Bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac - Lênin - Pdf 11

Bài giảng “Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
1
Chương mở đầu
NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC - LÊNIN
Chương mở đầu Nhập môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin nhằm giải quyết ba vấn đề thông lệ của một môn học trước khi đi vào các
nội dung cụ thể, đó là: Học cái gì? (đối tượng của môn học); học để làm gì? (mục
đích của môn học); và, cần phải học thế nào để đạt được mục đích đó? (những yêu
cầu về mặt phương pháp của môn học).
Chương này mở đầu bằng việc trình bày khái lược các nội dung trọng
tâm và quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm tạo ra
cái nhìn tổng quát về đối tượng và phạm vi của môn học.
Mục đích của môn học này được xác lập trên cơ sở vị trí của nó trong cấu tạo khung
chương trình thống nhất của 3 môn học Lý luận chính trị dùng cho đối tượng
sinh viên không chuyên sâu các chuyên ngành: Triết học, Kinh tế chính trị học và
Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Yêu cầu của môn học này đề cập những nguyên tắc cơ bản cần phải thực
hiện khi triển khai dạy và học, làm cơ sở chung cho việc xác lập phương pháp,
quy trình cụ thể trong hoạt động dạy và học sao cho có thể đạt được mục đích của
môn học này.
I. KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành
a) Chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học của C.Mác,
Ph.Ăngghen và sự phát triển của V.I.Lênin; là sự kế thừa và phát triển những giá trị
của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thời đại; là khoa học về sự
nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con

là khoa học về giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức
bóc lột, tiến tới giải phóng con người.
2. Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin
a) Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác
Điều kiện kinh tế - xã hội:
Chủ nghĩa Mác ra đời trong những năm 40 của thế kỷ XIX. Trong thời gian
này, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển ở nhiều nước châu Âu, mâu
thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ ra một cách gay Bài
giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
3
gắt. Đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của nền sản xuất với tính chất tư bản
chủ nghĩa của sự chiếm hữu về tư liệu sản xuất và về sản phẩm xã hội. Biểu hiện về
mặt xã hội của mâu thuẫn này chính là sự đối kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp
tư sản. Nhiều cuộc đấu tranh của công nhân đã nổ ra ở Pháp, Đức, Anh, Mỹ.
Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản đã dặt ra yêu cầu bức thiết phải có
lý luận cách mạng thực sự khoa học dẫn đường, đó phải là lý luận khoa học, giải
thích đúng đắn bản chất của chủ nghĩa tư bản, vai trò lịch sử của giai cấp vô sản, triển
vọng của phog trào đấu tranh của giai cấp vô sản và tương lai của xã hội loài người
nói chung. Chủ nghĩa Mác ra đời gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và
trở thành vũ khí lý luận của cuộc đấu tranh đó.
Mặt khác, sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cho phép
khái quát nhiều nguyên lý quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai trò của sản
xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, vai trò của cơ sở
hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng, vai trò của đấu tranh giai cấp trong lịch sử, vai
trò của quần chúng nhân dân trong sự phát triển lịch sử, trên cơ sở đó, Mác đưa ra
những tiên đoán khoa học về khả năng loài người sẽ tiến tới một xã hội tốt đẹp trong
tương lai.
Tiền đề lý luận: Chủ nghĩa Mác có ba nguồn gốc lý luận: Triết học cổ điển
Đức, Kinh tế chính trị học cổ điển Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, trong

mà hạt nhân là quá trình chọn lọc tự nhiên, vén bức màn bí ẩn về sự tiến hóa của các
loài trong tự nhiên. Lý luận tiến hóa sinh vật đã áp dụng quan điểm lịch sử vào lĩnh
vực sinh vật học. Nó luận chứng về quá trình lịch sử của giới hữu cơ, chứng minh
rằng, thực vật, động vật bao gồm cả loài người đều là sản phẩm phát triển của lịch sử.
- Học thuyết tế bào: Học thuyết tế bào do giáo sư M.Slaiđen (Trường Đại học Gana,
Đức) xây dựng năm 1838. Ông cho rằng, tế bào là đơn vị sống cơ bản nhất trong kết
cấu của mọi thực vật. Qúa trình phát dục của thực vật là quá trình hình thành và phát
triển của tế bào. Sau đó, vào năm 1839 giáo sư T.Svannơ (giáo sư phẫu thuật người
của trường Đại học Ruăng, Đức) đã mở rộng học thuyết tế bào từ giới thực vật sang
giới động vật, khiến loài người nhận thức được rằng, tế bào là đơn nguyên kết cấu
chung của mọi cơ thể sinh vật. Những phát hiện nêu trên đã vạch ra quá trình biện
chứng của sự vận động, phát triển, chuyển hóa không ngừng của bản than giới sinh
vật.
b) C.Mác, Ph.Ăngghen với quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác
* Giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác
- Thời gian từ 1842 về trước: C.Mác và Ăngghen là những thanh niên đầy nhiệt tình
và lòng nhân đạo, say mê nghiên cứu triết học, nhưng chưa thoát khỏi lập trường triết Bài
giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
5
học duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng.
- Thời kỳ hình thành triết học Mác diễn ra từ 1842 đến 1848.
+ Bước chuyển từ lập trường triết học duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng sang
lập trường duy vật và chủ nghĩa xã hội khoa học bắt đầu từ khi Mác làm việc tại báo
Sông Ranh từ tháng 5 năm 1842.
+ Năm 1843, sau khi báo Sông Ranh bị đóng cửa, Mác bắt tay viết tác phẩm Phê
phán triết học pháp quyền Hêghen.
+ Từ 1844, C.Mác và Ăngghen cộng tác với nhau từng bước xây dựng triết học duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử.
+ Năm 1844, Mác viết tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844, nói lên vai trò của

