Đề Tài: thực trạng và giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam doc - Pdf 11

Bài Luận
Đề Tài:
thực trạng và giải pháp kiềm chế lạm phát
ở Việt Nam
1
MỤC LỤC
PHẦN GIỚI THIỆU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu chung
2.2. Mục tiêu cụ thể
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.2. Phương pháp phân tích số liệu
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Phạm vi không gian
4.2. Phạm vi thời gian
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NĂM
2009 ĐẾN NAY
1.1. NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT
1.1.1. Khái niệm và phân loại
1.2. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1.2.1. Tình hình lạm phát từ 1999 – 2009
1.2.2. Tình hình lạm phát từ năm 2009 đến sáu tháng đầu năm 2011
Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2009 ĐẾN NAY
2.1. NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 ĐẾN
SÁU THÁNG ĐẦU NĂM 2011
2.1.1. Yếu tố bên trong
2.1.2. Yếu tố bên ngoài

Trong nền kinh tế thị trường hoạt động sôi nổi đầy biến động thì sự cạnh
tranh vốn đã gây gắt nay lại càng gay gắt hơn khi quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế đang diễn ra nhanh chóng trên toàn cầu. Để nền kinh tế phát triển nhanh
và bền vững đòi hỏi chính phủ, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải
nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Một trong
những vấn đề có ý nghĩa quang trọng đó là lạm phát. Lạm phát làm ảnh hưởng
toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đến hầu hết mọi người.
Nét đặc trưng nổi bật của nền kinh tế có lạm phát là giá cả của hầu hết các
hàng hoá đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh.
Ở Việt Nam, chống lại lạm phát đã được chính phủ đặc biệt quan tâm và đã
có những biện pháp kiềm chế lạm phát thành công trong suốt 12 năm (1995
-2007) ở một chữ số. Tuy nhiên lạm phát đã tăng cao trong giai đoạn năm 2008
đến nay ở mức hai chữ số khoảng hơn 12% và được dự đón là tiếp tục tăng
trong thời gian tới. Một khi lạm phát cao xuất hiện thì tổn thất về kinh tế và xã
hội là rất lớn. Vậy lạm phát là gì? Thực trạng lạm phát ở Việt Nam hiện nay như
thế nào? Và chúng ta phải làm gì để kiềm chế lạm phát?
Xuất phát từ những lý do trên nên em quyết định chọn đề tài “thực trạng và
giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam” để làm chuyên đề kinh tế năm ba của
mình, nhằm phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến sáu
tháng đầu năm 2011, để từ đó đề xuất một số giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt
Nam trong thời gian tới.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn năm 2009 đến nay
nhằm đề xuất một số giải pháp kiềm chế lạm phát Việt Nam trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Thực trạng lạm phát Việt Nam từ năm 2009 đến nay.
- Đánh giá thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 2009 đến nay.
- Đề ra giải pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam trong thời gian tới.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Lạm phát được đặc trưng bởi tỷ lệ lạm phát hàng năm. Nhưng trong thực
tế người ta dùng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính tỷ lệ lạm phát.
Phân loại:
Căn cứ vào tỷ lệ lạm phát hàng năm ta có thể chia lạm phát thành ba loại:
- Lạm phát vừa phải (lạm phát ở một con số): Khi giá tăng chậm dưới 10%
một năm, đồng tiền ổn định.
- Lạm phát phi mã (lạm phát ở 2,3 con số): Khi giá cả tăng 20%, 30%,
200% một năm, đồng tiền mất giá nhanh chóng.
- Siêu lạm phát (lạm phát ≥ 4 con số): Khi tỷ lệ lạm phát lớn hơn 1000%
một năm, đồng tiền mất giá nghiên trọng.
