Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần VIBank - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
∗Xếp loại Khách hàng.....................................................................................................40
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
NHTM:
NHTW:
RRTD:
BĐS:
TSĐB:
TCTD:
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng trung ương
Rủi ro tín dụng
Bất động sản
Tài sản đảm bảo
Tổ chức tín dụng

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Phát triển kinh tế đang là mục tiêu quan trọng trong quá trình hội nhập
với nền kinh tế toàn cầu nước ta. Phát triển kinh tế đề cập đến mặt lượng, chất
và các vấn đề xã hội. Trong đó, mặt lượng chỉ sự gia tăng tổng mức thu nhập
của nền kinh tế, đây là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một
quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển. Đóng góp vào sự
gia tăng đó phải kể đến các Ngân hàng đã góp phần vào việc nâng dần tỷ
trọng của các ngành dịch vụ. Cùng với sự phát triển đó là việc tạo việc làm và

− Phương pháp so sánh
− Phương pháp phân tích tổng hợp
5. Kết cấu của chuyên đề: Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên
đề gồm 3 chương:
Chương I: Vai trò của hệ thống Ngân hàng thương mại và rủi ro tín
dụng
Chương II: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần VIBank
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng VIBank
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I. VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG
I.Vai trò của hệ thống Ngân hàng Thương mại
1. Sự ra đời và phát triển của hệ thống Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng được ra đời từ một công việc rất đơn giản là giữ đồ vật quý
cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát. Đổi lại, người chủ sở
hữu phải trả cho người giữ một khoản tiền công. Khi những công việc này
mang lại nhiều lợi ích cho những người gửi, các đồ vật gửi này càng đa dạng
hơn, và đại diện cho các vật có giá trị như vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là
nơi giữ tiền cho những người có tiền. Khi xã hội phát triển, thương mại phát
triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày
càng lớn trong xã hội. Khi nắm trong tay một lượng tiền, những người giữ
tiền nảy ra một nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lượng tiền trong tay họ không
phải bao giờ cũng bị đòi cùng một thời gian, tức là có độ chênh lệch lượng
tiền gửi và lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu. Từ đó phát sinh nghiệp
vụ đầu tiên nhưng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung đó là huy động vốn
và cho vay vốn.

Chức năng này là sự kế thừa và phát triển chức năng Ngân hàng là thủ
quỹ của các doanh nghiệp, tức là Ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản
hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản.
Ở NHTM chức năng trung gian thanh toán gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với
chức năng trung gian tín dụng. Ngân hàng dùng số tiền gửi của người này cho
người khác vay. Xuất phát từ chức năng là người thủ quỹ của các doanh
nghiệp, Ngân hàng có đủ điều kiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo
sự uỷ nhiệm của Ngân hàng. Trong khi làm trung gian thanh toán, Ngân hàng
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tạo ra những công cụ lưu thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó
( như là séc, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán,...) đã tiết kiệm cho xã hội rất
nhiều về chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá
trình lưu thông hàng hoá.
c. Chức năng tạo ra tiền Ngân hàng trong hệ thống ngân hàng 2 cấp
Từ khi các Ngân hàng ra đời, hoạt động kinh doanh tiền tệ có đựơc bước
phát triển mới. Trong quá trình kinh doanh tiền tệ, các Ngân hàng đã phát
hiện các khách hàng đã sử dụng giấy chứng nhận tiền gửi (chứng thư) mà
Ngân hàng đã cấp cho họ để chi trả các khoản nợ. Phát hiện này đã thúc đẩy
các Ngân hàng đưa vào lưu thông các loại tiền giấy Ngân hàng (bank notes)
được chuyển đổi ra vàng qua nghiệp vụ tín dụng thay thế cho tiền vàng. Đây
chính là phát minh có giá trị trong lịch sử hoạt động của tiền tệ.
Vào cuối thế kỉ 19, hệ thống Ngân hàng 2 cấp được hình thành, các
Ngân hàng không còn riêng lẻ, mà đã tạo nên 1 hệ thống, trong đó NHTW là
cơ quan quản lý tiền tệ, tín dụng, nhờ hoạt động trong hệ thống các NHTM đã
tạo ra bút tệ, thay thế cho tiền mặt. Đây là sáng kiến quan trọng thứ hai trong
lịch sử hoạt động Ngân hàng. Chính nhờ phương thức tạo tiền này mà Ngân
hàng chẳng những bảo đảm cho sự phát triển của mình, mà còn trở thành
trung tâm tiền tệ của đời sống kinh tế hiện đại.

việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến khu vực phi Ngân
hàng và đến nền kinh tế. Ngược lại, cũng qua NHTM và các định chế tài
chính trung gian khác, tình hình, sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu
tiền mặt, tổng cung tiền tệ, lãi suất tỷ giá... của nền kinh tế được phản hồi về
cho NHTW để Chính phủ và NHTW có những chính sách điều tiết thích hợp
với tình hình cụ thể.
Với vai trò thực thi chính sách tiền tệ, điều tiết vi mô, NHTM đã xâm
nhập vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân,
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các lĩnh vực khác của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín dụng, tiền mặt,
thanh toán không dùng tiền mặt, các quan hệ về tham gia hùn vốn, tư
vấn...với các quan hệ thường xuyên đó, NHTM giúp các hoạt động của các
doanh nghiệp được tiến hành bình thường và ngày càng phát triển.
b.Vai trò góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô thông qua chức năng
tạo tiền của NHTM
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô thuộc về
NHTW. Chức năng này được thể hiện trên 2 mặt:
Thứ nhất, tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội và soạn
thảo chính sách tiền tệ. Với các chức năng và vai trò của mình, NHTW có đủ
điều kiện thiết lập một khách hàng tổng thể về việc phân bổ, sử dụng các
nguồn lực cho nhu cầu phát triển kinh tế, từ đó NHTW trở thành một trong
những trung tâm điều độ, mà sự phát triển cảu nền kinh tế phụ thuộc rất lớn
vào trung tâm điều độ này. Chính sách tiền tệ là loại công cụ của chính sách
can thiệp bằng nền kinh tế, dựa trên bản thân cơ chế thị trường và các quy luật
vận động của nó. Nhưng NHTW không trực tiếp giao dịch với công chúng, do
đó phải dựa vào thông tin phản hồi từ các định chế tài chính trung gian để làm
căn cứ soạn thảo chính sách tiền tệ. Như vậy, rõ ràng là nếu không có hệ
thống NHTM cung cấp thì việc hoạch định chiến lược và soạn thảo chính

− Tốc độ tăng trưởng GDP 7-7,5%/năm
− Tốc độ tăng trưởng GDP/ người đạt 400 USD/ người
− Tỷ lệ xuất nhập khẩu chưa được cải thiện
− Tỷ lệ lạm phát có xu hướng tăng trong năm 2005,2006, đầu năm 2007
chậm hơn
− Đầu tư của Chính phủ vẫn tiếp tục tăng đặc biệt trong lĩnh vực hạ
tầng, các công trình quan trọng
Nhìn chung môi trường kinh tế ổn định, tốc độ tăng trưởng cao thuận lợi
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cho kinh doanh ngân hàng , thu hút nhiều đối thủ cạnh tranh. Ngân hàng cũng
phải phát triển để đáp ứng được các yêu cầu đó.
 Môi trường công nghệ
− Đang có ra đời và ứng dụng các công nghệ mới hiện đại vào lĩnh vực
Ngân hàng
− Các ngân hàng Việt Nam bước đầu có sự tiếp cận ứng dụng các công
nghệ mới hiện đại vào hoạt động ngân hàng
Môi trường công nghệ tạo điều kiện để hiện đại hoá ngân hàng. Yêu cầu
phải có vốn lớn và chiến lược đầu tư hợp lý. Cạnh tranh giữa các ngân hàng
ngày càng khốc liệt hơn
 Môi trường pháp luật
− Tạo điều kiện cho việc hình thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
− Xu hướng sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với các
cam kết quốc tế của Việt Nam sẽ tạo sự bình đẳng, tự chủ cho các
Ngân hàng trong kinh doanh
Môi trường pháp luật: các ngân hàng được đối xử bình đẳng tự do trong
kinh doanh. Có điều kiện thông tin đa dạng đầy đủ và chuẩn mực hơn. Cạnh
tranh ngày càng gay gắt khốc liệt hơn
 Môi trường văn hoá xã hội:

ngày càng gay gắt khốc liệt hơn
 Khách hàng của ngân hàng:
− Nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng về số lượng, chất lượng,
tiện ích mà các dịch vụ ngân hàng đem lại
− Quan hệ ngân hàng với khách hàng ngày càng trở nên bình đẳng hơn.
Yêu cầu ngân hàng phải đổi mới về công nghệ dịch vụ và đa dạng về chất
lượng dịch vụ. Phải đào tạo thường xuyên đội ngũ nhân viên để đáp ứng đươc
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các yêu cầu ngày càng cao.
II. Rủi ro tín dụng của Ngân Hàng Thương Mại
1.Rủi ro trong hoạt động ngân hàng
 Khái niệm: Có nhiều cách hiểu rủi ro khách nhau, có nhiều định
nghĩa về rủi ro của các nhà kinh tế và các nhà kinh doanh. Nhưng có
thể hiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng là những biến cố không
mong đợi xảy ra trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, những
biến cố này có thể gây thiệt hại tài sản hay thu nhập của Ngân hàng.
 Phân loại rủi ro Ngân hàng:
− Rủi ro tín dụng: Rủi ro về tín dụng xuất phát từ hoạt động tín dụng
khi khách hàng vay vi phạm các điều kiện hợp đồng tín dụng làm
giảm hay mất giá trị của tài sản có.
− Rủi ro thiếu vốn khả dụng
− Rủi ro lãi suất: Phát sinh khi có chệnh lệch về kỳ hạn tái định giá giữa
tài sản nợ và tài sản có.
− Rủi ro hối đoái
− Rủi ro trong tín dụng quốc tế và trong tín dụng ngoại thương
− Rủi ro mất khả năng thanh toán
2. Rủi ro tín dụng
2.1 Khái niệm

− Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới:
Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông
nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực
phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công...vốn rất nhạy cảm với rủi
ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế
giới có biến động xấu.
− Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế:
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ
xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu
hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của doanh
nghiệp phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc
nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các
ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội
nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống
quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết
các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước
ngoài thu hút
− Sự tấn công của hàng nhập lậu: Với hàng trăm km trên bộ và trên
biền cùng địa hình địa lý phức tạp và tình hình đời sống nghèo khó
của dân cư vùng biên giới, cuộc chiến đấu với hàng lậu đã kéo dài dai
dẳng từ rất nhiều năm nay mà kết quả là hàng lẫu vẫn tràn lan tại các
thành phố lớn, làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các
ngân hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này. Các mặt hàng kim
khí điện máy gạch men, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm...là những ví dụ
tiêu biểu cho tình hình hàng lậu ở nước ta.
− Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến cuộc
khủng hoảng thừa về đầu tư ở một số ngành: Nền kinh tế thị trường

− Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà
nước: Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh
tra Ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn
bản về chất lượng. Năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng
được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ
mới thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp. Nội dung và phương
pháp thanh tra giám sát lạc hậu, chậm được đổi mới. Vai trò kiểm
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
toán chưa được phat huy và hệ thống thông tin chưa đựơc tổ chức
một cách hữu hiệu. Thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu,
khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn
yếu. Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu
xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa
rủi ro và vi phạm. Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều
bất cập. Do vậy mà có các sai phạm của các NHTM không được
thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặng từ đầu, để đến
khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp. Hàng loạt các sai
phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số NHTM dẫn đến rủi ro
rẩt lớn, có nguy cơ đe doạ sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đã
được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý
sớm hơn.
− Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập: Hiện nay ở Việt Nam chưa có
một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng.
Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt
động quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất
đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt
động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh
nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn

vay. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý
một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả
− Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực
sự hiệu quả: Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt, huy động
vốn để cho vay hay nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi, các ngân
hàng phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro. Trong tình
hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai
trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời,
chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý.
 Do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
− Sử dụng vốn sai mục đích, không thiệu chí trong việc trả nợ vốn vay
− Công tác quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền
ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn
đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới
cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính
kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so
với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các dự án
kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
− Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô
tài sản nguồn vốn bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung
của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, thói quen ghi chép
đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các
doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy các sổ
sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi
chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng
lập các bảng phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do

gặp phải rủi ro tín dụng ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả
năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy
tín của Ngân hàng, bị cấp trên khiển trách. Đối với cấp dưới, do gặp
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phải rủi ro tín dụng nên không có tiền trả lương cho nhân viên vì thế
những người có năng lực sẽ thuyên chuyển công tác gây khó khăn
cho ngân hàng.
Nói tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác
nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho
vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu đựơc vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao
dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc
phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh
tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà
quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp
nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
III. Quản trị rủi ro tín dụng
1. Khái niệm: Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng
là nghiệp vụ có nguy cơ rủi ro cao nhất của ngân hàng. Do vậy mối lo
lắng lớn nhất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng chính là
rủi ro tín dụng. để có thể hạn chế rủi ro tín dụng đến mức thấp nhất,
các tổ chức tín dụng phải quản trị rủi ro tín dụng.
Quản trị rủi ro tín dụng là quán trình xây dựng và thực thi các chính sách
và biện pháp quản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát
triển bền vững.
2. Công cụ Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại
Các tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng:
− Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
− Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu

Sau 11 năm hoạt động, đến 31/12/2007, vốn điều lệ của Ngân hàng Quốc tế
đạt mức 2.000 tỷ đồng, tổng tài sản đạt trên 39.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế
đạt 425 tỷ đồng, tỷ lệ cổ tức chia cho các cổ đông tăng đều hàng năm, tỷ lệ về
khả năng chi trả luôn lớn hơn 1, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu luôn lớn hơn 8%. Hội
sở của Ngân hàng quốc tế đặt tại số 1 Thái Hà, Quận Đống Đa, Hà Nội.
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status