Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần VIBank - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
∗Xếp loại Khách hàng.....................................................................................................37
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Phát triển kinh tế đang là mục tiêu quan trọng trong quá trình hội nhập
với nền kinh tế toàn cầu nước ta. Phát triển kinh tế đề cập đến mặt lượng, chất
và các vấn đề xã hội. Trong đó, mặt lượng chỉ sự gia tăng tổng mức thu nhập
của nền kinh tế, đây là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một
quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển. Đóng góp vào sự
gia tăng đó phải kể đến các Ngân hàng đã góp phần vào việc nâng dần tỷ
trọng của các ngành dịch vụ. Cùng với sự phát triển đó là việc tạo việc làm và
tăng thu nhập cho nhiều người. Tuy nhiên, trước những bất ổn của nền kinh tế
thế giới cũng như diễn biến phức tạp của tình hinìh kinh tế- xã hội trong nước
đã ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường tài chính-tiền tệ Việt Nam. Trước bối
cảnh đó, các Ngân hàng phải hêt sức cố gắng duy trì chỗ đứng của mình trên
thị trường, các hoạt động phải được đảm bảo không có rủi ro xảy ra, đặc biệt
là hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của Ngân hàng,
nó có ý nghĩa quan trọng và xuyên suốt trong quá trình tồn tại và phát triển
của Ngân hàng. Do đó, các Ngân hàng đều rất chú trọng đến bộ máy Quản trị
rủi ro tín dụng. Là một sinh viện thực tập tại Ngân hàng, em cũng nhận thấy
rõ điều đó, vì thế em đã chọn đề tài:
“Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần VIBank”
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Thạc sĩ
Phạm Xuân Hoà, cảm ơn Ban giám đốc Ngân hàng VIBank đã tạo điều kiện
để em hoàn thành chuyên đề thực tập này.
2. Mục đích nghiên cứu:

1. Sự ra đời và phát triển của hệ thống Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng được ra đời từ một công việc rất đơn giản là giữ đồ vật quý
cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát. Đổi lại, người chủ sở hữu
phải trả cho người giữ một khoản tiền công. Khi những công việc này mang
lại nhiều lợi ích cho những người gửi, các đồ vật gửi này càng đa dạng hơn,
và đại diện cho các vật có giá trị như vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi
giữ tiền cho những người có tiền. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển,
nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn
trong xã hội. Khi nắm trong tay một lượng tiền, những người giữ tiền nảy ra
một nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lượng tiền trong tay họ không phải bao giờ
cũng bị đòảntong cùng một thời gian, tức là có độ chênh lệch lượng tiền gửi
và lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu. Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu
tiên nhưng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung đó là huy động vốn và cho
vay vốn.
2. Vai trò của hệ thống Ngân hàng Thương mại đối với sự phát triển
kinh tế
Vai trò của NHTM được xây dựng dựa trên cơ sở các chức năng và trên
cơ sở các nghiệp vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn.
2.1 Chức năng
Tầm quan trọng của NHTM được thể hiện qua các chức năng của nó. Các
chức năng của NHTM có thể được nêu ra dưới nhiều hình thức khía cạnh khác
nhau, nhưng nhìn chung được nhà kinh tế chấp nhận ở các chức năng sau:
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
a. Chức năng trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trung gian tài
chính là hoạt động “cầu nối” giữa cung và cầu vốn trong xã hội, khơi nguồn
vốn từ những người có thể vì lý do gì đó không dùng nó một cách sinh lợi lợi

