Đề tài: Sinh sản của động vật có xương sống doc - Pdf 11

Sinh học phát triển cá thể động vật
MỤC LỤC
Phần I. Đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Mục đích- nội dung nghiên cứu 2
3. Phương pháp nghiên cứu 2
Phần II. Nội dung
1. Lớp cá miệng tròn 3
2. Lớp cá sụn 3
3. Lớp cá xương 5
3.1. Cấu tạo cơ quan sinh sản 5
3.2. Tập tính sinh sản 7
4. Lớp lưỡng cư 8
4.1. Cấu tạo cơ quan sinh sản 8
4.2. Tập tính sinh sản 11
5. Lớp bò sát 15
5.1. Cấu tạo cơ quan sinh sản 15
5.2. Tập tính sinh sản 17
6. Lớp chim 19
6.1. Cấu tạo cơ quan sinh sản 19
6.2. Tập tính sinh sản 20
7. Lớp thú 23
7.1. Cấu tạo cơ quan sinh sản 23
7.2. Tập tính sinh sản 26
Phần III. Kết luận và đề nghị
Tài liệu tham khảo
Phạm văn thương –k 20 động vật học
1
Sinh học phát triển cá thể động vật
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.

1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục
Phân tính. tuyến sinh dục chỉ có một buồng trứng hay một tinh hoàn,
không có ống dẫn. Trứng và tinh trùng lọt qua vết nứt thành tuyến vào thể
xoang, qua lỗ sinh dục vào xoang niệu sinh dục rồi ra ngoài. thụ tinh trong
nước.
.
- Tuyến sinh dục đực
Tuyến sinh dục con đực là tinh hoàn. Tinh trùng lọt qua thành cơ thể
vào xoang niệu sinh dục rồi ra ngoài. Sự thụ tinh thực hiện trong môi trường
nước.
- Tuyến sinh dục cái
Tuyến sinh dục cái là một buồng trứng được treo ở mặt lưng xoang
bụng nhờ màng bụng, không có ống dẫn trứng. Trứng chín lọt qua vết nứt
của thành tuyến vào thể xoang, rồi tập trung trong xoang niệu sinh dục trước
khi ra ngoài.
2. Lớp Cá sụn (Chondrichthyes)
2.1. Cấu tạo cơ quan sinh sản.
Gồm một đôi tuyến nằm ở phần lưng của xoang cơ thể. Cá sụn có cơ
quan giao cấu ( hình 6 ) nên trứng được thụ tinh trong ống dẫn trứng. Phân
tính và thụ tinh trong. Đẻ trứng lớn giàu noãn hoàng hay đẻ con.
Phạm văn thương –k 20 động vật học
3
Sinh học phát triển cá thể động vật
Hình 6: Cơ quan giao cấu của cá sụn
- Tuyến sinh dục đực
Con đực có một đôi tinh hoàn, đôi tinh quản (tương ứng với ống
Vonphơ) thông với xoang niệu sinh dục. Phần trên của tinh quản có uốn
khúc, tương ứng với phó tinh quản, phía dưới tinh quản phình rộng thành túi
tinh. Con đực có 2 gai giao cấu nằm ở mặt trong của vây bụng. Gai giao cấu
được hình thành nhờ sự biến đổi của cơ gân ở gốc vây bụng ( Hình 7A).

bao cơ quan sinh dục. Như vậy ống dẫn sinh dục ở cá xương được hình
thành riêng biệt không liên quan đến ống Muller và ống Wolff.
Trứng đoạn hoàng. Ấu trùng có sự sai khác hình dạng với trưởng thành.
Phạm văn thương –k 20 động vật học
5
Sinh học phát triển cá thể động vật
- Tuyến sinh dục đực
Con đực có 2 dịch hoàn hình dải, dài; màu trắng đục, phân thành các
thuỳ con. Phần cuối tinh hoàn có ống dẫn tinh ngắn, hai ống dẫn nhập làm
một đổ vào xoang niệu sinh dục.