1.1.2. Nguyên nhân của lạm phát
Lạm phát cầu kéo: Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh
mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Khi xảy ra lạm phát cầu
kéo người ta thường nhận thấy lượng tiền không lưu thông và khối lượng tín
dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng giới hạn của mức cung hàng hóa. Bản
chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn
7
chế về hàng hóa có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường lao động đã đạt
cân bằng. Xuất phát từ sự gia tăng tổng cầu, đường AD dịch chuyển sang phải
làm cho mức sản lượng tăng và mức giá chung tăng lên.
Các nguyên nhân làm tăng tổng cầu: dân cư tăng chi tiêu, doanh nghiệp
tăng đầu tư, chính phủ tăng mua hàng hóa dịch vụ, người nước ngoài tăng mua
hành hóa và dịch vụ trong nước….
Lạm phát do cung (còn gọi là lạm phát chi phí đẩy): Lạm phát loại này
xuất hiện khi chi phí đầu vào cho sản xuất tăng hoặc năng lực sản xuất của nền
kinh tế giảm sút. Khi chi phí sản xuất tăng thì đường cung AS dịch chuyển sang
trái, làm cho sản lượng giảm và mức giá chung tăng lên: kinh tế vừa suy thoái
vừa lạm phát.
Nguyên nhân làm cho chi phí sản xuất tăng: Tiền lương tăng nhưng năng
xuất lao động không tăng, điều kiện khai thác các yếu tố sản xuất khan hiếm và

các biện pháp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thông qua việc điều hành
tốt các công cụ của chính sách tiền tệ bảo đảm kiềm chế không để lạm phát cao
và đáp ứng yêu cầu thanh khoản của nền kinh tế, của hệ thống ngân hàng, đáp
ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Trước tình hình giá cả, thị
trường những ngày sau Tết Nguyên đán Canh Dần vẫn biến động theo chiều
hướng tăng, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương khẩn
trương triển khai một số biện pháp nhằm hạn chế tối đa những yếu tố phát sinh
làm cho lạm phát tăng cao trong năm 2010. Theo chỉ đạo của Thủ tướng, các
biện pháp cần tập trung vào những yếu tố tác động do việc lợi dụng sự điều
chỉnh giá của Nhà nước để đẩy giá các loại hàng hóa tăng cao, gây tâm lý bất lợi
trong xã hội.
CPI bình quân 6 tháng tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước, gấp gần 3 lần
so với tốc độ tăng trưởng GDP cùng thời kỳ, ước vào khoảng 5,6%. So với kỳ
gốc 2009 đã tăng xấp xỉ 32%, cho thấy sức mua của tiền đồng đã mất đi nhanh
chóng thế nào trong vòng 2 năm qua. Nhìn vào tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tốc độ tăng đã loại trừ yếu tố giá mấy tháng gần
đây đã thấp hơn hẳn so với cùng kỳ các năm trước. Trong khi đó, chi phí đầu
vào sản xuất có chu kỳ tăng lên rất cao. Điện, xăng dầu, gas kéo dài sức ảnh
9
hưởng suốt giai đoạn quý 2/2011. Gạo, thịt, cá, rau quả các loại cũng liên tục
làm “đảo điên” chỉ số giá lương thực, thực phẩm.
Doanh nghiệp thì chịu thêm chí phí vốn, lao động và tỷ giá làm tăng giá
thành nguyên liệu nhập khẩu. Nền sản xuất cũng vào vòng quay khó khăn hơn.
Tăng trưởng sản lượng toàn bộ nền kinh tế 6 tháng năm 2011 kém hơn cùng kỳ
năm trước, nên giá cả lại một lần nữa chịu thêm tác động từ nguồn cung hạn
chế. Tuy nhiên, áp lực lên giá kéo dài đến tháng này đã gần cạn. CPI nhóm hàng
ăn và dịch vụ ăn uống vẫn còn tăng cao nhưng đã thấp hơn rất nhiều so với mấy
tháng trước. Nhóm giao thông, nhà ở và vật liệu xây dựng cũng không còn bám
sát ở Top sau.
Ngày 24/2/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP đề ra 7

cùng/GDP của Việt Nam đã tăng tương ứng từ 71,1% thời kỳ 2001-2005 lên
72,2% thời kỳ 2006-2010.