Từ khi các Ngân hàng ra đời, hoạt động kinh doanh tiền tệ có đựơc bước
phát triển mới. Trong quá trình kinh doanh tiền tệ, các Ngân hàng đã phát
hiện các khách hàng đã sử dụng giấy chứng nhận tiền gửi (chứng thư) mà
Ngân hàng đã cấp cho họ để chi trả các khoản nợ. Phát hiện này đã thúc đẩy
các Ngân hàng đưa vào lưu thông các loại tiền giấy Ngân hàng (bank notes)
được chuyển đổi ra vàng qua nghiệp vụ tín dụng thay thế cho tiền vàng. Đây
chính là phát minh có giá trị trong lịch sử hoạt động của tiền tệ.
Vào cuối thế kỉ 19, hệ thống Ngân hàng 2 cấp được hình thành, các Ngân
hàng không còn riêng lẻ, mà đã tạo nên 1 hệ thống, trong đó NHTW là cơ
quan quản lý tiền tệ, tín dụng, nhờ hoạt động trong hệ thống các NHTM đã
tạo ra bút tệ, thay thế cho tiền mặt. Đây là sáng kiến quan trọng thứ hai trong
lịch sử hoạt động Ngân hàng. Chính nhờ phương thức tạo tiền này mà Ngân
hàng chẳng những bảo đảm cho sự phát triển của mình, mà còn trở thành
trung tâm tiền tệ của đời sống kinh tế hiện đại.
d. Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, Ngân hàng có
những điều kiện thuận lợi về kho quỹ, thông tin, quan hệ rộng rãi với doanh
nghiệp. Với những điều kiện đó, Ngân hàng có thể làm tư vấn về tài chính và
đầu tư cho các doanh nghiệp, làm đại lý phát hành cổ phiếu, bảo đảm đạt hiệu
quả cao và tiết kiệm chi phí.
Ngân hàng còn cung cấp cho khách hàng các dịch vụ khác:
− Dịch vụ bảo quản an toàn vật có giá của khách hàng: đây là 1 chức
năng cơ bản của NHTM, đòi hỏi các NHTM phải là nơi được xây
dựng kiên cố và được trang bị hệ thống bảo quản hiện đại.
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
− Dịch vụ thuê két ngân buổn tối (Night safe): Ngân hàng lắp đặt hệ
thốn két đặc biệt trước cửa Ngân hàng, khách hàng thuê dịch vụ này
được phép cất giữ tiền mặt hay séc để đảm bảo an toàn vào buổi tối

tạo tiền của NHTM
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô thuộc về
NHTW. Chức năng này được thể hiện trên 2 mặt:
Thứ nhất, tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội và soạn
thảo chính sách tiền tệ. Với các chức năng và vai trò của mình, NHTW có đủ
điều kiện thiết lập một khách hàng tổng thể về việc phân bổ, sử dụng các
nguồn lực cho nhu cầu phát triển kinh tế, từ đó NHTW trở thành một trong
những trung tâm điều độ, mà sự phát triển cảu nền kinh tế phụ thuộc rất lớn
vào trung tâm điều độ này. Chính sách tiền tệ là loại công cụ của chính sách
can thiệp bằng nền kinh tế, dựa trên bản thân cơ chế thị trường và các quy luật
vận động của nó. Nhưng NHTW không trực tiếp giao dịch với công chúng, do
đó phải dựa vào thông tin phản hồi từ các định chế tài chính trung gian để làm
căn cứ soạn thảo chính sách tiền tệ. Như vậy, rõ ràng là nếu không có hệ
thống NHTM cung cấp thì việc hoạch định chiến lược và soạn thảo chính
sách tiền tệ của NHTW sẽ không hoàn hảo.
Thứ hai, chính sách tiền tệ được thiết kế và khởi động từ NHTW lan ra
đến mọi ngóc ngách của nền kinh tế thông qua hoạt động dây chuyền của hệ
thống NHTG và các tổ chức tài chính trong nước. Như vậy, nếu không có sự
chấp hành của hệ thống NHTG, thì ý đồ và chính sách tiền tệ của NHTW sẽ
không thực hiện được.
Trong việc điều hành thực thi chính sách tiền tệ, NHTW sử dụng các
công cụ chính sách tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội, mà trước hết là trong hệ
thống NHTM.
3. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của Ngân hàng Thương mại
3.1 Môi trường vĩ mô
 Môi trường dân số:
− Tốc độ tăng dân số ở mức cao 0,2%
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

− Các ngân hàng Việt Nam bước đầu có sự tiếp cận ứng dụng các công
nghệ mới hiện đại vào hoạt động ngân hàng
Môi trường công nghệ tạo điều kiện để hiện đại hoá ngân hàng. Yêu cầu
phải có vốn lớn và chiến lược đầu tư hợp lý. Cạnh tranh giữa các ngân hàng
ngày càng khốc liệt hơn
 Môi trường pháp luật
− Tạo điều kiện cho việc hình thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
− Xu hướng sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với các
cam kết quốc tế của Việt Nam sẽ tạo sự bình đẳng, tự chủ cho các
Ngân hàng trong kinh doanh
Môi trường pháp luật: các ngân hàng được đối xử bình đẳng tự do trong
kinh doanh. Có điều kiện thông tin đa dạng đầy đủ và chuẩn mực hơn. Cạnh
tranh ngày càng gay gắt khốc liệt hơn
 Môi trường văn hoá xã hội:
− Trình độ dân trí được nâng cao
− Nhu cầu sử dụng các phương tiện dịch vụ ngân hàng hiện đại phát triển
− Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ
Môi trường văn hoá thúc đẩy ngân hàng phát triển; phải nắm bắt và có
khả năng đáp ứng các yêu cầu đó
3.2. Môi trường vi mô
 Các yếu tố nội lực của Ngân hàng:
− Vốn tự có của các ngân hàng còn nhỏ. Hiện các ngân hàng đang có xu
hướng tăng vốn điều lệ, trình độ kỹ thuật công nghệ đã được nâng
cao, trình độ cán bộ ngân hàng cũng được đào tạo nâng cao.
− Hệ thống mạng lưới có xu hướng được mở rộng đặc biệt là ở các
trung tâm kinh tế lớn, các khu vực có tiềm năng phát triển.
− Mối quan hệ giữa các bộ phận ngân hàng được sắp xếp tổ chức hợp lý
để phát huy hiệu quả hơn.
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
9