- Tuyến sinh dục cái
Con cái có 2 buồng trứng màu trắng - vàng. Hai ống dẫn trứng ngắn
nhập với nhau rồi đổ vào xoang niệu sinh dục hay vào huyệt hoặc đổ ra
huyệt sinh dục riêng biệt.
Hệ niệu sinh dục của cá có sai khác nhau đối với cá xương và cá phổi:
Ở cá phổi, ống dẫn sinh dục do ống Volff và ống Muller biến đổi thành. Ở
con cái ống Muller thành ống dẫn trứng, ở con đực, ống Volff thành ống dẫn
tinh. Ở các xương ống dẫn sinh dục không liên quan gì đến ống Volff hay
Muler, mà được hình thành mới, ống Wolff làm nhiệm vụ dẫn niệu ở cả cá
đực và cái.
Phạm văn thương –k 20 động vật học
6
Sinh học phát triển cá thể động vật
- Cấu tạo trứng
Có 2 loại trứng là trứng nổi và trứng chìm. Trứng nổi có kích thước nhỏ
hơn, có giọt mỡ lớn làm phao, trứng cìm có màng dính để trứng bám vào đá,
cây thủy sinh hay gắn với nhau thành đám.
3.2. Tập tính sinh sản
- Tập tính đẻ trứng và nuôi con
Ở một số loài cá như cá hồi tá hồi sống trong môi trường "nước động".

mẹ ăn cả thịt những con cá con khác đã tách đàn.
4. Lớp Lưỡng cư (Amphibia)
4.1. Đặc điểm về cơ quan sinh sản
Ðặc điểm cấu tạo hệ sinh dục thể hiện sự thích nghi với đời sống nửa
nước, nửa cạn.
Cá thể đực có một đôi tinh hoàn. Sản phẩm sinh dục đổ chung với ống
dẫn niệu. Cá thể cái có buồng trứng, ống dẫn trứng. Lỗ sinh dục, lỗ bài tiết
và lỗ hậu môn đều đổ vào huyệt.Thụ tinh ngoài
Hình 10: Nội quan ếch
(Đào Văn Tiến, 1977)
1.Tim 2.Phổi 3.Gan 4.Túi mật
5.Dạ dày 6.Tuyến tuỵ 7.Ruột tá
8.Ruột non 9.Ruột thẳng 10.Lách
11.Huyệt 12.Bóng đái 13. Thận
14. Ống dẫn niệu 15. Ống dẫn
trứng phải 16.Thể mở 17.Buồng
trứng phải 18.Tử cung 19. Động
mạch chủ lưng 20.Tĩnh mạch chính
sau 21. Động mạch cảnh 22.Cung
động mạch chủ trái 23. Động mạch
phổi
Phạm văn thương –k 20 động vật học
8
Sinh học phát triển cá thể động vật
Hình 11: Hệ bài tiết và sinh dục ếch (Đào Văn Tiến, 1977)
A. Ếch đực: 1.Tinh hoàn 2.Thể mở 3.Thận 4. Ống dẫn niệu 5.Túi tinh
6.Huyệt 7.Bóng đái 8.Tĩnh mạch chủ sau 9. Ống dẫn tinh 10.Tuyến trên
thận
B. Ếch cái: 1.Phễu ống dẫn trứng 2. Ống dẫn trứng 3.Tử cung 4.Huyệt
5.Bóng đái 6.Buồng trứng phải 7.Thận 8.Thể mở

này ông Wolff chủ yếu đóng vai trò dẫn tinh.
Ở họ cóc ( Bufonidae ) phía trên tinh hoàn có một cơ quan hình thuỳ
gọi là cơ quan Bidder ( hình ) Cơ quan này phát triển thành buồn trứng nếu
cắt bỏ đi tinh hoàn ở con đực. Và buồng trứng phát triển cho trứng. Trứng
thụ tinh sẽ phát triển thành nòng nọc. Người ta gọi trường hợp cóc đực này
là lưỡng tính có hiệu lực.
