nâng cao chất lượng quản trị rủi ro thị trường tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam - Pdf 22

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung và số liệu phân tích trong Luận văn này là kết quả
nghiên cứu độc lập của tác giả và chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa
học nào.

ii
iii
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ Viết tắt Viết đầy đủ
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á ISDA
International Swaps and
Derivatives Association - Hiệp
hội Quốc tế về Hoán đổi và Phái
sinh
ALCO Ban quản lý tài sản nợ - tài sản có ISMA
International securities market
association - Hiệp hội thị trường
chứng khoán thế giới
ALM Quản lý tài sản nợ - tài sản có KHTK Khe hở thanh toán
BĐH Ban điều hành KHLS Khe hở lãi suất
BOE
Bank of England - Ngân hàng trung
ương Anh
LSCB Lãi suất cơ bản
BOJ
Bank of Japan - Ngân hàng trung
ương Nhật Bản
LSCĐ Lãi suất cố định
CDO Giấy nợ đảm bảo bằng tài sản LSBĐ Lãi suất biến đổi

Chứng khoán đảm bảo bằng tài
sản thế chấp
v
DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ, HÌNH
HÌNH
Hình 1.1: Hệ thống quản trị rủi ro của NH UOB (United Overseas Bank Group). 28
Hình 1.2. Quá trình quản lý rủi ro thị trường 29
Hình 1.3. Tham khảo mẫu báo cáo VaR của Bank of New York Mellon 34
Hình 1.4: Đánh giá rủi ro (stress test) cho một danh mục đầu tư 35
Hình 1.5: Hệ thống các hạn mức RRTT của NHTM 40
Hình 3.1: Cấu trúc bảng CĐKT và các chênh lệch thanh khoản/lãi suất 108
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đã trở thành một xu thế của thời đại và diễn ra ngày
càng sâu về nội dung, rộng về quy mô trên nhiều lĩnh vực. Việt Nam nói chung, ngành
ngân hàng - tài chính Việt Nam nói riêng cũng đã và đang tích cực tham gia vào xu thế đó.
Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO đã được 3 năm và những
ảnh hưởng của quá trình hội nhập ngày càng thể hiện rõ, đặc biệt đối với hoạt động Ngân
hàng thương mại (NHTM). Các Tổ chức tín dụng (TCTD) nước ngoài xuất hiện tại Việt
Nam ngày càng nhiều với phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng, đe doạ đến thị phần nội
địa của các NHTM Việt Nam. Ngược lại, hoạt động của các NHTM Việt Nam cũng đang
được mở ra trường quốc tế và chịu nhiều ảnh hưởng hơn từ những biến động kinh tế thế
giới. Bối cảnh trên khiến các NHTM Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro từ thị
trường hơn bao giờ hết. Cuộc chạy đua lãi suất và tình hình căng thẳng về thanh khoản
trong năm 2008, cũng như những diễn biến trên thị trường hối đoái từ 2008 đến nay là hồi
chuông cảnh báo về những nguy cơ rủi ro thị trường ngày càng gia tăng đối với các NHTM
Việt Nam. Tuy nhiên, việc quản trị rủi ro thị trường (QTRRTT) một cách bài bản, khoa
học và hiệu quả nhằm tăng cường hiệu quả kinh doanh, đảm bảo tính an toàn và phát triển
bền vững rõ ràng đang là một nghiệp vụ rất mới và chưa được quan tâm đúng mức đối với
nhiều NHTM Việt Nam.