Đây là tỷ lệ cao so với một số nước (năm 2009 của Việt Nam là 72,8%,
trong khi của Brunei là 47%, Trung Quốc 48,7%, Singapore 52,4%, Malaysia
64%, Indonesia 68,2%, Thái Lan 68,3%, Ấn Độ 69,6%, Hàn Quốc 70,3% ).
Tiêu dùng của Việt Nam cao và tăng lên, có một phần do quy mô GDP
bình quân đầu người thấp, có một phần do tiêu dùng có xu hướng tăng lên; có
11
một phần do đã xuất hiện tình trạng “ăn chơi sớm” và chuộng hàng ngoại của
một bộ phận dân cư cũng góp phần đẩy lạm phát lên cao hơn.
Do đầu tư và tiêu dùng cuối cùng vượt xa so với GDP, nên nhập siêu tăng
lên qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 mới gần 9,4 tỷ USD, đã tăng lên trên
19,1 tỷ USD thời kỳ 2001-2005 và tăng lên gần 62,8 tỷ USD thời kỳ 2006-
2010).
Trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong
đó đáng lưu ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông nghiệp phải nhập
khẩu lớn như thủy sản, sữa và sản phẩm sữa, rau quả, ngô, dầu mỡ động thực
vật, thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, cao su, gỗ và nguyên phụ liệu, đường,
thịt; mà một nước có bờ biển dài nhưng phải nhập muối; một nước có tỷ lệ xuất
khẩu/GDP cao, nhưng do tính gia công, lắp ráp cao mà nhập khẩu nguyên phụ
liệu lớn, như nguyên phụ liệu dệt may, giày dép, chất dẻo nguyên liệu, máy vi
tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; một số loại hàng tiêu dùng có kim ngạch
lớn, như điện thoại các loại và linh kiện, ô tô nguyên chiếc, xe máy nguyên
chiếc, hóa mỹ phẩm lên đến mấy tỷ USD.
Nguyên nhân tiềm ẩn, sâu xa của lạm phát là hiệu quả đầu tư và năng suất
lao động thấp. Hiệu quả đầu tư thấp thể hiện ở hệ số ICOR cao và tăng lên qua
các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 là 5 lần, thời kỳ 2001-2005 lên 5,2 lần, thời kỳ
2006-2010 lên 6,2 lần, cao gấp đôi nhiều nước trong khu vực).
Tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư của Việt Nam từ năm 2003 trở về
trước ở mức trên dưới 57%, từ 2004 đã giảm xuống nhưng vẫn ở mức trên dưới

Vàng và USD trở thành phương tiện thanh toán, làm cho tổng phương tiện thanh
toán tăng lên.
Giá vàng trong nước biến động, nhiều lần cao hơn giá vàng thế giới, tác
động tới nhập lậu, kéo tỷ giá biến động theo. Khi giá vàng và tỷ giá tăng cao lại
tác động đến tâm lý, đến lòng tin vào đồng nội tệ
Tỷ giá tăng tuy khuyến khích xuất khẩu, nhưng lại làm khuyếch đại lạm
phát ở trong nước và đây là yếu tố lạm cho lạm phát của Việt Nam cao hơn lạm
phát của thế giới; làm tăng nợ quốc gia khi tính bằng VND.
13
- Việc thực hiện lộ trình giá thị trường khi chuyển sang kinh tế thị trường
là tất yếu, đúng hướng, là một nội dung quan trọng của đường lối đổi mới. Tuy
nhiên, kết quả của việc thực hiện lộ trình này nếu thực hiện dồn dập cùng một
lúc sẽ tạo ra mặt bằng giá mới cao hơn, như đã từng xảy ra trong thời kỳ lạm
phát phi mã, hay vào tháng 2 - 3 vừa qua.