Hiện tượng lưỡng tính ở cóc đực là do hoocmon của tuyến gian bào của
tinh hoàn tiết ra đã ức chế sự phát triển của buồng trứng.
Bộ phận giao cấu của lưỡng cư không chân. Dây chỉ là một bộ phận do
xoang huyệt lồi ra mà thành. Trên bộ phận giao cấu tuy không có rãnh dãn
tinh song thực sự nó là một bộ phận giao phối chính thức, cũng như rường
hợp bộ phận giao cấu xoang huyệt lộn nên thò ra ngoài ở cá thể đực giống
Phạm văn thương –k 20 động vật học
10
Sinh học phát triển cá thể động vật
ếch đuôi (Ascaphus ) ở Bắc Mỹ, nhờ đó mà lưỡng cư không chân và ếch
đuôi thụ tinh trong.
- Tuyến sinh dục cái ( Hình 11 B )
Con cái có hai buồng trứng hình túi dạng hạt. Trên bề mặt có nhiều hạt
màu đen trắng. Đó chính là trứng ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Khi
chứa đầy trứng chiếm khối lượng gần hết khoang bụng. Hình dạng buồng
trứng thay đổi tuỳ loài, từng nhóm lưõng thê. Điển hình như dài và dẹp của
ếch giun, ngắn và dẹp ( cá cóc), ngắn và rộng như ngễnh ngoé. Buồng trứng
của cá cóc có một khoang, còn ếch gồm nhiều túi có nhiều khoang. Phía trên
buồng trứng cũng có thể mỡ mà hình dáng thay đổi theo loài và có cỡ lớn
thay đổi theo mùa cũng giống như thể mỡ của tuyến sinh dục ếch đực.
Ống dẫn trứng là ống Muller có thành dày, dài và có nhiều khúc rõ
ràng. Đầu ống có loa kèn để hứng trứng gần gốc phổi, gần với bao tim và
đầu dưới thông với huyệt. Khi chín trứng rơi qua phần nứt của thành tuyến
rơi vào xoang cơ thể rồi vào ống dẫn. Nhằm tăng khả năng hút trứng trong

đực có cổ họng màu đỏ gạch, nhái bén nhỏ có đùi trong màu đỏ. Sagiong núi
Anpơ( Triturus Cristatus) xuất hiện một nếp gấp da ở lưng. Ở góc ngón tay
cái hoặc ở trên ống tay cá thể đực lưỡng cư không đuôi thường có mấu da
hóa sừng- chai sinh dục.
Màu sắc rực rỡ của bộ áo cưới, hình thù đặc biệt của con đực có thể có
tác dụng kích thích con cái đẻ trứng. Chai sinh dục mọc ở gốc ngón tay cái
con đực có thể coi như cái mấu giúp cho nó ôm con cái chặt hơn khi ghép
đôi. Đặc điểm hình thái khác biệt giữa con đực và con cái cũng có thể là dấu
hiệu để lựa chọn đối tượng giao cấu, tránh tình trạng nhầm lẫn.
4.2.2. Tập tính kết đôi
Đầu mùa hạ, ngay sau những cơn mưa lớn, vào ban đêm, ta thường
nghe thấy tiếng ếch kêu. Đó là tiếng kêu của ếch đực gọi ếch cái. Chúng gặp
nhau để giao phối. ếch cái đẻ trứng xuống nước tạo thành những chùm nổi
lềnh bềnh trên mặt nước. Trứng ếch đã được thụ tinh nở ra nòng nọc, nòng
nọc phát triển thành ếch.
Giao hoan là hành động cuối cùng của chuổi hoạt động tập tính hôn
phối. Ở tất ccả các nhóm ếch nhái giao hoan đều giống nhau và được kết
thúc bởi sự phóng tinh của con đực, thụ tinh cho trứng. Các loài lưỡng cư
khác nhau có biểu hiện tập tính sinh sản khác nhau. Ví dụ lưỡng cư không
đuôi, con đực ôm chặt con cái vào nách hay hông. Tiếp đến là con cái đẻ
trứng, rồi con đực tưới tinh để thụ tinh cho trứng. Ở cá cóc Tam Đảo chẳng
hạn, sau một loạt các hoạt động hôn phối, con đực và cái cuốn đuôi vào
nhau, rồi phóng tinh.
