Phân tích những tác động tích cực và hạn chế của chính sách liên quan đến kiểm soát chất lượng không khí do nguồn thải công nghiệp - Pdf 13

BỘ
BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ TUYỂN TẬP BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
DỰ ÁN PHỤC VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NĂM 2007

NHÓM CHUYÊN ĐỀ 4

CHÍNH SÁCH VÀ QUI PHẠM PHÁP LUẬT

Thuộc dự án:
“ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT THỐNG KÊ LƯỢNG THẢI, ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG DO KHÍ THẢI CÔNG NGHIỆP VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP GIẢM
THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
DO KHÍ THẢI CÔNG NGHIỆP”


: TTTB & CN Môi trờng
H Nội, 2007

2
MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 3
I. CÁC CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG
KHÔNG KHÍ CỦA VIỆT NAM. 5
II. PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ - THỰC TRẠNG
VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ. 7
II.1. Thực trạng pháp luật về quản lý ô nhiễm không khí tại Việt Nam 7
II.2. Pháp luật nước ngoài về kiểm soát ô nhiễm không khí 8
III. NHỮNG THUẬN LỢI TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, BAN HÀNH
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG KHÔNG
KHÍ Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG 11
IV. NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC CHỦ YẾU TRONG CÔNG TÁC
XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ MÔI
TRƯỜNG Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG 15
IV.1. Thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể của Trung ương 15
IV.2. Khó khăn trong việc thực hiện công tác rà soát hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường 15
IV.3. Quy định trong các văn bản còn chưa th

mt trong bn nhõn t chớnh ca mt xó hi phỏt trin bn vng Kinh t - Mụi
trng - Xó hi - Vn húa gn vic bo v mụi trng vi cỏc chớnh sỏch phỏt
trin kinh t xó hi. Cùng vi vic tham gia ký kết chơng trình Không khí
sạch, đòi hỏi phải có những chơng trình hành động phù hợp nhằm giảm thiểu
và tiến tới ngăn ngừa sự phát thải các chất ô nhiễm không khí vào môi trờng,
trong đó có các cơ sở công nghiệp, đặc biệt là các cơ sở gây ô nhiễm môi trờng
nghiêm trọng. Thực hiện phòng chống và khắc phục ô nhiễm môi trờng do các
hoạt động sản xuất công nghiệp gây ra là một trong những vấn đề
u tiên trong
các hoạt động bảo vệ môi trờng. Vi mc tiờu c bn l Ngn nga ụ nhim
mụi trng, phc hi v ci thin mụi trng nhng ni, nhng vựng ó b suy
thoỏi, tng bc nõng cao cht lng mụi trng cỏc khu cụng nghip, ụ th,
v nụng thụn, gúp phn phỏt trin kinh t xó hi bn vng, nõng cao cht lng
i sng ca nhõn dõn, tin hnh thng li s nghip cụng nghip húa, hin
i
húa t nc theo ch th 36CT/TW ca B Chớnh tr, Ban Chp hnh Trung
ng ng Cng Sn Vit Nam, cỏc c quan ban ngnh ó thc hin cỏc chớnh
sỏch, ban hnh cỏc loi vn bn phỏp lut nhm kim soỏt cht ch cht lng
khụng khớ do cỏc ngun thi cụng nghip vi cỏc mc tiờu Hng ti s phỏt

4
trin bn vng; Kt hp cỏc mc tiờu quc t - quc gia vựng lónh th v cng
ng dõn c trong vic bo v mụi trng; Qun lý cht ch t quan im tip
cn h thng vi vic thc hin bng nhiu bin phỏp v cụng c tng hp a
dng v thớch hp. Cỏc bin phỏp v cụng c trờn bao gm mt h thng vn
bn lu
t phỏp, chin lc, quy hoch, k hoch, chớnh sỏch rt ln v a dng.
Trong khuụn kh d ỏn Cải thiện chất lợng không khí các đô thị do nguồn
thải công nghiệp l dự án thuộc Khung kế hoạch tổng thể thực hiện Chơng
trình cải thiện chất lợng không khí ở các đô thị do Bộ Giao thông Vận tải chủ trì

