LUẬN VĂN: Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Lời mở đầu

Sự chuyển đổi nền kinh tế thị trường (KTTT) theo cơ chế thị trường có sự quản lý của

I. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở việt nam.

1. Kinh tế thị trường:

Cơ chế thị trường là tổng thể những mối quan hệ kinh tế, các phạm trù kinh tế và qui
luật kinh tế có quan hệ hữu cơ với nhau cùng tác động để điều tiết cung - cầu giá cả cùng
những hành vi của người tham gia thị trường nhằm giải quyết 3 vấn đề cơ bản: Sản xuất cái
gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai?

Các mối quan hệ trong cơ chế thị trường chịu sự tác động của các qui luật kinh tế
khách quan như qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật lưu thông tiền tệ. Động lực của
các mối quan hệ này là lợi nhuận trong môi trường cạnh tranh. Cơ chế thị trường là cơ chế
có rất nhiều ưu điểm:

- Cơ chế thị trường là cơ chế năng động nhạy cảm có khả năng tự động điều tiết nền
sản xuất xã hội tức là sự phân bổ sản xuất vào các khu vực các ngành kinh tế hay sản xuất
cái gì như thế nào đều do thị trường quyết định mà không cần bất cứ sự điều khiển nào.

- Cơ chế thị trường đáp ứng được những nhu cầu đa dạng phức tạp của người tiêu
dùng, tự động kích thích sự phát triển của sản xuất, tăng cường chuyên môn hoá sản xuất.

- Cơ chế thị trường mang tính hiệu quả cao: Các doanh nghiệp muốn thu được lợi
nhuận cao thì đòi hỏi phải tiết kiệm chi phí sản xuất, kích thích tiến bộ của KHKTCN.

- Cơ chế thị trường thúc đẩy sự cạnh tranh làm cho sản phẩm hàng hoá có chất lượng
cao hơn, giá thành các sản phẩm giảm.
Bên cạnh những mặt tích cực trên cơ chế thị trường còn rất nhiều khuyết tật và mâu

nước lại can thiệp quá sâu vào nền kinh tế. Bộ máy quản lý kinh tế được tổ chức cồng kềnh
nhưng lại tỏ ra kém hiệu quả. Mọi quyết định quan trọng đều xuất phát từ Trung ương, biên
chế của bộ máy quản lý kinh tế ngày càng phình to nhưng năng lực lại yếu kém phong cách
quản lý quan liêu cửa quyền. Cán bộ quản lý kém năng lực, trình độ chuyên môn thấp họ
chủ yếu xuất phát từ những người có công với cách mạng. Trong phân phối chủ yếu phân
phối theo chủ nghĩa bình quân nên người lao động không năng động sáng tạo, không nhiệt
tình làm việc, không quan tâm tới tiết kiệm đầu tư nên năng suất lao động thấp kém và
ngày càng giảm xuống, chi phí thì tăng lên dẫn tới sự thua lỗ của các doanh nghiệp, các
HTX và các tổ sản xuất Hiệu quả kinh tế trong thời kỳ này rất thấp do chỉ đầu tư và sản
xuất theo kế hoạch mà không tính tới nhu cầu của nền kinh tế và xã hội, sản xuất không phù
hợp với tiêu dùng gây ra một sự lãng phí lớn. Do không có cạnh tranh nên công nghệ,
KHKT chậm đổi mới chất lượng sản phẩm ngày càng thấp, giá cả ngày càng cao do chi phí
sản xuất quá lớn. Hàng hóa trên thị trường thiếu hụt nghiêm trọng kinh tế chậm phát triển,
thời kỳ này do nước ta chú ý trông chờ vào các viện trợ vốn và hàng hóa từ nước ngoài.
Khi nguồn viện trợ từ nước ngoài giảm và chấm dứt, nền kinh tế không theo kịp đã rơi vào
khủng hoảng sản xuất trì trệ đình đốn, hàng hóa khan hiếm, giá cả cao dẫn đến lạm phát có
thời kỳ lạm phát vượt mức 700% đời sống người lao động ngày càng khó khăn hơn.