Hiện tượng ghép đôi có ý nghĩa sinh học quan trọng, giúp cho con cái
đẻ trứng bình thường. Đối với lưỡng cư không đuôi, sự giao cấu tạo điều
kiện cho sự phóng trứng và tinh trùng đúng lúc, tỉ lệ trứng được thụ tinh cao
hơn.
Trong mùa sinh dục, phản xạ ghép đôi biểu hiện rất mạnh mẽ, làm
chúng rất say, có khi không rời nhau ngay cả khi có vật va chạm vào cơ thể.
Nhiều khi gặp một vật tròn to vừa một ôm taycũng có thể gây phản xạ giao

Trứng lưỡng cư có độ lớn khác nhau nhiều. Trứng ếch, ngóe, cóc có
đường kính 0,8-1,7 mm ( không kể màng nhầy), trứng cá cóc Tam Đảo và
Phạm văn thương –k 20 động vật học
13
Sinh học phát triển cá thể động vật
ếch trơn có đường kính 3mm. Tuy nhiên, cũng có một số loài trứng lớn 5-
6mm, nếu cả màng nhầy thì lớn tới 18-22mm.s
Đối với lưỡng cư không đuôi, trứng thường đẻ vào trong nước và gắn
với nhau thành đám lớn không đều ( ếch, ngóe, nhái bàu) hoặc gắn với nhau
thành khối tròn (nhái bén) hoặc xếp thành dải dài hang mét ( cóc nhà), rời
rạc hoặc gắn với nhau thành đám nhỏ trong nước ( cóc tía).

Đa số lưỡng cư đẻ trứng trong nước. Ví dụ nhái bám đẻ trứng vào lá
cây bờ rào quanh nhà. Trong khi đẻ con vật tiết chất nhầy bao quanh đám
trứng và dùng chân sau đánh sủi lên thành khối bọt rồi bỏ đi. Nhái bám cũng
làm tổ bọt như vậy trong hốc cây. Khối bọt lúc đầu có màu trắng, sau
chuyển sang màu nâu nhạt và rắn lại. khi nở thành nòng nọc, khối bọt hóa
lỏng và nòng nọc quẩy khỏi bọt rơi xuống nước. Nhái bén làm tổ ở bờ vực
nước để đẻ trứng nòng nọc biến thái ngay trong tổ này. Nhái lá trong khi đẻ
trứng ở một lá cây trên mặt nước di chuyển chậm từ ngọn tới cuống lá và
cuốn thành cái ống chứa trứng. Nòng nọc nở ra lọt qua lỗ ống rơi xuống
nước. Cóc gai mắt đẻ trứng vào đất ẩm, trứng phát triển trực tiếp thành con
giống hệt cóc mẹ.
Ở lưỡng cư đã có nhiều biểu hiện tập tính chăm sóc trứng và con non
phong phú và rất đặc thù.
Các loài khác nhau có mức độ chăm sóc trứng khác nhau.Ở ếch trun
đẻ 12 trứng làm thành một chum, rồi con mẹ quấn chặt lấy để bảo vệ. Một số
loài có hiện tượng canh trứng: cá cóc mù và cá cóc khổng lồ đực luôn ở gần
đám trứng đề phòng cá dữ. Nhái bám ( Rhacophorus microtympamun), con
cái nằm gần tổ để canh trứng. Nhiều loài ở vùng nhiệt đới có hiện tượngs

thành mào tinh hoàn hay phó tinh hoàn – epiđiymds. Tiếp đó là tinh quản là
ống Volff đổ vào niệu quản mỗi bên gần nơi thông với huyệt.
