THỰC TRẠNG, NHỮNG MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ
TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
LIÊN QUAN ĐẾN CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
Posted on 13/09/2010 by Civillawinfor
THANH MAI (Tổng hợp)
Đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) là một yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh trong
thương mại, nên đã có không ít đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh xâm hại đến các đối tượng SHCN để thu lợi bất chính trong kinh doanh.
Điều 39 Luật Cạnh tranh xác định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
trí tuệ, mà cụ thể là sở hữu công nghiệp; bao gồm:
- Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn
gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ;
- Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số
lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ
- Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm
người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Việt Nam cũng là
thành viên, nếu việc sử dụng của người đại diện hoặc đại lý đó không được sự đồng ý của chủ sở
hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng
- Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với
nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có
quyền sử dụng nhằm mục địch chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh
tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.
Có thể thấy, khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã
được mở rộng và làm rõ hơn so với khái niệm “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” (một trong các dạng biểu
hiện cụ thể của hành vi cạnh tranh không lành liên quan đến sở hữu trí tuệ) mà Luật Cạnh tranh đã
đưa ra trước đây. Đồng thời, để bảo vệ chủ thể bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh,
Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã quy định để cho các chủ thể này có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự cũng như biện pháp hành chính theo pháp luật về
cạnh tranh.
Trong lĩnh vực SHCN, pháp luật cạnh tranh thể hiện những mặt tích cực sau đây:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới quyền
loạt các điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao quyền SHCN, chẳng hạn: điều
khoản hạn chế quyền tự do của người được chuyển giao trong việc mua vật tư, thiết bị, hoặc tuyển
dụng lao động giản đơn; điều khoản ép buộc người được chuyển giao chấp nhận một số hạn mức
nhất định về quy mô sản xuất và số lượng sản phẩm, giá bán sản phẩm, chỉ định đại lý tiêu thụ sản
phẩm cho người được chuyển giao, cơ chế hoạt động và quan hệ giữa người được chuyển giao và
các đại lý này; … (Điều 13 khoản 1 – 7 NĐ 45/1998/NĐ – CP ngày 1/7/1998). Để hạn chế một
cách hữu hiệu các hợp đồng license độc quyền, một số nước trong đó có Việt Nam đưa ra quy định
về license bắt buộc.Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại với đối tác Hoa Kỳ, Việt Nam cam kết
không được cho phép license không tự nguyện đối với nhãn hiệu hàng hoá, thiết kế bố trí mạch
tích hợp (Điều 6 khoản 12 Chương II Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ). Một số vấn đề
tiếp theo trong pháp luật về kiểm soát độc quyền của Việt Nam – pháp luật Việt Nam không có quy
định về cấm nhập khẩu song song. Trong quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Nam –
Hoa Kỳ, phía Hoa Kỳ đã yêu cầu đưa vấn đề ‘‘quyền chống nhập khẩu song song’‘ vào Hiệp định.
Phía Việt Nam đã từ chối yêu cầu này
Theo Hiệp định của WTO về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS), không một
quốc gia nào có nghĩa vụ phải cho phép hoặc ngăn cấm nhập khẩu song song. Mỗi nước có thể đưa
ra các quy tắc khác nhau về vấn đề này. Chẳng hạn ở Ôxtrâylia, hầu hết các sản phẩm mang nhãn
hiệu hàng hoá có thể được nhập khẩu song song, ngược lại sản phẩm được giữ bản quyền không
được nhập khẩu song song, trừ các sản phẩm ghi âm
Bất đồng về vấn đề nhập khẩu song song đã được hai bên Việt Nam và Hoa Kỳ giải quyết bằng
cách thoả hiệp việc diễn giải nội dung vấn đề này theo quan niệm luật quốc gia của mỗi bên. Tại
Việt Nam, hành vi nhập khẩu song song không bị coi là xâm phạm độc quyền nhập khẩu của chủ
sở hữu quyền sở hữu trí tuệ. Nhưng tại Hoa Kỳ thì ngược lại.
Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh và
kiểm soát độc quyền liên quan tới quyền SHCN còn thể hiện những mặt hạn chế sau đây:
Thứ nhất, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền liên quan tới quyền
SHCN được ghi nhận trong một vài văn bản pháp luật một cách rời rạc, mới chỉ mang tính nguyên
tắc, chưa cụ thể, tính thực thi không cao, do đó chưa ngăn cản và xử lý có hiệu quả các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh ngày càng gia tăng trong lĩnh vực SHCN
Qua nghiên cứu những nội dung cơ bản của pháp luật cũng như thực trạng cạnh tranh không lành
giao quyền SHCN có thể bị coi là mâu thuẫn với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, ý kiến của cơ quan
quản lý cho rằng, những điều khoản mà pháp luật Việt Nam quy định không được đưa vào hợp
đồng chuyển giao công nghệ hoàn toàn phù hợp với những quy định của hợp đồng chuyển giao
công nghệ mẫu của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), tương tự như pháp luật của các nước
khác
Có thể nói mối quan hệ giữa chống cạnh tranh không lành mạnh và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là
một mối quan hệ độc lập nhưng lại khăng khít, không thể tách rời; nhất là trong giai đoạn hiện nay
khi mà xu thế kinh tế thế giới tập trung vào các giá trị trí tuệ và tài sản vô hình. Bảo hộ tốt quyền
sở hữu trí tuệ để tránh cạnh tranh không lành mạnh; kiên quyết chống cạnh tranh không lành mạnh
để tạo điều kiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và kích thích sáng tạo.