doanh nghiệp cũng vẫn là những vấn đề của sản xuất, mà mấu chốt là năng lực
lựa chọn. Những điều chỉnh ngày nay về sản phẩm/công nghệ có xu hướng cùng
lúc đạt cả lợi ích về môi trường và hiệu quả/cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây là
nhữ
ng đòi hỏi mới trong xu thế phát triển hội nhập nhiều biến động và trong bối
cảnh khủng hoảng nguyên liệu, năng lượng luôn đe dọa. Bên cạnh đó, yếu tố
quyết định không thể thiếu là những thay đổi trong định chế về tài chính của
doanh nghiệp, làm sao đưa các hạch toán môi trường vào bảng cân đối chung
như là những chi phí hợp pháp trước thuế. Không có những cơ chế tài chính
thích hợ
p, doanh nghiệp cũng không thể giải quyết vấn đề tự đầu tư cho bảo vệ
môi trường tại doanh nghiệp.
- Kiểm soát ô nhiễm công nghiệp, được đổi mới chuyển sang kiểm soát theo
chuỗi hệ thống và tăng cường sự tham gia của cộng đồng thay thế cho tiếp cận
kiểm soát đầu - cuối như trước đây. Hiện tại, cách thức kiểm soát dựa trên các
cam kết củ
a doanh nghiệp và đánh giá tác động môi trường là chưa đầy đủ. Vấn
đề này sẽ được điều chỉnh, nhấn mạnh nhiều hơn tới chế độ báo cáo và quan trắc
môi trường doanh nghiệp.
- Kiểm soát môi trường tại doanh nghiệp, sẽ bắt đầu từ kiểm soát nguyên liệu
đầu vào, từ nguồn cung cấp (các vùng nuôi trồng, khai thác) đến quá trình sản
xuất và đầu ra của sản phẩm. Các quy định và nội dung kiể
m soát sẽ được lồng

6
ghép trong Báo cáo môi trường bắt buộc của doanh nghiệp. Chế độ báo cáo bắt
buộc sẽ được thể chế hóa thành các quy định/quy chế và chi tiết hóa theo đặc
điểm từng ngành.
- Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào việc giám sát các hoạt động công
nghiệp, các quá trình ra quyết định liên quan tới các dự án gây ô nhiễm. Khuyến

quản lý đất, quản lý nguồn nước, quản lý các nguồn sinh vật và hệ sinh thái ,
pháp luật về quản lý không khí ở Việt Nam hiện còn rất thiếu, yếu và tản mạn,
gây không ít khó khăn trong việc áp d
ụng. Thực trạng này là một trong những
nguyên nhân khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường không khí ở nước ta càng
trở nên khó kiểm soát, đặc biệt là khi tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá đang
diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
Cho đến trước khi Luật Bảo vệ môi trường 2005 được ban hành, không tìm
thấy một văn bản pháp luật nào quy định riêng về quản lý và kiểm soát ô nhiễm
không khí, ngoại trừ Quyết định 35/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 25/6/2002 của
B
ộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và Môi trường về việc công bố Danh mục
Tiêu chuẩn Việt Nam về Môi trường bắt buộc áp dụng trong đó có 12 tiêu chuẩn
về chất lượng không khí.
Các quy định về quản lý và kiểm soát bụi, khí thải, và quản lý khí thải gây
hiệu ứng nhà kính tại các Điều 83, 84 trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
được xem là bước tiến lớn trong quá trình phát triển của pháp luật môi trường
nói chung, pháp lu
ật về quản lý và kiểm soát chất lượng không khí nói riêng. Với
những quy định bắt buộc các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ phải có biện
pháp giảm thiểu và xử lý bụi, khí thải đạt quy chuẩn kĩ thuật trước khi thải ra
môi trường, bảo đảm không để rò rỉ, phát tán khí thải, hơi, khí độc hại ra môi
trường; các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm
công nghiệp, khu du lịch và khu vui ch
ơi giải trí tập trung bắt buộc phải có hệ
thống xử lý khí thải đạt quy chuẩn kĩ thuật môi trường và được vận hành thường
xuyên; cho thấy các căn cứ pháp lý để kiểm soát ô nhiễm không khí đang được