Phạm văn thương –k 20 động vật học
15
Sinh học phát triển cá thể động vật
Trừ Hatteria tất cả bò sát đều có cơ quan giao cấu (có thể có một hoặc
hai). Cơ quan giao cấu có 2 loại: Ngọc hành kép ( hemipenis ) có ở thằn lằn
và rắn, khi giao phối chỉ có một ngọc hành cắm vào huyệt sinh dục của con
cái,. Đó là hai túí rỗng nằm dưới da phía trước hai bên bờ huyệt ( cơ quan
giao cấu kép). Ngọc hành rắn dài hơn ngọc hành thằn lằn và bề mặt có phủ
gai hay mấu.Trong cơ quan giao cấu có nhiều mạch máu, có rãnh để dẫn tinh
và chúng có thể thò ra ngoài thành hình trụ khi bị kích thích.
Ngọc hành đơn có ở rùa, cá sấu. Ở cá sấu ngọc hành còn hình thành quy
đầu như ở thú. Đó là gốc xẻ làm hai nửa và mặt trên có rãnh dẫn tinh dịch.
Đối với loài có cơ quan giao cấu kép, tuỳ theo tư thế của con vật mà một
hay hai ngọc hành cắm vào huyệt con cái .
- Tuyến sinh dục cái
Tuyến sinh dục cái là hai buồng trứng có kích thước khác nhau. Buồng
trứng của thằn lằn và rắn dạng túi rỗng như ở cá, còn của rùa và cá sấu thì
đặc như chim, thú. Kích thước của buồng trứng phụ thuộc vào độ lớn cơ thể
từng loài bò sát. buồng trứng của chuỷ đầu, rùa, cá sấu thường rộng và có vị
trí đối xứng. buồng trứng của thằn lằn hẹp, dài, và xếp so le. Buồng trứng
phải của rắn có vị trí cao hơn buồng trứng trái
Các trứng trong buồng trứng của bò sát chín cùng một lúc làm căng
phình khoang bụng trong mùa sinh sản, ảnh hưởng đến sự vận chuyển của
cơ thể.
Ống dẫn trứng gồm hai ống rỗng, là ống Munle có thành mỏng và dài,
một đầu thông với phần trước khoang bụng có loa kèn để nhận trứng, đầu
kia thông với phần sau sau là huyệt. Riêng Hatteria, rùa, cá sấu ống dẫn
trứng phân hoá thành nhiều phần như : phần phễu hay loa kèn ( hút trứng )

dựa chủ yếu vào thị giác để phát hiện đối tượng và dựa vào khứu giác để
nhận biết giới (trừ thằn lằn). Tuyến huyệt của rắn cái tỏa ra một mùi theo
chu kì rụng trứng để thu hút rắn đực. Sự nhận biết đực, cái còn được thể hiện
ở những động tác của con đực khi gặp nhau trong mùa sinh sản. Sau những
động tác đó thường dânc đến những trận đấu kịch liệt và kẻ thắng trận sẽ
chiếm được con cái. Ví dụ, giống nhông trông màu sinh sản xảy ra sự giao
Phạm văn thương –k 20 động vật học
17
Sinh học phát triển cá thể động vật
tranh giữa các con đực cùng với sự biến đổi nhanh chóng màu sắc của
chúng. Sau trận đấu, con đực thắng trận trong bộ áo cưới lộng lẫy đến bên
con cái, đứng thẳng trên hai chân sau, miệng mở to và khép lại nhịp nhàng
trước khi giao phối.
5.2.2. Tập tính ấp trứng và chăm sóc con
Chăm sóc trứng và con non là một biểu hiện tập tính quan trọng của động
vật, trong đó có một số nhóm bò sát.