nằm ở các bộ phận khác nhau. Năm 2007, Tech tiếp tục thành lập Khối Quản trị rủi ro
vii
nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro toàn hệ thống. Tuy nhiên, quản trị rủi ro vẫn
tập trung nhiều nhất vào rủi ro tín dụng. Các mô hình QLRRTT cũng được cải tiến nhưng
tiến độ rất chậm.
Với thực trạng nói trên, tôi nhận thấy vấn đề nâng cao chất lượng QTRRTT tại
NHTM CP Techcombank có ý nghĩa thực sự quan trọng trong việc góp phần giảm thiểu
tổn thất cho NH trong trường hợp thị trường biến động không như dự đoán, góp phần tăng
hiệu quả kinh doanh, tạo ra lợi nhuận cho toàn NH. Đó chính là lý do để tôi quyết định lựa
chọn nghiên cứu đề tài: "Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro thị trường tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam". Đề tài nghiên cứu các lý luận cơ bản về
RRTT và phương pháp QLRRTT, đánh giá thực trạng QLRRTT ở các NHTM Việt Nam
nói chung và tại NHTMCP TCB nói riêng hiện nay, từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác QLRRTT tại NHTM CP Techcombank.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá và khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro thị trường
của Ngân hàng thương mại.
-Nguy cơ rủi ro thị trường trong hoạt động của các NHTM Việt Nam nói chung và
Techcombank nói riêng.
-Yêu cầu đối với công tác QLRRTT tại các NHTM Việt Nam nói chung và
Techcombank nói riêng
-Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLRRTT tại NHTM CP
Techcombank
-Tham mưu cho các cơ quan chức năng trong việc xây dựng các định hướng, quy định,
hướng dẫn thực hiện phương pháp QLRRTT phù hợp với thông lệ quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
-Hệ thống lý luận về rủi ro thị trường và quản lý RRTT.
-Phương pháp thực hành quản lý RRTT tại các NHTM trên thế giới.
viii

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ
RỦI RO THỊ TRƯỜNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về rủi ro và quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1.1.1 Đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng
1.1.1.1 Hoạt động kinh doanh ngân hàng hàm chứa nhiều rủi ro
Là doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vựa tiền tệ, hoạt động của các NHTM hàm chứa rất
nhiều rủi ro.
- NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác. Vốn tự có của NHTM chiếm
một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động nên việc kinh doanh của NHTM luôn
gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng buộc phải chấp nhận với một mức độ mạo hiểm nhất
định. Trong hoạt động kinh doanh hàng ngày của mình, NHTM không những phải đảm bảo
cho nhu cầu thanh toán, chi trả như mọi khi loại hình DN khác, mà còn phải đảm bảo tốt
nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng
- Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng hợp
tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có
thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hình DN nào vì tính chất
lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống nền kinh tế.
1.1.1.2 Đối tượng kinh doanh chính của ngân hàng là tiền tệ
Ngân hàng kinh doanh một hàng hóa đặc biệt trên thị trường – đó là tiền tệ, với đặc tính xã
hội hóa cao, tính cảm ứng và nhạy bén với mọi thay đổi trong nền kinh tế. Đây chính là đặc
điểm cơ bản phân biệt lính vực kinh doanh ngân hàng so với các lĩnh vực kinh doanh khác.
Giá cả trong kinh doanh ngân hàng chính là lãi suất. Sự vận động lên hoặc xuống của lãi
suấy bao hàm, ảnh hưởng đến rất nhiều mối quan hệ kinh tế - xã hội khác nhau.
1.1.1.3 Nguồn vốn chủ yếu để các ngân hàng hoạt động kinh doanh chính
là nguồn vốn huy động
2
Xuất phát từ chức năng thứ nhất của các ngân hàng là: các NHTM là trung gian tài chính
làm nhiệm vụ thu hút tiền gửi và tiết kiệm trong nền kinh tế, các NHTM đã tạo ra được
nguồn vốn khổng lồ để sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình. Đây là nguồn vốn dồi
dào và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Đặc điểm của nguồn