8
từng bước củng cố. Trước đó, những cố gắng của cơ quan quản lý nhà nước có

9
ii) Các quy định về tiêu chuẩn phát thải đối với nguồn thải động như ô tô,
tàu bay; phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu sạch.
iii) Các quy định chung về trách nhiệm pháp lý; bảo vệ người lao động;
đánh giá tác động kinh tế; quan trắc chất lượng không khí; chi phí kiểm
soát phát thải;
iv) Các quy định về kiểm soát lắng đọng axit;
v) Các quy định về cấp giấy phép;
vi) Bảo vệ t
ầng ôzôn bình lưu
Luật Không khí sạch của Anh được ban hành vào năm 1993, với nhiều nội
dung cụ thể, gồm:
i) Nghiêm cấm phát thải khói mù (dark smoke) từ các ống khói; từ các
ngành công nghiệp và thương mại;
ii) Các quy định liên quan đến thải khói, mạt đá, bụi, hơi, trong đó bao gồm
các quy định về lắp đặt hệ thống lò luyện kim; giới hạn tỉ lệ phát thải từ các lò
luyện; các thiết bị thu gom tạ
i các lò luyện; chiều cao ống khói;
iii) Các quy định về khu vực kiểm soát khói thải, trong đó quy định việc tạo
lập các khu vực kiểm soát khói thải; nghiêm cấm thải khói tại những nơi bị kiểm
soát khói thải ;
iv) Các quy định về kiểm soát các nguồn chắc chắn gây ô nhiễm không khí;
v) Các quy định về thông tin ô nhiễm không khí;
vi) Những trường hợp đặc biệt
Luật Không khí sạch của Philippine được ban hành vào năm 1993, quy
định khá chi tiết v
ề:
i) Hệ thống quản lý chất lượng không khí, đặc biệt là mạng lưới thông tin
và quan trắc chất lượng không khí, kế hoạch hành động về kiểm soát chất lượng
không khí;

11
III. NHỮNG THUẬN LỢI TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, BAN HÀNH
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG
KHÍ Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG
Tổng hợp báo cáo của 21 Sở Tài nguyên và Môi trường về kết quả rà soát,
kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường do các địa phương
ban hành cho thấy công tác này đã được tiến hành trong điều kiện rất thuận lợi là
lãnh đạo các tỉnh, thành phố trực thu
ộc trung ương nhận thức được tầm quan
trọng của việc quản lý môi trường bằng pháp luật nên đã chỉ đạo rất sâu sát việc
soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực này. Các văn
bản quy phạm pháp luật do các địa phương ban hành đã góp phần đưa công tác
quản lý nhà nước về môi trường đi vào nề nếp phục vụ trực tiếp việc thự
c hiện
các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Xét dưới góc độ cụ thể,
công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về môi trường ở các
địa phương trong thời gian qua có những thuận lợi cơ bản thể hiện ở các nhóm
lĩnh vực sau đây:
- Về trình tự, thủ tục soạn thảo, lấy ý kiến đóng góp, thẩm định và ban
hành văn bản quy phạ
m pháp luật:
Công tác xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp
luật đã được các địa phương chú trọng, từng bước hoàn thiện và đi vào nền nếp
để phục vụ cho công tác quản lý. Hàng năm, các địa phương đều ban hành
Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên cơ ở đề xuất của các
Sở, ban, ngành chuyên môn. Căn cứ vào Chương trình đã ban và sự chỉ đạo của
UBND cấp tỉnh, cơ quan được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng văn bản có trách

quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở các địa phương.
- Các văn bản quy phạm pháp luật về
tài nguyên và môi trường do các địa
phương ban hành đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và được xã hội chấp
thuận, tuân thủ:
Các văn bản được quy định cụ thể, rõ ràng đã tạo điều kiện thuận lợi cho