Hiện tượng chăm sóc trứng có mức độ khác nhau tùy loài. Một số loài đẻ
trứng ở nơi kín đáo (hang, hóc) như thạch sùng, kì đà sau khi đẻ xong thì bỏ
đi. Tuy nhiên, một số loài khác lại có hiện tượng canh giữ trứng : cá sấu nằm
trong hố cách tổ khoảng 1m, rồng đất nằm kề bên tổ để canh trứng. Rắn hổ
mang, rắn cạp nong thường nằm cuộn lấy trứng để bảo vệ. Tò te cũng vậy,
sau khi đào một hố nhỏ trong cát, đẻ khoảng 15-30 trứng, phủ cát che kín rồi
nấp ở gần trứng để canh. Một số ít bò sát ấp trứng thực sự như trăn, rắn, hổ
mang, rắn cạp nong, cạp nia. Sau khi đẻ trứng chúng thường lấy thân quấn
tròn đám trứng để ủ.
Một số thằn lằn còn chăm sóc trứng chu đáo hơn. Không những chúng
canh giữ trứng cho tới khi trứng nở, mà còn xếp lại trứng, thỉnh thoảng phơi
thân ra nắng lấy thêm nhiệt truyền cho trứng.
Ở một số loài bò sát, có hiện tượng đẻ con. Trong các trường hợp này,
trứng nằm trong ống dẫn trứng một thời gian, phôi tiếp tục phát triển nhờ

thông với một núm niệu sinh dục trong huyệt Trừ một số loài như vịt,
ngan đa số các loài trong lớp chim không có cơ quan giao phối. ủơ ngan,
vịt có một ngọc hành xẻ rãnh như cá sấu do thành huyệt biến đổi thành. Khi
giao cấu thường áp huyệt vào nhau ( hình 19A )
- Tuyến sinh dục cái
Con cái có một buồng trứng và một ống dẫn ở bên trái, buồng trứng và
ống dẫn trứng bên phải tiêu giảm chỉ còn lại dấu tích. Buồng trứng là thể
trạng hạt, có cỡ lớn và thay đổi tuỳ theo mức độ phát triển của trứng.
Ống dẫn trứng là một ống có thành dày uốn khúc.Hình thành nhiều bao
noãn, hình thành số lượng lớn các tế bào noãn, nhưng chỉ có một số ít phát
triển tới giai đoạn thành thục, còn phần lớn teo đi. Sau khi bao noãn chín,
noãn bào lọt xuống ống dẫn trứng và bao noãn thoái hoá. Khi trứng chín rơi
vào noãn quản đi ra huyệt. Noãn quản (ống Muller) là một ống dài ngoằn
nghèo bắt đầu từ một phễu rỗ và đầu kia thông với lỗ huyệt. Có thể chia ống
Phạm văn thương –k 20 động vật học
19
Sinh học phát triển cá thể động vật
dẫn trứng thành ba phần chức năng khác nhau: Phần gồm loa kèn là ống
Fanlốp có nhiều tuyến và nếp để sinh lòng trắng, đầu trên ống này có loa kèn
thông với thể xoang ; phần giữa dài là tuyến vỏ tiết các chất hình thành vỏ
trứng ( kể cả lòng trắng ); phần cuối rộng và có thành mỏng gọi là tử cung
thông với âm đạo hẹp đổ ra huyệt. (hình 19B).
- Cấu tạo trứng
Trứng chín rụng khỏi buồng vào phễu của ống dẫn trứng. Lúc này trứng
chỉ có lòng đỏ, phía sau hình thành một đĩa nhỏ được gọi là "sẹo trứng" gồm
nguyên sinh chất và hạt nhân. Khi lọt vào ống Fanlốp, nếu gặp tinh trùng thì
sẽ thụ tinh và được bọc lòng trắng, tiếp tục di chuyển đến tử cung, được bọc
thêm 2 lớp vỏ mỏng và một lớp vỏ dày ở ngoài. Lớp vỏ ngoài thấm thêm
canxi và cứng lại, có nhiều lỗ để tham gia trao đổi khí. Phía đầu to của trứng,
hai vỏ mỏng tách nhau ra, hình thành nên buồng khí. Hai cực của lòng đỏ có

- Giai đoạn 1 : Bắt đầu vào mùa xuân, tiết trời nắng ấm và ngày dài đã
kích thích tuyến sinh dục tiết hocmon sinh dục đực và cái.