cả việc xây dựng các chuẩn mực cấp tín dụng và chính sách đa dạng hóa phù hợp.
- Rủi ro thanh khoản: là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả
năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn
để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Rủi ro thanh toán lớn nhất khi ngân hàng
không thể tiếp cận được các nguồn bổ sung tiền mặt, ví dụ như thông qua một hạn mức tín
dụng đã ký kết (các nguồn như các khoản cam kết, rủi ro tập trung hay cơ cấu tài sản có và
tài sản nợ)
- Rủi ro thị trường: là loại rủi ro bị tổn thất tài sản, xảy ra khi lãi suất, tỷ giá hay giá cả
thị trường biến động theo chiều hướng xấu, ví dụ như tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất, giá cổ
phiếu Do rủi ro thị trường bao trùm một phạm vi rất rộng, nên rủi ro thị trường sẽ được
chia ra làm ba loại rủi ro cụ thể nhỏ hơn là rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất và rủi ro giá cả:
+ Rủi ro tỷ giá: là khả năng xảy ra những biến động của tỷ giá dẫn đến các tác
động bất lợi cho các hoạt động kinh doanh, thu nhập và/hoặc giá trị ròng của Ngân hàng.
+ Rủi ro lãi suất: là khả năng xảy ra những biến động của lãi suất dẫn đến tác
động bất lợi tới hoạt động kinh doanh, thu nhập và/hoặc giá trị ròng của Ngân hàng . Các
nguồn rủi ro lãi suất chính bao gồm: (i) Rủi ro định giá lại (Repricing Risk) – phát sinh từ
sự khác biệt về thời gian đáo hạn (đối với lãi suất cố định) và thời điểm tái định giá (đối
với lãi suất thả nổi) của tài sản nợ, tài sản có và các khoản mục ngoại bảng. (ii) Rủi ro
đường cong thu nhập (Yield Curve Risk) – đường cong thu nhập vẽ đồ thị mối quan hệ
giữa mức lợi tức đến hạn và thời gian đến hạn của các khoản nợ với các công cụ có rủi ro
vỡ nợ - trục tung là lợi tức đến hạn, trục hoành là thời gian đến hạn. Nguyên nhân là do sự
thay đổi độ dốc và hình dạng của đường cong thu nhập, rủi ro xảy ra khi đường cong thu
nhập dịch chuyển không dự đoán được gây ảnh hưởng bất lợi tới thu nhập hoặc giá trị kinh
4
tế của ngân hàng. (iii) Rủi ro cơ bản: phát sinh từ sự tương quan không hoàn hảo trong việc
điều chỉnh thu lãi và chi lãi trên các công cụ khác biệt có thời gian tái định giá tương tự
nhau
+ Rủi ro giá cả (trừ các rủi ro thị trường ở trên): là khả năng xảy ra những biến
động của giá cả dẫn đến tác động bất lợi tới hoạt động kinh doanh, thu nhập và/hoặc giá trị
ròng của Ngân hàng.

b. Phân tích rủi ro
Đây chính là việc tìm ra nguyên nhân gây ra rủi ro. Phân tích rủi ro nhằm đề ra biện
pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro. Trên cơ sở tìm ra các nguyên nhân, tác động đến các
nguyên nhân làm thay đổi chúng, qua đó sẽ phòng ngừa rủi ro một cách hiệu quả hơn.
c. Đo lường rủi ro
Muốn vậy, phải thu thập số liệu, lập ma trận đo lường rủi ro và phân tích, đánh giá.
Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng, người ta sử dụng hai tiêu chí:
Tần suất xuất hiện của rủi ro và biên độ của rủi ro, tức là mức độ nghiêm trọng của tổn
thất, đây là tiêu chí có vai trò quyết định.
d. Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro
Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro. Đó là việc sử dụng các biện pháp, kỹ
thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc
giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xãy ra đối với ngân
hàng. Các biện pháp kiểm soát có thể là: phòng tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, chuyển
giao rủi ro, đa dạng rủi ro, quản trị thông tin,
e. Tài trợ rủi ro
Mặc dù, đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra. Khi
đó, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực
hoặc về giá trị pháp lý. Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ phù hợp. Nhìn chung, các
biện pháp này được chia làm hai nhóm: tự khắc phục và chuyển giao rủi ro.
6
1.2 Quản trị rủi ro thị trường của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm rủi ro thị trường của NHTM
Rủi ro thị trường (RRTT) là khả năng xảy ra những tổn thất do những biến động bất
lợi về giá trị thị trường của các tài sản của NHTM như Cổ phiếu, trái phiếu, các khoản cho
vay, ngoại hối hay các hợp đồng chứng khoán phái sinh. Những biến động này chủ yếu
phát sinh từ sự thay đổi không dự tính được từ các yếu tố gây lên rủi ro như: thị trường
chứng khoán, lãi suất, tỷ giá hối đoái hay giá cả hàng hóa.
Trong số các yếu tố gây ra rủi ro thị trường của các tài sản tài chính thì lãi suất là một
trong những yếu tố quan trọng nhất. Hiểu một cách tổng quan nhất thì RRTT là khả năng

