tập thể. Nó chỉ phản ánh những nhu cầu
trước mắt mà không vạch ra nhu cầu tương lai. Những chỉ số kinh tế như giá cả lợi nhuận
thường xuyên biến động làm cho người sản xuất và lưu thông hàng hoá khó định hướng,
thường bị động đối phó, nhiều lúc gây ra sự lãng phí lao động xã hội.
Nhận thức được những đặc điểm đó Nhà nước có thể sử dụng lực lượng dự trữ về
kinh tế và những chính sách phù hợp như kế hoạch, thuế, hợp đồng kinh tế để cùng với
thị trường điều khiển sự hoạt động của nền kinh tế theo định hướng và mục tiêu xác định.
Trước đây ta đã phân tích những mặt tích cực những chức năng to lớn của nền kinh
tế thị trường đem lại. Nước là một nước đang yếu kém về mặt quản lý cũng như nền kinh
tế nên chúng ta không thể không áp dụng nền kinh tế thị trường được. Tuy rằng chúng ta
đi lên theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản, nhưng chúng ta
không phải bỏ đi toàn bộ mọi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mà chúng ta bỏ qua
kinh tế hàng hoá hay kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải áp dụng như thế
nào để không hạn chế những mặt tích cực của nền kinh tế thị trường và khai thác triệt để
nó. Mà phải loại trừ những mặt trái, mặt tiêu cực của nó. Để loại bỏ được những khuyết tật của nền kinh tế thị trường thì không có cách nào khác đó là phải có sự quản lý điều
tiết của Nhà nước. Sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường không phải chỉ
là để loại bỏ những khuyết tật của nó, mà còn là sự định hướng phát triển của nó đi đúng
với đường lối mà Nhà nước ta đề ra.
Sự cần thiết của Nhà nước trong sự quản lý thị trường.
Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, sự dao động thường xuyên của
các nhân tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị làm cho các quan hệ tỷ lệ đó luôn luôn biến
người khác, cơ sở khác, ngành khác Và do đó, tất yếu nảy sinh lợi ích cá nhân của bộ phận
này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích cá nhân của bộ phận khác trong xã hội xét theo tổng thể
nền kinh tế quốc dân. Biện luận và mặt xã hội của xu hướng này là các hoạt động kinh tế bị
đảo lộn, các vấn đề xã hội, chính trị phát sinh và chỉ sau những biến động lớn về kinh tế - xã
hội thì mọi quan hệ đời sống xã hội, kinh tế mới dần dần lặp lại được thế cân bằng ổn định.
Sự phát triển kinh tế có tính chu kỳ hoặc theo kiểu “làn sóng” của nền kinh tế thị
trường ở các nước TBCN nói lên nhược điểm của cơ chế thị trường. Muốn khắc phcụ được
nhược điểm này cần có một bộ phận điều hành vĩ mô bằng các hoạch định, các chương
trình, chiến lược và kế hoạch phát triển với các mục tiêu về quy mô, về cơ cấu trong từng
ngành, từng vùng cũng như các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế quốc dân. Các
mục tiêu vĩ mô này là những định hướng không thể thiếu được cho các hoạt động kinh tế
của cá nhân, cơ sở và các ngành, vùng trong cả nước. Bộ phận điều hành vĩ mô ở đây
không ai khác ngoài vai trò của Nhà nước - chủ thể kinh tế của nền kinh tế quốc gia.
Hai là: Trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, các hoạt động sản xuất
kinh doanh, các hành vi giao dịch đều tiến hành thông qua thị trường và tuân theo các quy
luật của thị trường. Bên cạnh những hàng hoá, dịch vụ, chi phí bỏ ra và lợi nhuận thu về
của từng cá nhân thường khác với chi phí và lợi ích thực tế của toàn xã hội với tư cách là
một tổng thể như các loại hàng hoá, dịch vụ công cộng mà chi phí sản xuất phải bỏ ra nhiều
nhưng lợi nhuận thu về rất thấp, chỉ đem lại lợi ích cho xã hội. Mặt khác, những hàng hoá,
dịch vụ công cộng quan trọng như quốc phòng, an ninh thì không thể giao cho tư nhân
được mà Nhà nước cần đứng ra sản xuất.