- Giai đoạn 2 : Đặc trưng bởi tác động của hocmon androgen tiết từ tinh
hoàn của con trống, khiến nó có các hoạt động khoe mẽ, tán tỉnh và dẫn dụ
con cái. Và từ đó chim trống đã kích thích sự tiết hocmon oestrogen ở con
mái .
- Giai đoạn 3 : Hoạt động chuẩn bị tổ cho trứng và con non của đôi chim.
Buồng trứng và tế bào trứng ở chim phát triển mạnh.
- Giai đoạn 4 : Bắt đầu bằng sự rụng lông dưới tác động của các loại
hocmon sinh dục cái để lộ vùng ấp ở ngực con mái. Đây là vùng rất nhạy
cảm giúp chim tiếp nhận các kích thích tinh tế.
- Giai đoạn 5 : Quá trình giao phối
- Giai đoạn 6 : Quá trình giãn nở các mạch máu dưới da của vùng ấp, các
hocmon sinh dục kích thích mạnh lên ống dẫn trứng, để chuẩn bj cho con
mái đẻ.
- Giai đoạn 7 : Sự tăng mạnh của các loài kích thích, để cơ thể con mái
bắt đầu rụng trứng và trứng phát triển.
- Giai đoạn 8 : Sự đẻ trứng của con mái, kết thúc hoạt động tập tính ghép
đôi và sinh sản.
6.2.2. Tập tính ấp trứng và nuôi con
Tập tính sinh sản của chim, trong đó tập tính ấp ủ trứng và chăm sóc con
non đã được khảo sát và nghiên cứu nhiều. Khi quan sát tập tính ấp ủ trứng ở
một số loài chim mòng biển, các nhà nghiên cứu Hà Lan đã thấy rằng : hình
dạng, kích cỡ và màu sắc của trứng có ý nghĩa kích thích lên thị giác, để tạo
nên tập tính ấp trứng. Chim có xu hướng chọn ấp những quả trứng có kích
cỡ to, thậm chí có thể to hơn trứng của bản thân nó. Nếu trứng có cùng kích
cỡ, thì chim lại có xu hướng chọn những quả có hoa văn, có màu sắc lốm
đốm chứ không phải trắng tuyền và có hình dạng tròn đều chứ không vuông
vức hay sắc cạnh.
Ở nhiều loài gia cầm đã được thuần hóa và chọn lọc ở điều kiện nuôi

đẻ vào tổ chim khác nhờ ấp và nuôi con hộ. Đây là hiện tượng ấp nhờ
thường thấy ở một số loài họ chim nhiệt đới như chim sẻ, sáo châu Mĩ ( họ
Icteridae), một vài loài vịt Nam Mĩ. Thể hiện rõ nét hơn cả là ở các loài cu
cu, tu hú.
Sự chăm sóc chim non ở các loài chim đa thê như gà, trĩ và chim đa phu
như cun cút thì chỉ riêng con mái hoặc con trống ấp và nuôi con. Nhưng các
loài chim sống thành đôi thì cả con trống và con mái tham gia chăm sóc con.
Trong vài trường hợp đặc biệt, chăm sóc con non thường do con trống, như
đà điểu Châu Đại Dương. Chim Niệc có hiện tượng chăm sóc con rất kì lạ.
Chim mài ấp trong hốc cây, chim trống lấy nhựa cây trát vào miệng hốc, chỉ
để thò vừa đầu chim. Hằng ngày chim trống đi kiếm mồi mớm cho chim
mái.