Trạng thái
NT cuối
ngày
Ý nghĩa kinh tế
USD 2,000,000 500,000 250,000 2,250,000
Trạng thái ngoại tệ trường
- Lãi khi giá USD tăng
- Lỗ khi giá USD giảm
EUR 1,000,000 500,000 2,000,000 -500,000
Trạng thái ngoại tệ đoản
- Lãi khi giá EUR giảm
- Lỗ khi giá EUR tăng
JPY 15,000,000 15,000,000
Trạng thái ngoại tệ trường
- Lãi khi giá JPY tăng
- Lỗ khi giá JPY giảm
Qua bảng trên ta thấy được rủi ro tỷ giá hối đoái chỉ phát sinh khi ngân hàng duy trì
trạng thái ngoại tệ mở.
Ví dụ 2:
- Tại thời điểm đầu năm ngân hàng A mua USD bằng số tiền 1.000 tỷ VNĐ theo tỷ giá
giao ngay S0 (VNĐ/USD) 15.900, tương đương 62,893 triệu USD.
- Ngân hàng cho một công ty vay 62,893 triệu USD kỳ hạn 1 năm với lãi suất 12%/năm.
- Đến thời điểm hoàn trả sau 1 năm, số tiền thu được cả gốc và lãi là:
62,893 x (1+12%) = 70,440,250 USD
- Cuối năm ngân hàng bán số USD vừa thu được theo tỷ giá S
1
(VNĐ/USD)
Như vậy RRHĐ xảy ra trong trường hợp nếu S
1
<S