Mặt khác, cũng trong thời kỳ này nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực đang
phát triển mạnh. Nền kinh tế ở các nước công nghiệp mới phát triển, nghiên cứu chủ yếu là
thành phần kinh tế tư bản tư nhân và Nhà nước chỉ đóng vai trò hướng dẫn nền kinh tế phát
triển thông qua các kế hoạch trung hạn và dài hạn. Nhà nước không can thiệp trực tiếp mà
tạo điều kiện để các doanh nghiệp cạnh tranh tự do trên thị trường. Chính vì vậy tốc độ tăng
trưởng kinh tế ở các nước này là rất cao, đời sống nhân dân nâng lên rõ rệt.

Trước sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng, trước xu hướng phát triển liên tục của các
nước trong khu vực và trên thế giới đặt nền kinh tế nước ta tới sự bức bách phải đổi mới.

Nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, sự quản lý tỏ ra yếu kém và không có hiệu quả.
Tình trạng quan liêu thiếu hiểu biết thậm chí trì trệ bảo thủ cửa quyền vẫn tồn tại trước sự
đổi mới nền kinh tế. Sự hình thành và vận động của KTTT mang những yếu tố tự phát, cơ
chế vận hành thô sơ tạo điều kiện cho kiểu làm ăn bất chính, tệ tham nhũng và các mặt tiêu
cực của thị trường có cơ hội phát sinh và phát triển.

Mặc dù nền kinh tế thị trường nước ta còn rất nhiều thiếu sót và yếu kém nhất là trong
điều hành vĩ mô "Nạn tham nhũng phổ biến trong bộ máy quản lý Nhà nước các cấp nhưng
nhìn chung tính ổn định của nền kinh tế là nhân tố đảm bảo cho những thành công kế tiếp.

Tuy vậy, Đảng và Nhà nước ta cần phải nâng cao vai trò của mình hơn nữa trong nền
KTTT cần phải chuyển từ tác phong chỉ huy mệnh lệnh sang tác phong hỗ trợ tạo môi
trường và điều kiện cho thị trường phát triển, xử lý hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với cân
bằng ổn định, giữa phát triển kinh tế với việc thể hiện các chính sách xã hội.

Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần nhưng nền kinh tế Nhà
nước phải đóng vai trò chủ đạo. Sự quản lý điều tiết định hướng phát triển nền KTTT của
Nhà nước là thông qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô và vai trò chủ đạo của khu vực
kinh tế Nhà nước. Kinh tế Nhà nước phải nắm vị trí quan trọng trong một số lĩnh vực then
chốt có nghĩa là "mạch máu" của nền kinh tế chi phối các thành phần kinh tế khác. Nhưng
cùng với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của KTNN thì cần coi trọng khu vực kinh tế tư
nhân và kinh tế hỗn hợp đặt chúng trong mối quan hệ hữu cơ gắn bó thống nhất không tách
rời biệt lập.

Nhà nước phải khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển đó là khu vực tư nhân
nhằm thu hút đầu tư vốn từ khu vực này. Kinh nghiệm của Nhật Bản, các con rồng Châu á
và các nước trong nhóm nghiên cứu cho thấy sự thành công của họ là nhờ công lao to lớn
của khu vực tư nhân. trong xã hội - song thực tiễn cho thấy, cùng với việc kích thích sản xuất phát triển nền
KTTT còn rất nhiều khuyết tật, nó là môi trường thuận lợi cho việc nảy sinh và phát triển
của nhiều tệ nạn xã hội. Nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của
KTTT giữ cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng, Nhà nước cần thực hiện đầy đủ vai trò
của mình trong quản lý kinh tế. Sự quản lý của Nhà nước nhằm hướng sự phát triển kinh tế
theo những mục tiêu phương hướng nhất định hạn chế mặt tiêu cực và điều tiết vĩ mô nền
kinh tế.

Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường thông qua việc xây dựng các
hình thức sở hữu Nhà nước các chương trình khuyến khích đầu tư và tiêu dùng cùng với
việc sử dụng các công cụ kinh tế như tài chính tín dụng tiền tệ để điều tiết nền kinh tế. Sự
phối hợp giữa Chính phủ và thị trường trong một nền kinh tế hỗn hợp nhằm bảo đảm sự
phát triển có hiệu quả với mức tăng trưởng kinh tế nhanh.