Chim bố mẹ luôn lo ấp ủ trứng và bảo vệ con non, chống lại điều kiện bất
lợi của môi trường và kẻ thù ăn mồi. Con bố mẹ luôn giữ sự kín đáo của tổ,
chăm sóc và dọn vệ sinh cho tổ. Chim đầu rìu khi về tổ bao giờ cũng đậu ở
một cành cây xa tổ 10-30m nghe ngóng một lát, không thấy động gì mới bay
vào. Nếu thấy có nguy hiểm ở gần đó nó kêu lên, khi nguy hiểm đã qua đó
nó kêu lên và xông ra tấn công. Những con chim ăn thịt thường lao thẳng
Phạm văn thương –k 20 động vật học
22
Sinh học phát triển cá thể động vật
vào kẻ thù và những con lớn hơn. Khi gặp nguy hiểm, một số loài như gà
gô, vịt lại giả vờ bị thương để nhử kẻ thù ra khỏi khu vực làm tổ. Khi thấy
không còn nguy hiểm đối với đàn con nữa, thì chúng mới bay vụt lên và trở
về tổ một cách lặng lẽ, an toàn.
Ngoài ra, một số loài chim còn che chở cho con khỏi bị nóng lạnh. Một
số chim chống nóng cho con và đôi khi đập còn đập nhẹ đôi cánh quạt mát
cho con. Hầu hết các loài chim đều chống lạnh cho con bằng cách dấu kín
con vào trong bộ lông để sưởi ấm.
Khi chăm chút và mớm mồi cho các con non, thì hình dạng, màu sắc và

Trứng nhỏ, thụ tinh trong và phát triển trong tử cung. Đối với thú cao
thì phôi có liên hệ mật thiết với cơ thể mẹ qua màng phôi là màng ối, màng
đệm, túi niệu tạo thành nhau thai. Nuôi con bằng sữa.
Hình 21: Hệ niệu sinh dục thỏ ( Trần Kiên, 2005)
I. Thỏ đực; II. Thỏ cái; 1,7. Lỗ bẹn; 3. Thành bụng; 5. Tinh nang; 6.
Ống dẫn tinh; 7. Tinh hoàn; 8,16 Tuyến trên thận; 9,14,24. Ống dẫn niệu;
10. Dây treo tinh hoàn; 11, 23. Bóng đái; 12. Tinh hoàn phụ; 13. Ngọc hành;
15. Âm đạo; 18. Buồng trứng; 19. Phễu ống dẫn trứng; 20: Ống dẫn trứng;
21. Ruột thẳng; 22. Tử cung; 25. Âm hộ; 26. Hậu môn.
- Tuyến sinh dục đực
Hệ sinh dục của con đực: Ở con đực có một đôi tinh hoàn hình bầu dục
hay quả lê. Tinh hoàn gắn với phó tinh hoàn hay mào tinh hoàn ( là di tích
của trung thận). Ở gốc đôi ống dẫn tinh có tuyến nang, đôi tuyến bầu dục và
một đôi tuyến tiền liệt với vai trò pha loãng tinh dịch. Ống dẫn niệu sinh
dục con thú đực nằm trong cơ quan giao cấu ( ngọc hành). Tinh hoàn có vị
trí thay đổi, nằm trong xoang bụng hay nằm trong xoang bụng ở thời kỳ đầu,
chỉ lọt xuống hạ nang (bìu) khi ở mùa sinh dục hoặc nằm trong hạ nang. Và
vị trí của nó cũng tuỳ theo loài.
Nằm trong xoang bụng ở thú huyệt, tê giác, voi và cá voi…
Nằm trong xoang bụng và chỉ lọt xuống bìu ( hạ nang) vào mùa sinh sản
như dơi, gậm nhấm… (hình 21)
Thường xuyên nằm trong bìu (đa số các loài thú).
Ống dẫn tinh là Volff. Tinh trùng được đổ vào gốc ống dẫn niệu, từ đó
hình thành nên nên ống dẫn niệu - sinh dục nằm trong cơ quan giao cấu. Cơ
Phạm văn thương –k 20 động vật học
24
Sinh học phát triển cá thể động vật
quan giao cấu (ngọc hành) cấu tạo gồm hai thể nang chứa đầy mạch máu,
làm cho ngọc hành cương lên. Ngoài ra còn có tuyến tiền liệt, tuyến hành có
tác dụng pha loãng tinh dịch, kích thích và bảo vệ tinh trùng, điều hòa những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status