13
địa phương trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về tài nguyên và môi
trường; đặc biệt trong những năm gần đây, hệ thống văn bản pháp quy về tài
nguyên và môi trường được ban hành tương đối đầy đủ, sát với thực tế cuộc
sống, quy định rõ ràng, cụ thể nên khi triển khai thực hiện được đa số người dân
đồng tình ủng hộ.
- Bên cạnh việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạ
m pháp luật mới,
công tác rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi
trường hiện hành ngày càng được các địa phương coi trọng, tiến hành thường
xuyên góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực này:
Công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc chuyên ngành quản lý
ngày càng được chính quyền các địa phương chú trọng chỉ đạo thực hiện một
cách thường xuyên; trên cơ sở đó đề xuất bãi b
ỏ, sửa đổi, bổ sung, thay thế hay
ban hành văn bản mới. Đây là điều kiện thuận lợi để kịp thời điều chỉnh các quy
định không còn phù hợp với thực tiễn và yêu cầu quản lý.
- Một số địa phương đã thành lập bộ phận chuyên trách trong công tác rà
soát, kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường:
Một số Sở Tài nguyên và Môi trường như Hậu Giang, Đ
à Nẵng v.v đã
thành lập Ban chỉ đạo soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và tổ pháp chế có
chức năng giúp Giám đốc Sở thực hiện việc rà soát, soạn thảo và thẩm định các
15
IV. NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC CHỦ YẾU TRONG CÔNG TÁC
XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ MÔI
TRƯỜNG Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG
Trong quá trình xây dựng, ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật về tài nguyên và môi trường, các địa phương còn gặp các khó khăn chủ
yếu sau:
IV.1. Thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể của Trung ương
Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
ở các địa phương
nhằm tổ chức triển khai thực hiện các đạo luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định,
thông tư của các cơ quan hữu quan ở cấp trung ương. Mặc dù thời gian vừa
qua các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường được các cơ
quan trung ương ban hành đề cập tương đối toàn diện song công tác ban hành
văn bản và tổ chức thực hiện các quy định của pháp lu
ật về tài nguyên và môi
trường ở các địa phương vẫn gặp phải khó khăn do thiếu một số văn bản hướng
dẫn cụ thể của trung ương; các địa phương gặp lúng túng khi xử lý một số tình
huống phát sinh trong thực tiễn.

trường chưa kịp thời;
- Việc phân cấp một số lĩnh vực quản lý của ngành còn chậm được nghiên cứu
đề xuất;
- Tại Việt Nam, tương ứng với sự thiếu vắng các quy định của pháp luật về quản
lý và kiểm soát môi trường không khí là sự thiếu vắng các công cụ kinh tế hỗ trợ
cho hoạt động này, trong đ
ó nổi bật là hệ thống phí bảo vệ môi trường nói chung,
phí bảo vệ môi trường đối với khí thải nói riêng (sau đây gọi chung là phí khí
thải).
IV.5. Khó khăn do thiếu công cụ kinh tế hỗ trợ bảo vệ môi trường đối với
khí thải.
Các quy định về phí bảo vệ môi trường được đề cập lần đầu tiên tại Nghị định
175/1994/NĐ-CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật B
ảo vệ
môi trường 1993. Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thuộc các lĩnh
vực khai thác dầu mỏ, khí đốt, khoáng sản khác; sân bay, bến cảng, bến xe, nhà ga;