Mặt khác nếu để nền KTTT tự do hoạt động không có sự kiểm soát của Nhà nước thì
sẽ dẫn đến rất nhiều hậu quả. Nguy cơ khủng hoảng kinh tế là khôn lường. Thị trường tự do
hoạt động, giá cả theo thị trường leo thang, sản xuất tràn lan gây nên một sự lãng phí rất lớn
các nhà sản xuất chạy theo những ngành mang lại lợi nhuận cao như ma túy, buôn lậu làm
hàng giả, kinh doanh văn hóa đồi trụy. Đó là chưa kể tới tình trạng lạm phát và thất nghiệp
cũng từ đó mà gia tăng không cách gì kiềm chế được. Thị trường tự do hoạt động chính là
quan điểm kinh tế của trường phái cổ điển nhưng quan điểm này là hoàn toàn sai lầm và đã
gây ra những biến động lớn tiêu cực tới nền kinh tế các nước trong thời kỳ đó. Thực tế trong
những thập kỷ gần đây cho thấy nền KTTT luôn luôn trải qua các giai đoạn phồn vinh và
đình trệ. Gần đây nhất kinh tế Thái Lan đã bị khủng hoảng nặng. Cuộc khủng hoảng này đã
lây sang các nước Inđônêsia, Hàn Quốc và đã kéo nền kinh tế nước này chậm xuống 30
năm. Tác hại của khủng hoảng kinh tế là rất lớn, nó cuốn trôi tất cả thành tựu kinh tế trong
30 năm của Inđônêsia làm cho sản xuất bị đình trệ, thất nghiệp tăng cao, đồng tiền trong
nước bị mất giá nghiêm trọng. Đứng trước vấn đề khó khăn đó các nhà kinh tế đều khẳng
lợi và ổn định nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế trong từng xí nghiệp và
trên phạm vi toàn xã hội.

- Nhà nước đảm bảo ổn định chính trị, lấy ổn định chính trị để phát triển kinh tế. Nhà
nước thiết lập khuôn khổ luật pháp đặc biệt là hệ thống pháp luật kinh tế, hệ thống các chính
sách kinh tế xã hội mà trước hết là các chính sách về tài chính tín dụng ngân hàng tạo điều
kiện cần thiết cho các hoạt động kinh tế. Một đất nước có ổn định chính trị, có những
chính sách kinh tế phù hợp mới tạo ra được những thuận lợi để các doanh nghiệp sản xuất.
Mặt khác có như vậy mới thu hút được vốn đầu tư của nước ngoài và tư nhân và họ tin vào
sự ổn định đó để tiếp tục và mở rộng sản xuất, phát triển sản xuất. Như vậy thông qua các
chính sách Nhà nước đã gián tiếp thúc đẩy nền kinh tế.

Nhà nước có chức năng tạo ra môi trường và điều kiện cho việc tiến hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường bằng cách: duy trì pháp luật, trật tự an toàn
xã hội, thi hành nhất quán các chính sách và thể chế theo hướng đổi mới, ổn định môi
truờng kinh tế thi hành nhất quán các chính sách và thể chế theo hướng đổi mới, ổn định
môi trường kinh tế vĩ mô kìm chế lạm phát, điều tiết thị trường ngăn ngừa và xử lý kịp thời
những "cơn sốt" về giá cả. Nhà nước đề ra luật pháp bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp
và các nhà đầu tư.

- Nhà nước ngăn ngừa các tác động bên ngoài, ngăn ngừa những âm mưu phá hoại nền
kinh tế của các thế lực thù địch để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

- Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc mở rộng quan hệ ngoại giao, buôn bán với
nước ngoài.

- Thông qua hệ thống pháp luật, Nhà nước đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các
doanh nghiệp, các nhà sản xuất kinh doanh. Trong nền KTTT mục đích của các nhà sản

lại thu nhập bằng các khoản thu từ thuế, phân phối lại của cải xã hội.
- Nhà nước đưa ra những đề tài nghiên cứu khoa học, nhập những tiến bộ của
KHKTCN vào sản xuất nhằm đưa nền kinh tế phát triển nhanh hơn.

- Nhà nước có vai trò điều chỉnh các quan hệ kinh tế, tác động tới quan hệ lao động và
thị trường lao động giới hạn thất nghiệp, sử dụng các khoản chi của chính phủ để phát triển
y tế, giáo dục, lập các quỹ phúc lợi, phân công lại lao động giữa các ngành nghề và giữa các
vùng.