Ba là: Nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường không thể tách khỏi
môi trường chính trị, kinh tế và xã hội. Nếu môi trường chính trị, kinh tế và xã hội không
ổn định, thường xuyên có sự đụng độ và xung đột giữa các giai cấp trong xã hội thì gân
nên những hiện tượng tiêu cực làm cho nền kinh tế không phát triển. Cơ chế thị trường - cơ chế điều chỉnh hành vi của người sản xuất lẫn người tiêu dùng theo mệnh lệnh giá cả,
khi đó sẽ bị méo mó. Những nhược điểm của cơ chế thị trường sẽ lan rộng và đẩy môi
trường kinh tế, chính trị và xã hội vào tình trạng rối loạn và khủng hoảng.
nước chậm phát triển, đang phát triển cho đến các nước có nền kinh tế phát triển cao đều
không vắng bóng các cơ sở quốc doanh. Kinh nghiệm thực tế của các nước đã chỉ ra,
việccủng cố tăng cường sức mạnh kinh tế của các cơ sở kinh tế quốc doanh trong những
ngành và lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân vừa là công cụ quản lý vừa là lực
lượng kinh tế trực tiếp để tham gia hình thành, mở rộng quan hệ thị trường:
Sự ra đời và tồn tại của kinh tế quốc doanh là cần thiết và có tính chất phổ biến với tất
cả các nước không phân biệt chế độ kinh tế xã hội và trình độ phát triển. Sự khác nhau giữa
các nước chỉ là phạm vi, mức độ của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế và sự có mặt của
các cơ sở kinh tế quốc doanh trong ngành này hay ngành khác tuỳ thuộc vào điều kiện cụ
thể của từng nước trong từng thời kỳ nhất định.
Sáu là: Đối với các nước bước vào giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá vận động
theo cơ chế thị trường từ một trình độ kinh tế chưa phát triển, sản xuất nhỏ, tự túc tự cấp
là phổ biến lại chịu ảnh hưởng nhiều năm của cơ chế hành chính bao cấp như nước ta thì
Nhà nước giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong công việc hình thành và phát triển các quan
hệ thị trường và việc sử dụng cơ chế thị trường. ở các nước này, Nhà nước phải gánh vác
các mục tiêu kinh tế vĩ mô và thực hiện nhiều mục tiêu xã hội vừa có tính cơ bản, vừa có
tính cấp bách như phân bố sản xuất, lao động vào các ngành, các vùng mới, huy động
mọi tiềm năng vào phát triển và lưu thông hàng hoá, tổ chức phân công lại lao động và
giải quyết các nhu cầu khác của đời sống kinh tế xã hội. Chúng ta tiến hành mở rộng các
quan hệ thị trường, cơ chế thị trường trong điều kiện luật pháp, chính sách chưa đầy đủ
và kế thừa những thành tựu của các nước đi trước.
Đối với những nước đang phát triển, việc hoàn thiện và thường xuyên tăng cường
các biện pháp hành chính - pháp lý và hành chính kinh tế cùng với việc phát triển hệ
thống các cơ sở kinh tế của Nhà nước trong các ngành và lĩnh vực then chốt của nền kinh
tế quốc dân là những công cụ vĩ mô vô cùng quan trọng trong việc hình thành và mở
rộng, định hướng các quan hệ thị trường và sử dụng cơ chế thị trường theo phương hướng
mục tiêu đã định. Trong việc quản lý, Nhà nước không được xem nhẹ hay coi nặng bất cứ
một công cụ nào mà phải sử dụng nhịp nhàng một cách đồng bộ bởi vì mỗi loại công cụ
nước ta cũng như nhiều nước khác là nền kinh tế kế hoạch có sự quản lý của Nhà nước
bằng kế hoạch và công cụ khác.
Trong nền kinh tế thị trường cần và có thể phân biệt hai loại kế hoạch: kế hoạch
kinh tế - xã hội và kế hoạch kinh doanh.