17
phương tiện giao thông cơ giới; và các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác gây ô
nhiễm môi trường có trách nhiệm nộp phí bảo vệ môi trường (Điều 34).
Đến năm 2002 Chính phủ căn cứ vào Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 để
xác định Danh mục chi tiết phí và lệ phí, trong đó phí bảo vệ môi trường gồm 6
loại (Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ), gồm:
i) Phí bảo vệ môi trường đối v
ới nước thải;
ii) Phí bảo vệ môi trường đối với sân bay, nhà ga, bến cảng;
iii) Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn;
iv) Phí bảo vệ môi trường về tiếng ồn;
v) Phí bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, khí thải từ việc sử dụng than
đá và các loại nhiên liệu đốt khác;

thống cấp nước sạch.
-
Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn được dự kiến là
chất thải rắn được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc các hoạt động khác.
Câu hỏi đặt ra là đối tượng chịu phí khí thải là gì? Xung quanh nội dung
này, hiện vẫn còn 2 luồng quan điểm khác nhau:
Một là, đối tượng chịu phí khí thải là chất thải khí được th
ải ra từ các cơ sở
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (gọi chung là nguồn thải tĩnh) và từ các phương
tiện giao thông cơ giới (gọi chung là nguồn thải động).
Hai là, đối tượng chịu phí khí thải là chất thải khí phát sinh từ 2 nguồn thải
nói trên, trừ khí CO
2
. Theo quan điểm này, CO
2
không phải là chất gây ô nhiễm
và có thể dùng cơ chế chi trả cho các dịch vụ môi trường hấp thụ carbon để giảm
thiểu loại khí này mà không cần sử dụng đến công cụ phí khí thải.
IV.5.2. Về đối tượng nộp phí
- Đối tượng nộp phí nước thải là những tổ chức, cá nhân có thải nước thải
công nghiệp và nước thải sinh hoạt ra môi trường, trừ những trường hợp được
mi
ễn nộp phí theo quy định của pháp luật.
- Đối tượng nộp phí chất thải rắn được dự kiến là các tổ chức, hộ gia đình,

19
cá nhân có thải chất thải rắn ra môi trường.
Trả lời câu hỏi đối tượng nộp phí khí thải là ai, hiện vẫn còn 2 loại ý kiến
khác nhau:

20
tượng nộp phí.
- Phí chất thải rắn được dự kiến thu trên một tỉ lệ % của phí vệ sinh. Đây là
khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, để chi dùng cho các nội dung
như: Chi phí cho việc thu phí; chi phí cho việc phân loại chất thải rắn, bao gồm
cả hoạt động tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc
phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn; chi phí cho việc tiêu huỷ chất thả
i rắn
đảm bảo tiêu chuẩn môi trường như: đốt, chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh, đảm
bảo có sự kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm môi trường phát sinh trong quá trình tiêu
huỷ chất thải; chi hỗ trợ đầu tư xây dựng các bãi chôn lấp, công trình xử lý chất
thải rắn, sử dụng công nghệ tái chế, tái sử dụng, xử lý và tiêu huỷ chất thải.
Cơ chế thu phí khí thải cần lo
ại trừ nguy cơ trùng lặp giữa việc thu phí phí
khí thải qua giá bán xăng dầu là nhiên liệu của các phương tiện giao thông cơ
giới với việc thu phí khí thải đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng sử
dụng nhiêu liệu là xăng dầu.

V. HƯỚNG ĐỀ XUẤT CÔNG CỤ KINH TẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI
VỚI KHÍ THẢI.
V.1. Hướng đề xuất với cơ chế thu phí khí th
ải:
- Phí đối với các nguồn thải cố định: Có nhiều cách tính phí cho các nguồn
thải cố định như sau:
+ Tính phí vào lượng nguyên/nhiên liệu sử dụng: Tính phí theo lượng
nguyên/nhiên liệu sử dụng là phương pháp tương đối đơn giản về mặt kỹ thuật,
song cũng dễ xuất phát những mâu thuẫn giữa các cơ sở công nghiệp trong các
ngành khác nhau. Nhất thiết cần phải tính đến các hệ số
hoặc các mức phí khác
nhau cho từng ngành khác nhau. Khi đánh phí vào các loại nguyên liệu loại này

môi trường ở mức độ như nhau. Kết quả là không khuyến khích các doanh
nghiệp áp dụng công nghệ sản xuất mới và đầu tư cho giảm thải ô nhiễm. Việc
sử dụng phương pháp tính này sẽ có lợi cho các nhà máy, xí nghiệp làm ăn thua
lỗ mặc dù các nhà máy này vẫn thải ra môi trường một lượng chất thải gây ô