Với tư cách là người đầu tư kinh doanh, Nhà nước trực tiếp tham gia vào việc kinh
doanh trong một số lĩnh vực.
- Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, Nhà nước là người
sở hữu đại biểu và quản lý các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế quốc doanh.

- Các doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân ngoài yêu
cầu đảm bảo nền kinh tế phát triển đúng định hướng XHCN còn do thành phần kinh tế này
gắn với loại hình sở hữu cao nhất là sở hữu Nhà nước. KTNN phát triển dựa trên một trình
độ lực lượng sản xuất phát triển cao trình độ quản lý và phân phối sản phẩm gần với mục
tiêu của CNXH thời kỳ quá độ.

- Kinh tế Nhà nước đóng vai trò là mạch máu lưu thông, bao gồm những ngành nghề
lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống tài chính, ngân sách bảo
hiểm , những cơ sở thương mại, dịch vụ quan trọng với quy mô lớn và vừa, công nghệ tiến
bộ.

- Kinh tế Nhà nước thể hiện đầy đủ tính ưu việt của CNCS đảm bảo sự thống nhất tăng
trưởng kinh tế với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, thống nhất chính sách

hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Thông qua hệ thống các phương hướng
nhiệm vụ mục tiêu và chỉ tiêu được vạch ra trong các chiến lược kế hoạch các chương trình
phát triển kinh tế xã hội. Việc định hướng trước tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân phát triển cân đối nhịp nhàng với tốc độ và hiệu quả cao. Nhà nước đưa ra các kế hoạch và trên
thực tế đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp dự đoán được xu hướng
biến đổi của thị trường mà hành động một cách có lợi nhuận nhất trong khuôn khổ của thể
chế thị trường.

Việc hoạch định và thể hiện các chính sách xã hội, các chương trình điều tiết thu nhập
đảm bảo sự thống nhất hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Việc hoạch
định, xác lập kế hoạch hóa của Nhà nước trong nền kinh tế có những tác dụng sau:

- Đề ra mục tiêu và những trật tự cho các chính sách kinh tế.

- Phát hiện ra những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục sửa chữa đảm bảo cho nền kinh
tế hoạt động một cách thông suốt.

- Định hướng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

Nói tóm lại, Nhà nước có chức năng kinh tế rất lớn, điều hành quản lý ở tầm vĩ mô
nhưng đối với từng nước thì các chức năng đó thể hiện công dụng một cách khác nhau tùy
thuộc vào chế độ kinh tế của từng nước, tùy thuộc sự phát triển kinh tế của nước đó ra sao
mà sử dụng cho phù hợp.

2. Chính sách kinh tế:

Để thể hiện một cách triệt để các chức năng của Nhà nước thì đòi hỏi Nhà nước phải
có các chính sách kinh tế (chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính

hành CNH - HĐH thì đòi hỏi phải có đầu tư. Muốn vậy phải có một nền tài chính thặng dư
mới giải quyết được nhu cầu vốn. Để tăng mức vốn phải giải quyết mối quan hệ giữa tích
luỹ và tiêu dùng theo hướng tiết kiệm. Điều này cũng giải quyết phần nào yêu cầu KTTT.
- Chính sách tài chính góp phần tích cực ổn định kinh tế vĩ mô: Để ổn định kinh tế, đòi
hỏi phải có một ngân sách Nhà nước lành mạnh mà các khoản chi được trang trải từ thuế. Vì
vậy Nhà nước đã sử dụng công cụ tài chính để kích thích sản xuất hàng hoá phát triển đồng
thời kết hợp với các công cụ quản lý vĩ mô khác để kiểm soát và đẩy lùi lạm phát tạo môi
trường thuận lợi cho nền kinh tế phát triển trong trạng thái ổn định với hiệu quả cao.

* Chính sách tiền tệ: chính sách tiền tệ là một trong những chính sách lớn của Nhà
nước, là công cụ sắc bén để quản lý nền kinh tế thị trường, vai trò quan trọng của chính sách
tiền tệ được thể hiện.

- Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ để điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông
cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Ngân hàng Nhà nước có thể áp dụng
nhiều biện pháp để cho khối lượng tiền tệ tăng lên hoặc giảm xuống nhằm duy trì mối quan
hệ cân đối số hàng hoá với lượng tiền.