2.1.2. Yếu tố bên ngoài
- Tình hìnhan ninh chính trị, năng lượng và lương thực trên khu vực và thế
giới cũng làm ãnh hưỡng một cách dán tiếp hay trực tiếp đến lạm phát ở Việt
Nam.
- Giá cả thế giới tăng là một trong những yếu tố quan trọng tác động đối
với lạm phát ở trong nước xét trên các góc độ khác nhau.
Tỷ lệ xuất, nhập khẩu/GDP của Việt Nam đã tăng nhanh và hiện ở mức khá
cao (năm 1992 đạt 51,6%, năm 1995 đạt 65,4%, năm 2000 đạt 96,5%, năm 2005
đạt 130,8%, năm 2010 đạt 154,4%, khả năng năm 2011 sẽ còn cao hơn)-tức là
có độ mở khá cao, đứng thứ 5 thế giới-nên biến động giá cả trên thế giới sẽ tác
động nhiều đến biến động giá ở Việt Nam hơn các nước khác.
Giá thế giới tăng sẽ làm cho chi phí đẩy ở trong nước tính bằng VND tăng
kép: vừa tăng do đơn giá tính bằng USD tăng, vừa tăng do tính bằng VND tăng.
Khủng hoảng tiền tệ ở Châu Á 1997-1998, cuộc khủng hoảng năng lượng đẩy
giá xăng dầu từ vài chục USD thùng lên 140 USD thùng.
2.2. NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ

giữ vững và mỡ rộng quy mô sản xuất, góp phần giảm bớt thất nghiệp và kiềm
chế lạm phát.
Nghị quyết số 18/NQ-CP của chính phủ được triển khai và đạt một số
thành tựu. Đánh giá chung, tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 phát triển theo
chiều hướng tích cực, nền kinh tế phục hồi khá nhanh trong điều kiện kinh tế thế
giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp. Tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn so với
năm 2009 và vượt kế hoạch đề ra. Sản xuất công nghiệp phục hồi và đạt tốc độ
tăng trưởng cao xấp xỉ trước khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới;
xuất khẩu tiếp tục phát triển và đạt tốc độ tăng trưởng gấp 4 lần chỉ tiêu kế
hoạch đề ra; ngành dịch vụ phát triển khá, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu
dịch vụ tiêu dùng và du lịch đều tăng mạnh so với năm trước; sản xuất nông,
lâm nghiệp và thủy sản, mặc dù chịu ảnh hưởng nhiều của thiên tai, lũ lụt,
nhưng vẫn tiếp tục phát triển ổn định; năng suất, sản lượng lương thực đều đạt
cao hơn năm trước; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và nhu cầu xuất khẩu.
Thu ngân sách vượt kế hoạch đề ra, bảo đảm được các nhu cầu chi; đầu tư phát
triển được đẩy mạnh, huy động được nhiều nguồn vốn cho đầu tư phát triển. An
sinh xã hội được bảo đảm; đời sống người dân ngày càng được cải thiện; chính
15
trị, xã hội tiếp tục ổn định; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ
vững.
Kết quả sáu tháng đầu năm 2011 của việc thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP
là tốc độ tăng giá đã giảm dần kể từ tháng 4/2011. Thâm hụt thương mại từ mức
1,41 tỷ USD vào tháng 3/2011 đã giảm xuống chỉ còn 200 triệu USD cho nửa
đầu tháng 6/2011 và ước khoảng 400 triệu USD cho cả tháng. Thị trường tiền tệ,
tín dụng, lãi suất, vàng, ngoại tệ đã có chiều hướng bình ổn hơn, sản xuất đã
tăng trưởng cao và cao hơn kế hoạch đề ra, kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng
trưởng cao hơn so với cùng kỳ và gấp hơn 3 lần kế hoạch đề ra, nhập siêu có
chiều hướng giảm.
2.2.2. Hạn chế
Đối với gói kích cầu 2009: bên cạnh những dấu hiệu khả quan, nền kinh tế

phát đúng đắng, lạm phát vẫn còn nằm trong tầm kiểm soát.