22
nhiễm đồng thời Nhà nước không những thất thu mà còn phải gánh chịu thêm
chi phí cho môi trường. Điều này cần xem xét vì khu vực doanh nghiệp Nhà
nước ở Việt Nam rất lớn nhưng máy móc thiết bị và công nghệ còn lạc hậu.
Tuy nhiên, cách xác định phí dựa trên lợi nhuận có ưu điểm là phản ánh
được một cách trực tiếp chi phí cho môi trường mà xí nghiệp gây ra phải trả.
- Tính phí dựa vào sản phẩm: Việc tính phí theo phương pháp này nhìn
chung là đơ
n giản và cơ quan quản lý về môi truờng dễ dàng có thông tin một
cách liên tục về các số liệu liên quan đến sản xuất của doanh nghiệp như chi phí
đầu vào, đầu ra, chi phí sản xuất, chi phí xử lý ô nhiễm. Tuy nhiên, nhược điểm
của phương pháp này là khó xác định tỉ lệ hợp lý và đảm bảo tính công bằng
giữa các ngành công nghiệp khác nhau và như vậy có thể bất lợi cho các ngành
công nghiệp áp dụng công nghệ mới và các xí nghiệp đã áp d
ụng các biện pháp
xử lý ô nhiễm.
- Phí cố định và phí biến đổi. Đây là phương pháp tính phí kết hợp của hai
mục tiêu: thứ nhất là nhằm duy trì nguồn thu cho vấn đề xử lý môi trường (thể
hiện ở phí cố định) và thứ 2 là nhằm mục tiêu khuyến khích giảm thải gây ô
nhiễm. Theo cách này phí mà doanh nghiệp phải trả bằng tổng của phí cố định và
phí biến đổi:
Tổng phí = phí cố định + phí bi
ến đổi
Phí cố định được xác định hàng năm của Nhà nước đối với các doanh
nghiệp có trong danh sách phải nộp phí. Như vậy, doanh nghiệp sẽ không phải

trường Việt Nam để phục vụ các dự án bảo vệ môi trường cấp quốc gia.
24

KẾT LUẬN
Chính sách bảo vệ môi trường trong công nghiệp lấy nguyên tắc chỉ đạo là
phòng ngừa, trong đó doanh nghiệp là mắt xích quan trọng nhất. Tư tưởng chủ
đạo xuyên suốt là phòng ngừa ngay từ sớm. Mặt tích cực và hạn chế của các
chính sách liên quan đến kiểm soát chất lượng không khí do nguồn thải công
nghiệp chính là những mặt tích cực và hạn chế của pháp luật về quản lý ô nhiễm
không khí do nguồn th
ải công nghiệp của Việt Nam. So với các mảng pháp luật
quản lý các thành phần môi trường khác như quản lý đất, quản lý nguồn nước,
quản lý các nguồn sinh vật và hệ sinh thái , pháp luật về quản lý không khí ở
Việt Nam hiện còn rất thiếu, yếu và tản mạn, gây không ít khó khăn trong việc
áp dụng. Thực trạng này là một trong những nguyên nhân khiến cho tình trạng ô
nhiễm môi trường không khí ở nước ta càng trở nên khó kiểm soát, đặc biệt là
khi tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Tương
ứng với sự thiếu vắng các quy định của pháp luật về quản lý và kiểm soát môi
trường không khí là sự thiếu vắng các công cụ kinh tế hỗ trợ cho hoạt động này,
trong đó nổi bật là hệ thống phí bảo vệ môi trường đối với khí thải. Trong giai
đoạn kinh tế phát triển, yêu cầu cấp bách được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status