Ví dụ, có hai ngân hàng niêm yết tỷ giá kinh doanh VND/USD như sau:
Ngân hàng Mua vào Bán ra
Ngân hàng A 15,667 15,674
Ngân hàng B 15,676 15,679
Ngân hàng sẽ kinh doanh chênh lệch tỷ giá như sau:
Giao dịch USD VND
Mua USD tại ngân hàng A +1 -15,674
Bán USD cho ngân hàng B -1 +15,676
Lãi Arbitrage 0 +2
Tuy nhiên biến động tỷ giá trên thị trường ngoại hối quốc tế là rất lớn với nhiều thiết
bị công nghệ tiên tiến hỗ trợ, cho nên chênh lệch tỷ giá giữa các ngân hàng là rất nhỏ và rất
9
khó có thể kiểm lời từ hoạt động kinh doanh này.
- Rủi ro ngoại hối phát sinh khi ngân hàng tiến hành kinh doanh chênh lệch tỷ giá
mua vào và bán ra: Do tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra, nên chênh lệch
tỷ giá mua bán chính là thu nhập của ngân hàng. Về thực chất, trong giao dịch này, ngân
hàng đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ mua hộ, bán hộ cho khách hàng, nên không chịu
RRHĐ và không cần bỏ vốn.
Qua phân tích cho thấy, nhà kinh doanh ngoại hối chỉ chịu RRHĐ khi duy trì trạng
thái ngoại hối mở (open position). Tất cả các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền
sở hữu về ngoại tệ (hiện tại và tương lai) đều tạo ra trạng thái ngoại tệ, trong đó thông qua
giao dịch mua bán là chủ yếu. Đối với mỗi ngoại tệ, tại một thời điểm, nếu tổng TSC lớn
hơn tổng TSN (nội và ngoại bảng) thì ngoại tệ đó ở trạng thái trường. Khi đồng tiền này
lên giá làm phát sinh lãi ngoại hối; và ngược lại, khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát sinh lỗ
ngoại hối. Nếu tổng TSC nhỏ hơn tổng TSN, thì ngoại tệ đó ở trạng thái đoản. Khi đồng
tiền này lên giá làm phát sinh lỗ ngoại hối; và ngược lại, khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát
sinh lãi ngoại hối.
Ngoài ra, nếu ngân hàng đầu cơ kinh doanh ngoại hối trên thị trường ngoại hối quốc
tế thì phải tạo trạng thái và lợi dụng sự biến động liên tục của tỷ giá các loại đồng tiền để
kiếm lời. Như vậy nguồn phát sinh RRHĐ cũng bắt nguồn từ việc mở rộng trạng thái giao

sau đó được tài trợ bằng các tài sản nợ có lãi suất cao hơn trong thời hạn còn lại có thể làm
giảm các nguồn lực của ngân hàng.
b. Nguồn phát sinh rủi ro lãi suất đối với các NHTM
Như đã nêu ở phần trên, RRLS xuất hiện khi có sự thay đổi lãi suất thị trường hoặc
những yếu có liên quan đến lãi suất, dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của
ngân hàng. RRLS xuất hiện khi có sự không cân xứng về kỳ hạn giữa TSC và TSN.
NHTM áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và cho vay.
Trường hợp ngân hàng huy động vốn với LSCĐ nhưng cho vay, đầu tư với LSBĐ: khi lãi
suất giảm, RRLS sẽ xuất hiện vì chi phí lãi phải trả lớn hơn lãi thu được, làm giảm lợi
nhuận. Ngược lại, khi ngân hàng huy động vốn với LSBĐ nhưng cho vay, đầu tư với
11
LSCĐ: khi lãi suất tăng, RRLS sẽ xuất hiện vì chi phí lãi phải trả lớn hơn lãi thu được.
Mặt khác, RRLS cũng phát sinh do có sự không phù hợp về khối lượng, thời hạn giữa
nguồn vốn huy động với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay. Bên cạnh đó, tỷ lệ lạm
phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế làm cho vốn của ngân hàng không
được bảo toàn sau khi cho vay cũng là một nguồn phát sinh RRLS. Ngoài ra, khi lãi suất
thị trường thay đổi, ngân hàng còn có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản. Khi RRLS xuất
hiện sẽ làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân hàng; giảm thu nhập từ tài sản của ngân hàng,
làm giảm giá thị trường của TSC và vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Như vậy, RRLS đối với NHTM phát sinh từ 2 nguồn chính:
- Thứ nhất là sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn vốn và tài sản được đo bằng khe
hở lãi suất:
"Khe hở lãi suất" = "Tài sản nhạy cảm lãi suất" - "Nguồn vốn nhạy cảm lãi suất"
Các tài sản và nguồn nhạy cảm thường là các loại mà số dư nhanh chóng được
chuyển sang áp dụng lãi suất mới khi lãi suất thị trường thay đổi có lợi; ví dụ như các
khoản tiền gửi ngắn hạn, các khoản cho vay và đi vay trên thị trường liên ngân hàng,
chứng khoán ngắn hạn của chính phủ, các khoản cho vay ngắn hạn… Các loại ít nhạy cảm
như tài sản và nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất cố định. Ví dụ, một khoản tiền gửi
tiết kiệm 3 tháng (100 tỷ VND) với lãi suất 10%/năm. Khi lãi suất thị trường thay đổi tăng
hoặc giảm, thì khoản tiền này (100 tỷ VNĐ) sẽ nhanh chóng chuyển sang áp dụng lãi suất