- Nhà nước sử dụng chính sách tiền tệ kết hợp chính sách tài chính thể hiện các mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội tức là đẩy lùi lạm phát kìm chế lạm phát, ổn định tỷ giá hối
đoái giá trị tiền trong nước tạo môi trường ổn định cho tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao
về bền vững. Thông qua sự phối hợp hoạt động giữa ngân hàng Nhà nước và ngân hàng
thương mại để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đưa vào sản xuất kinh doanh tạo
ra việc làm, giảm tỷ lệ người thất nghiệp.

- Nhà nước sử dụng chính sách tài chính tiền tệ để điều tiết các hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần chuyển đổi cơ

hợp lý nhằm thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển.

III. Mục tiêu và các giải pháp đổi mới nâng cao vai trò kinh tế của Nhà nước ta.

Khác với một số nước trên thế giới, chúng ta tiến lên CNXH từ một nước nông
nghiệp nghèo nàn và lạc hậu mà bỏ qua giai đoạn phát triển lên chủ nghĩa tư bản. Bởi vậy chúng ta gặp rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế đó là do
chúng ta chưa chuẩn bị được cơ sở vật chất kỹ thuật để tiến lên CNXH. Mặt khác nền kinh
tế của nước ta trước đây dập khuôn theo mô hình kinh tế của Liên xô với chế độ xã hội công
hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể trong đó sở
hữu toàn dân đóng vai trò chủ đạo. Xuất phát từ quan niệm nền kinh tế XHCN là nền kinh tế
phát triển có kế hoạch, quy luật phát triển có kế hoạch là quy luật điều tiết mọi hoạt động
của nền kinh tế nên Nhà nước ta lấy kế hoạch hoá làm công cụ chủ yếu để quản lý kinh tế.
Việc lãnh đạo phát triển kinh tế quốc dân có kế hoạch là một vấn đề cơ bản nhất trong
nhiệm vụ quản lý kinh tế của Nhà nước XHCN.

Công cụ đổi mới nền kinh tế của nước ta bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng. Đó là điểm
mốc cho sự phát triển nền kinh tế của đất nước. Từ đại hội 6 Nhà nước ta mới thấy rõ lợi ích
của việc chuyển đổi nền kinh tế và đó là thời điểm Đảng ta xác định phải chuyển dần nền
kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đang
tồn tại sang nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự
quản lý của Nhà nước. Sau 15 năm đổi mới đất nước ta đã phải đối phó với rất nhiều khó
khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta đã đề ra được một số một tiêu và giải pháp nhằm khắc
phục những khó khăn đó.

1. Mục tiêu.

Xu hướng vận động nền kinh tế các quốc gia trên thế giới cho thấy không một đất


- Phát triển thị trường trong nước và quốc tế, mở rộng giao lưu hàng hoá trên tất cả các
vùng đẩy mạnh xuất khẩu nhằm đáp úng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại
hoá. Thông qua việc tổ chức tốt thị trường và lưu thông hàng hoá làm cho thương nghiệp
thực sự là đòn bẩy thúc đẩy sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại
lao động xã hội, ổn định giá cả kiềm chế lạm phát, hàng hoá phân phối và phân phối lại thu
nhập quốc dân một cách hợp lý, tăng tích luỹ cho ngân sách Nhà nước , cải thiện đời sống
nhân dân.
- Hoạt động của các doanh nghiệp thiệt là doanh nghiệp Nhà nước phải hướng vào
phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, coi trọng hiệu quả kinh tế và xã hội.

- Xây dựng nền kinh tế phát triển lành mạnh trong trật tự kỷ cương, kinh doanh theo
đúng pháp luật, thực hiện các văn minh kinh tế từng bước tiến dến hiện đại theo định hướng
XHCN hội nhập với thị trường khu vực và thế giới.

- Mục tiêu của Nhà nước là phát huy và sử dụng tốt khả năng tích cực của các thành
phần kinh tế, mở rộng thị trường ngoài nước gắn với việc phát triển ổn định thị trường trong
nước lấy thị trường trong nước làm cơ sở.

- Mục tiêu tiếp theo là Nhà nước quản lý kinh tế nhằm phát huy mặt tích cực hạn chế
mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công
bằng xã hội.