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Phân loại rủi ro Ngân hàng:
− Rủi ro tín dụng: Rủi ro về tín dụng xuất phát từ hoạt động tín dụng
khi khách hàng vay vi phạm các điều kiện hợp đồng tín dụng làm
giảm hay mất giá trị của tài sản có.
− Rủi ro thiếu vốn khả dụng
− Rủi ro lãi suất: Phát sinh khi có chệnh lệch về kỳ hạn tái định giá giữa
tài sản nợ và tài sản có.
− Rủi ro hối đoái
− Rủi ro trong tín dụng quốc tế và trong tín dụng ngoại thương
− Rủi ro mất khả năng thanh toán
2. Rủi ro tín dụng
2.1 Khái niệm
Rủi ro tín dụng là rủi ro gắn liền với hoạt động ngân hàng, cho vay bao
giờ cũng bao gồm rủi ro và xảy ra mất mát. Rủi ro không bao giới hạn ở hoạt
động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác
của ngân hàng: các hoạt động bảo lãnh, cam kết chấp thuận tài trợ thương
mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, những chứng khoán có giá (trái
phiếu, cổ phiếu...) trái quyền, tín dụng, thuê mua... Ngày nay, dù rất nhiều
hình thức kinh doanh mới trong hoạt động ngân hàng ở nhiều lĩnh vực khác
nhau, nhưng tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân
hàng. Vì thế ở tất cả các nước RRTD là vấn đề được đặc biệt quan tâm không
chỉ ở phạm vi các ngân hàng, mà cả trong toàn nền kinh tế. Các ngân hàng
luôn tìm cực đại lợi nhuận qua việc tìm kiếm những lợi tức cao nhất có thể ở
các món cho vay như: sàng lọc và giám sát khách hàng vay, thiệt lập mối
quan hệ khách hàng lâu dài, quy trình các mức tín dụng vật thế chấp, số dư bù
và hạn chế tín dụng. Dẫu sao, không một khách hàng nào nghĩ được hết mọi
sự bất ngờ khi nó viết ra những quy định hạn chế vào một hợp đồng cho vay;
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
11

12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ngoài thu hút
− Sự tấn công của hàng nhập lậu: Với hàng trăm km trên bộ và trên biền
cùng địa hình địa lý phức tạp và tình hình đời sống nghèo khó của dân
cư vùng biên giới, cuộc chiến đấu với hàng lậu đã kéo dài dai dẳng từ
rất nhiều năm nay mà kết quả là hàng lẫu vẫn tràn lan tại các thành
phố lớn, làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngân
hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này. Các mặt hàng kim khí
điện máy gạch men, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm...là những ví dụ tiêu
biểu cho tình hình hàng lậu ở nước ta.
− Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến cuộc
khủng hoảng thừa về đầu tư ở một số ngành: Nền kinh tế thị trường
tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành
nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi
nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành
khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan. Tuy nhiên ở nước ta
thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn
không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công, lao động,
chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các hiệp hội
nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của nhà nước. Điều này dẫn đến sự
gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng
thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia.
 Do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
− Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương: Trong những
năm gần đây, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, Ngân
hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn
bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín
dụng ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển
khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp

nguy cơ đe doạ sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý sớm hơn.
− Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập: Hiện nay ở Việt Nam chưa có
một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng.
Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt
động quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất
đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt
động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh
nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn
điệu, thiếu cập nhật và ngoài ra việc kết nối thông tin với trang Web-
CIC qua đường X25 của Chi cục tin học ngân hàng còn nhiều trục
trặc, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu thông tin tra cứu. Đó cũng là
thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát
tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin
tương xứng. Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở
rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng
thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan
 Do các nguyên nhân từ phía Ngân Hàng cho vay
− Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ ở các Ngân hàng: Kiểm tra
nội bộ có điểm mạnh hơn thanhh tra NHNN ở tính thời gian vì nó
nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát
của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường
xuyên cùng với công việc kinh doanh. Nhưng trong thời gian trước
đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại
trên hình thức. Kiểm tra nôi bộ cần phải được xem như hệ thống “
thắng” của cỗ xe tín dụng.

kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
− Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô
tài sản nguồn vốn bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, thói quen ghi chép
đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các
doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy các sổ
sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi
chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng
lập các bảng phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do
các doanh nghiệp cung cấp thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây
cũng là nguyên nhân vì sao các ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài
sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.
2.3. Những thiệt hại từ rủi ro tín dụng
 Đối với nền kinh tế: Hoạt động Ngân hàng liên quan đến hoạt động
doanh nghiệp, các ngành và cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp
rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng khác
hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác,
làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Ngân hàng phá
sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp
khó khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất
lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái,
giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì
ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế
khu vực và thế giới. Kinh nghiệm cho thấy cuộc khủng hoảng tài
chính Châu Á (1997), cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ

rủi ro tín dụng. để có thể hạn chế rủi ro tín dụng đến mức thấp nhất,
các tổ chức tín dụng phải quản trị rủi ro tín dụng.
Quản trị rủi ro tín dụng là quán trình xây dựng và thực thi các chính sách
và biện pháp quản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát
triển bền vững.
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Công cụ Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại
Các tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng:
− Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
− Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu
− Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tốt nhất
− Nợ đáng nghi ngờ (nợ có vấn đề)-có khả năng chuyển thành nợ xấu cao
− Nợ không có tài sản đảm bảo
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIBANK
I. Tổng quan về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế VIBank
1.Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng VIBank
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (tên gọi tắt là Ngân hàng Quốc tế-
VIB Bank) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 18/09/1996 theo quyết định số
22/QĐ/NH5 ngày 25/01/1996 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Cổ đông sáng lập Ngân hàng Quốc tế bao gồm Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, các cá
nhân và doanh nhân thành đạt tại Việt Nam và trên trường Quốc tế.
Từ khi bắt đầu hoạt động với số vốn điều lệ ban đầu là 50 tỷ đồng Việt
Nam, Ngân hàng Quốc tế đang phát triển thành một trong những tổ chức tài

dịch vụ mua bán ngoại tệ. Các khoản cho vay tiêu dùng nhắm đến các
mục đích sử dụng vốn cụ thể như: mua sắm, sửa chữa nhà đất, mua
sắm xe hơi, vật dụng gia đình, ...
− Dịch vụ Ngân hàng định chế: Ngân hàng Quốc tế cung cấp cho các
ngân hàng, tổ chức tài chính, tổ chức phi tài chính và các tổ chức khác
bao gồm: dịch vụ tiền gửi, dịch vụ quản lý tài sản, dịch vụ cho vay,
dịch vụ đồng tài trợ, dịch vụ mua bán ngoại tệ.
− Dịch vụ Ngân hàng cho Doanh nghiệp lớn và Doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài: Cuối năm 2007, Ngân hàng Quốc tế đã thành lập
khối kinh doanh nhằm cung cấp các dịch vụ ngân hàng chuyên biệt
cho Doanh nghiệp lớn và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
− Dịch vụ Ngân hàng đầu tư và dịch vụ dành cho nhà đầu tư: Ngân
hàng quốc tế cung cấp dịch vụ giúp nhà đầu tư tối ưu hoá các cơ hội
đầu tư và bán chéo sản phẩm với các công ty chứng khoán.
2. Khái quát về Khối Quản lý tín dụng
SV: Đào Thị Hải Vân Lớp: KTPT47B - QN
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1. Cơ cấu khối quản lý tín dụng
Khối quản lý tín dụng (QLTD) bao gồm các phòng/ bộ phận: Bộ phận
chính sách tín dụng, Phòng Tái thẩm định phía Bắc, Phòng tái thẩm định phía
Nam, Phòng quản lý tài sản đảm bảo, Phòng giám sát tín dụng, Phòng xử lý
nợ. Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc khối QLTD. Nhân viên từng bộ
phận chịu sự trực tiếp của lãnh đạo bộ phận.
2.2. Cơ chế báo cáo
Hàng tháng vào tuần đầu của tháng tổ chức họp toàn Khối QLTD. Các
trưởng phòng/ Giám đốc Chính sách tín dụng, Tái thẩm định, Giám sát tín
dụng, Quản lý tài sản đảm bảo, Xử lý nợ, báo cáo với Giám đốc khối các vấn
đề sau:
 Các công việc thực hiện trong tháng, các vấn đề vướng mắc.

Phòng
Tái
thẩm
định 3
Phòng
Tái
thẩm
định 4
Chi nhánh
23

Trích đoạn Tình hình dư nợ theo thời gian (đơn vị tỷ đồng) Nội dung chính sách quản lý RRTD
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status