trường là do khách hàng đi vày và gửi tiền quyết định. Thứ hai, sự thay đổi của các lãi suất
rất khác nhau và mức độ nhạy cảm của nguồn và tài sản đối với lãi suất cũng khác nhau.
Thứ ba, sự khác biệt về nguồn và tài sản nhạy cảm có thể tạo thu nhập cao hơn cho ngân
hàng, bởi lẽ khi ngân hàng duy trì khe hở nhạy cảm khác 0, nếu lãi suất thay đổi theo
hướng phù hợp thì thu nhập của ngân hàng sẽ tăng. Giả sử lãi suất thay đổi với mức độ nào
đó không có lợi cho ngân hàng, mức độ giảm thu nhập từ lãi của ngân hàng sẽ tỷ lệ thuận
với quy mô khe hở lãi suất.
- Mức độ thay đổi của lãi suất thị trường: cũng ảnh hưởng đến quy mô RRLS. Trong
13
trường hợp ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương, tức la ngân hàng dự đoán sẽ lãi suất
tăng; nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm cùng tăng như nhau, ngân hàng sẽ có lợi.
Ngược lại, nếu chúng giảm xuống cùng mức độ, chênh lệch lãi suất của ngân hàng sẽ giảm
làm giảm thu nhập từ lãi suất. Trong trường hợp ngân hàng đang duy trì khe hở lãi suất âm
tức là ngân hàng dự đoán lãi suất sẽ giảm. Nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm lại tăng
với cùng mức độ, chênh lệch lãi suất của ngân hàng sẽ giảm, làm giảm thu nhập từ lãi suất.
Như vậy trạng thái tài sản và nguồn (tạo nên khe hở lãi suất) không phải là yếu tố duy
nhất gây nên RRLS. Trạng thái trên kết hợp với sự thay đổi lãi suất ngoài mong muốn của
nhà quản lý ngân hàng sẽ gây nên RRLS. Do khả năng dự đoán biến động lãi suất là có hạn
trước những thay đổi của môi trường kinh doanh, khe hở lãi suất trở thành yếu tố đo RRLS
tiềm năng. Nếu khe hở lãi suất càng lớn thì rủi ro cũng càng lớn.
Ví dụ: Một ngân hàng đang có trạng thái nhạy cảm với lãi suất như sau (số dư bình
quân trong kỳ, đơn vị tỷ động, lãi suất bình quân % kỳ):
Tài sản Số dư Lãi suất Nguồn Số dư Lãi suất
Tài sản nhạy cảm 80 5 Nguồn nhạy cảm 120 4
Tài sản kém nhạy cảm 120 7 Nguồn kém nhạy cảm 80 6
Chênh lệch lãi suất của ngân hàng trong kỳ:
(80x5% + 120x7% - 120x4% - 80x6%) x100
=1,4%
200
Nếu lãi suất của thị trường tăng thêm 1%, chênh lệch lãi suất của ngân hàng:

Tài sản nhạy cảm 80 Nguồn nhạy cảm 120 4
Trong đó: Trong đó:
- CK ngắn hạn 20 4 - Tiền gửi thanh toán 30 3
- Tiền gửi tại các NH 10 2 - Tiền gửi có kỳ hạn 30 4
- Cho vay ngắn hạn 50 6 - Tiết kiệm ngắn hạn 60 5
Tài sản kém nhạy cảm 120 7 Nguồn kém nhạy cảm 80 6
Hiện tại, chênh lệch thu chi từ lãi của ngân hàng là:
20x4%+10x2%+50x6%+120x7T-30x3%-30x4%-60x5%-80x6% = 2,5
Chênh lệch lãi suất của ngân hàng là: (2,5x100)/200 = 1,25%
Khi lãi suất tăng cùng mức độ, do khe hở lãi suất âm, thu nhập từ lãi sẽ giảm. Song
nếu mức lãi suất thay đổi không giống nhau thì tổn thất có thể rất lớn, hoặc ngược lại ngân
hàng có thể được lợi.
Giả sử lãi suất thị trường dự tính thay đổi như sau: chứng khoán ngắn hạn tăng thêm
0,3%; tiền gửi tại các ngân hàng tăng thêm 0,2%; cho vay ngắn hạn tăng thêm 0,8%; tiền
thanh toán tăng thêm 0,3%; tiền gửi có kỳ hạn ngắn tăng thêm 0,6%; tiền gửi tiết kiệm
ngắn tăng thêm 0,9%. Vậy chênh lệch thu chi từ lãi suất dự tính trong kỳ tới của ngân hàng
là:
20x4,3%+10x2,2%+50x6,8%+120x7%-30x3,3%-30x4,6%-60x5,9%-80x6% = 2,17
15
Chênh lệch lãi suất dự tính của ngân hàng là: (2,17 x 100)/200 = 1,085%.
- Mức độ nhạy cảm lãi suất: Kỳ hạn nguồn và tài sản quyết định độ lớn của khe hở lãi
suất. Để đơn giản, ta giả định các tài sản và nguồn ngắn hạn (từ 12 tháng trở xuống) là
nhạy cảm lãi suất (mức độ nhạy cảm như nhau). Tuy nhiên, trên thực tế các kỳ hạn khác
nhau sẽ có mức nhạy cảm khác nhau. Tiền gửi tại NHNN, tiền gửi thanh toán là tài sản và
nguồn có mức độ nhạy cảm lớn nhất. Tiền gửi tiết kiệm 9 tháng (sau 9 tháng mới định giá
lại) có mức độ nhạy cảm thấp hơn tiền tiết kiệm loại 12 tháng. Nguồn 12 có thể chuyển
thành tài sản kỳ hạn 2 tháng và 24 tháng để tạo ra khe hở lãi suất bằng 0. Khi lãi suất thay
đổi trong một khoảng thời gian dự tính, tỷ lệ các tài sản và nguồn nhạy cảm được định giá
lại cũng khác nhau. Nguồn và TSC kỳ hạn trên 1 năm với lãi suất cố định được coi là kém
nhạy cảm với lãi suất. Song mức độ nhạy cảm của mỗi loại cũng khác nhau và đều có tác

- Các chỉ tiêu thanh khoản: là các giá trị được xác định để phản ánh khả năng thanh
khoản của ngân hàng theo từng tiêu chí như tài sản có tính thanh khoản cao, các khoản đầu
tư vào tài sản có tính thanh khoản kém… Trong hoạt động ngân hàng các chỉ tiêu thanh
khoản gồm có 6 loại sau:
+ Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ: Dùng để đánh giá tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản
cao nhất trong tổng tài sản của ngân hàng.
+ Chỉ tiêu hệ số về năng lực: Đánh giá phần tài sản được phân bổ vào những tài sản
có tính thanh khoản kém nhất;
+ Chỉ tiêu cho vay cho thuê ròng với tổng tiền gửi: Đánh giá phần tiền gửi được đầu
tư vào những tài sản kém tính thanh khoản nhất;
+ Chỉ tiêu đầu tư ngắn hạn so với tài sản tính sinh lời cao dài hạn: Đánh giá các tài
sản có tính thanh khoản cao, được sử dụng ngay để bù đắp cho những tài sản sinh lời dài
hạn;
+ Chỉ tiêu hệ số tiền nóng: so sánh TSC trên thị trường tiền tệ (giấy tờ có giá ngắn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status