Ngân hàng nhà nước đã thực hiện tốt vai trò điều chỉnh chính sách tiền tệ
linh hoạt và chỉ đạo các Ngân hàng thương mại cùng thực hiện các chính sách
kiềm chế lạm phát.
Bộ công thương làm khá tốt việc rà soát, đánh giá tình hình cung cầu của
các mặt hàng phục vụ đời sống sản xuất, theo dõi thị trường trong và ngoài nước
từ đó có biện pháp kiệp thời không để sốt giá.
Các bộ cơ quan và Ủy Ban Nhân Dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung
ương thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn về thủ tục hành chính, tiếp cận
vốn, mặt bằng sản xuất,… để tạo điều kiện thuận lợi khuyến các doanh nghiệp
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ được sự ủng hộ của đa số
người dân cũng như cộng đồng các nhà tài trợ và đầu tư.
Thực hiện giảm chi tiêu của chính phủ khá tốt, chủ yếu cắt giảm chi tiêu
công để cân đối thu chi. Tăng cường đào tạo nhân lực dẫn đến tăng nằn suất lao
động xã hội khá nhanh.
2.3.2. Nguyên nhân hạn chế
Chúng ta đã ban hành chính sách kiềm chế lạm phát chưa đồng bộ và kiểm
tra giám sát chưa thật sự chặt chẽ.
17
Đầu tư công chưa hiệu quả và chưa phát huy hết vai trò của các doanh
nghiệp trong những công trình mang tính xã hội.
Với giải pháp là gói kích cầu thì nó mang tính chất tạm thời cho giai đoạn
khủng hoảng chưa phải là chính sách kiềm chế lạm phát mang tính bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm và chưa phù hợp với tình hình mới, thiếu
bền vững.
Thanh tra ngân hành chưa chặt chẽ, chưa nghiêm và thường xuyên.
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN TỚI

Về khách quan, do tác động tiêu cực của tình hình kinh tế thế giới; về chủ
quan là do những hạn chế, yếu kém vốn có của nền kinh tế, mô hình tăng trưởng
và cơ cấu kinh tế chậm được khắc phục, bị tích tụ nặng nề hơn trong những năm
phải đối phó với tình trạng suy giảm kinh tế và do một số hạn chế trong quản lý,
điều hành của các cấp. Đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình
trạng lạm phát trong nhiều năm qua, nước ta luôn phải đối mặt với tình trạng
lạm phát cao và kinh tế vĩ mô không vững chắc, gay gắt hơn các nước trong khu
vực.
Lạm phát luôn rình rập và đe dọa chúng ta bất cứ lúc nào. Chính vì vậy,
Đảng và nhà nước phải luôn thận trọng trong mỗi bước đi để đảm bảo cho nền
kinh tế phát triển vững mạnh, làm nền tảng để phát triển khoa học, giáo dục,
đuổi kịp sự phát triển của các nước trong khu vực nói riêng và các nước trên thế
giới nói chung.
3.2. KIẾN NGHỊ
Cần nâng cao chất lượng và đưa dự báo kinh tế lên thành một trong những
nhiệm vụ kinh tế hàng đầu.
Tiếp tục tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại thành những ngân
hàng lớn đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
theo qui ước của WTO. Đồng thời tạo điều kiện cho Chính phủ chủ động can
thiệp vào sự hình thành lãi suất tín dụng trong những điều kiện cần thiết và bức
xúc.
Thực hiện chính sách hỗ trợ và mở rộng hơn để thu hút đầu tư. Đặt biệt
đầu tư lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngay cả đầu tư vào cơ sở hạ tầng không
có sinh lợi, nếu họ có đủ năng lực, góp phần giảm gánh nặng cho chính phủ.
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Kim Anh TTXVN/Vietnam+ (27/11/2010) “ Ranh giới lạm phát 2010:
“Mong manh” một con số”. http://dantri.com.vn
21
Link: http://dantri.com.vn/c76/s76-439804/ranh-gioi-lam-phat-2010-mong-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status