* Kế hoạch kinh tế - xã hội: là kế hoạch có định hướng, hướng dẫn do Nhà nước
xây dựng nhằm định hướng phát triển và cân đối lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Kế hoạch này vừa tạo ra môi trường cho sản xuất kinh doanh, vừa bảo đảm sự thống nhất
giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
* Kế hoạch sản xuất kinh doanh: là kế hoạch hành động, kế hoạch làm ăn, mua bán
do các doanh nghiệp xây dựng và quyết định dựa theo kế hoạch của Nhà nước và sự vận
động của cơ chế thị trường. Kế hoạch kinh doanh phải đạt mục tiêu vừa thoả mãn nhu
cầu xã hội, vừa thu được lợi nhuận tối đa.
Như vậy, kế hoạch kinh tế - xã hội không hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường và có
thể điều tiết thị trường. Còn kế hoạch sản xuất kinh doanh phải gắn chặt với thị trường,
coi thị trường là mệnh lệnh, đối tượng của kế hoạch.
c. Chính sách tài chính.
Chính sách tài chính chủ yếu thể hiện ở hai nội dung: thu và chi tiêu của Chính phủ
từ đó tác động vào tổng cung và tổng cầu, sản lượng, giá cả và việc làm.
Khi chính sách tài chính được áp dụng để giảm hoặc thoát khỏi suy htoái kinh tế gọi
là chính sách tài chính mở rộng, nó tác động thông qua hai con đường:
- Tăng chi tiêu của Chính phủ như đẩy mạnh sản xuất hàng hoá công cộng, tăng đơn
đặt hàng mua và những khoản chi khác. Như vậy sẽ làm tăng tổng cầu và qua đó tác
động, kích thích làm tăng tổng cung. Vì vậy ta có thể giải quyết tốt vấn đề suy thoái và
thất nghiệp.
- Giảm thuế sẽ kích thích tiêu dùng và đầu tư. Do vậy sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển,
tạo điều kiện giải quyết việc làm.
Khi chính sách tài chính được áp dụng để giảm lạm phát thì chính sách tài chính thắt
chặt. Nó cũng tác động đến các biến cố của nền kinh tế vĩ mô theo hai con đường:
Đặc biệt là các khâu trọng yếu trong các ngành có ý nghĩa xã hội to lớn như lương thực
thực phẩm. Ngoài ra kinh tế quốc doanh còn là đại diện tham gia vào sự hình thành và
mở rộng các quan hệ thị trường theo định hướng của Nhà nước. Vì vậy, chúng ta không
được phủ nhận hay coi nhẹ công cụ và lực lượng đặc biệt này. kết luận
Trong bài viết này, em đã trình bày và phân tích sự hoạt động tồn tại của cơ chế thị
trường cũng như những tác dụng to lớn mà cơ chế thị trường đem lại. Sự phát triển nên
cơ chế thị trường là điều tất yếu của cơ chế tự cung tự cấp. Nước ta đang từng bước
chuyển mình lên cơ chế thị trường và ngày càng hoàn thiện dần nhưng đất nước ta với
nền kinh tế còn phân tán, cán bộ quản lý chưa có kinh nghiệm, cơ sở hạ tầng còn non
kém nên việc chỉ đạo của Nhà nước đóng một vai trò quan trọng, là kim chỉ nam cho việc
phát triển đúng hướng mà chúng ta đã đề ra sự can thiệp đó phải được thể hiện bằng hệ
thống pháp luật bảo vệ quyền tự do dân chủ, công bằng xã hội trong phân phối kinh tế và
mở rộng phúc lợi xã hội cho toàn dân bằng hệ thống hàng hoá công cộng. Ngay từ đầu
nhà nước phải xác định đúng mục tiêu của mình, có như vậy mới có được sự thành công
trong công cuộc đổi mới cơ chế quản lý.
Bước sang thiên niên kỷ mới, nhiều thời cơ mới vận hội mới cho đất nước. Nhà
nước ta một lần nữa khẳng định phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng XHCN có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, đưa đất nước tiến lên CNXH, thực hiện
dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh.
Tài liệu tham khảo
1. Tạp chí phát triển kinh tế số 98-99