2. Các giải pháp đổi mới nâng cao vai trò kinh tế của Nhà nước.

Từ thực trạng nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay còn nhiều hạn chế chưa
phát huy hết các nguồn lực hiện có. Để cho nền kinh tế nước ta vươn lên phát triển sánh


Nhà nước nên có những chủ trương sắp xếp lại các đơn vị thương nghiệp Nhà nước
trên từng địa bàn xác lập các cân đối vĩ mô để tiếp tục hình thành các tổng công ty, các tập
đoàn kinh tế nhằm tăng nhanh khả năng tích tụ và tập trung vốn để đổi mới thiết bị và công
nghệ, mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kinh tế.

b. Nhà nước tăng cường công tác kiểm kê kiểm soát đối với hoạt đồng của các doanh
nghiệp.
Hiện nay công tác này còn quá lỏng lẻo và sơ hở thiếu sự chặt chẽ thống nhất và đồng
bộ từ cấp trung ương đến địa phương . Đây là nguyên nhân cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh phi pháp, trốn thuế, cho các hoạt động cạnh tranh thiếu lành mạnh có điều kiện phát
triển. Để hạn chế những mặt đó Nhà nước cần phải:

- Tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp tự do kinh doanh trên cơ sở pháp luật
cho phép.

- Thành lập các công ty kiểm toán tư nhân và Nhà nước đặt dưới sự quản lý của Nhà
nước.

- Thực hiện chế độ nghiêm ngặt trong hệ thống kế toán.

c. Nhà nước tăng cường công tác kế hoạch hóa xây dựng các chiến lược phát triển lâu dài.

Vai trò chủ yếu của kế hoạch hóa ở tầm vĩ mô là thúc đẩy sự hình thành cơ cấu hợp lý
thông qua các chỉ tiêu. Kế hoạch hướng dẫn các hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp đi theo hướng có lợi, hướng dẫn sự phát triển kinh tế.



Nhà nước phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện các công cụ tài chính tiền tệ tín
dụng để điều tiết thị trường và định hướng các hoạt động của doanh nghiệp. Hoạt động kinh
tế của Nhà nước phải thông qua chính sách tiền tệ để khống chế sao cho khối lượng cung
ứng tiền tệ cân đối với số lượng hàng hóa trên thị trường. Đồng thời tăng cường hiện đại
hóa hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng trung ương phải đưa ra các giải pháp duy trì sự cân đối cung cầu. Mặt khác
phải thường xuyên theo dõi giám sát các hoạt động kinh tế, biến động về giá cả và tỷ giá hối
đoái trên thị trường nhằm điều chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền tệ. Thông qua chính sách tín dụng, NHTW phải tính tới hoạt động sao cho khống chế được lạm phát và nới lỏng điều
kiện cho vay nhưng vẫn đảm bảo công tác kiểm soát chặt chẽ tạo điều kiện cho các nhà sản
xuất vay vốn đầu tư sản xuất như giảm nhẹ lãi suất, điều chỉnh và ổn định tỷ giá hối đoái
của đồng tiền trong nước. Nhà nước phải tăng cường vai trò cho các ngân hàng Nhà nước.
Mọi hoạt động của ngân hàng cần thiết phải đổi mới cho phù hợp với cơ chế tránh rườm rà
trong việc kịp thời chi trả đầy đủ theo yêu cầu của khách hàng của tổ chức tín dụng. Tổ
chức đổi mới lại hệ thống ngân hàng tạo nên sự thống nhất từ ngân hàng TW đến ngân hàng
địa phương

Nhà nước tiếp tục cải cách hệ thống thuế khóa chặt chẽ hơn tránh thất thu. Nhà nước
ban hành những luật thuế sao cho phù hợp . Nhà nước đổi mới công nghệ thanh toán hoàn
thiện cơ chế bình ổn giá, sử dụng quỹ bình ổn giá, quản lý tốt dự trữ quốc gia và sử dụng tốt
nguồn dự trữ này.

Nhà nước tăng cường công tác đối ngoại mở rộng ngoại giao hợp tác buôn bán với
Nhà nước trên hướng mở rộng thị trường cạnh tranh. Tăng cường công tác quản lý các hoạt
động xuất nhập khẩu, về hoạt động tiếp nhận viện trợ hay vay vốn từ nước ngoài, chuyển
giao công nghệ quốc tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status