tr.628).
* Giai đoạn phát triển chủ nghĩa Mác
- Sau 1848 là thời kỳ C.Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển triết học của mình.
Trong thời kỳ này, C.Mác và Ăngghen tham gia phong trào đấu tranh của giai cấp vô
sản và triết học của các ông trở thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản ở các nước lớn
ở châu Âu và châu Mỹ.
- Từ 1848 đến Công xã Paris năm 1871, C.Mác và Ăngghen viết nhiều tác phẩm để
tổng kết phong trào đấu tranh giai cấp ở Pháp như tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở
Pháp (1848 – 1850), Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapac (1851 – 1852), Cách
mạng và phản cách mạng ở Đức (do Ph.Ăngghen viết 1851 – 1852). Bộ Tư bản cũng
được Mác viết trong thời kỳ này.
- Từ 1871 trở đi, C.Mác và Ăngghen có thêm kinh nghiệm của Công xã Pari. Những
tác phẩm hai ông viết trong thời kỳ này tiếp tục khái quát những kinh nghiệm đấu
tranh của giai cấp công nhân, phát triển ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác và làm
phong phú them những nguyên lý của chủ nghĩa Mác. Mác tiếp tục viết tác phẩm tư
bản, còn Ăngghen viết tác phẩm chống Duhring (1876 – 1878), biện chứng của tự
nhiên (1873 – 1883). Sau khi Mác qua đời năm 1883, Ăngghen hoàn thành việc xuất
bản bộ Tư bản của Mác, đồng thời tiếp tục lãnh đạo phong trào giai cấp công nhân và
viết một số tác phẩm như: Nguồn gốc của gia đình, sở hữu tư nhân và nhà nước
(1884), L.Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1886).
c) V.I Lênin với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử
mới
* Bối cảnh lịch sử mới và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác
- Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã bước sang một giai đoạn mới:
Chủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa đế quốc, là giai đoạn cao của chủ nghĩa tư
bản. Các nước tư bản chia nhau thị trường thế giới và gây ra chiến tranh thế giới 1914
– 1918.Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
7
- Cách mạng vô sản đã trở thành nhiệm vụ trực tiếp.

nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
8
Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết (1918); Bệnh ấu trĩ tả khuynh và
tính tiểu tư sản (1918); bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản (1920); về
chính sách kinh tế mới (1921); về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu (1922).
Đặc biệt, trong chính sách kinh tế mới. Lênin nêu lên tư tưởng về nền kinh tế nhiều
thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
d) Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới
- Chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng
chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới.
Cách mạng tháng Mười mở ra cho nhân loại thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới:
Sau cuộc cách mạng tháng Mười thì chủ nghĩa xã hội từ lý luận đã trở thành thực
tiễn, lịch sử phát triển của xã hội loài người xuất hiện hình thái kinh tế - xã hội mới
đối lập với hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa.
Chiều hướng phát triển chủ yếu, trục chuyển động xuyên suốt của lịch sử từ sau cách
mạng tháng Mười Nga là đấu tranh xóa bỏ trật tự tư bản chủ nghĩa và xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
Từ sau cách mạng Tháng Mười Nga, các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế trở thành lục lượng nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh vì hòa
bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên phạm vi thế giới.
Sau cách mạng tháng mười, cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù cách
mạng xã hội chủ nghĩa, nhiều quốc gia sau khi giành được độc lập dân tộc đã đi theo
con đường xã hội chủ nghĩa.
- Sau khi Lênin qua đời, Đảng Cộng sản Liên Xô và các đảng cộng sản trên thế giới
tiếp tục phát triển chủ nghĩa chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng nó trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa xã hội đã đem lại những thành tựu to lớn ở Liên Xô, đưa nước Nga từ một
nước tư bản lạc hậu thành một trong những nước có công nghiệp và khoa học tiên

Minh cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước ta và trên thế giới trong tình
hình hiện nay.
II. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC
TẬP, NGHIÊN CỨU NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC - LÊNIN
1. Đối tượng và phạm vi học tập, nghiên cứu
Đối tượng học tập, nghiên cứu “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin” là: “Những quan điểm và học thuyết” của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.IBài
giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
10
Lênin trong phạm vi những quan điểm, học thuyết cơ bản nhất thuộc ba bộ phận
cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin.
2. Mục đích và yêu cầu về mặt phương pháp học tập, nghiên cứu
a) Mục đích của việc học tập, nghiên cứu
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là để
xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và vận dụng sáng tạo
những nguyên lý đó trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là để
hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối
cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin để giúp
sinh viên hiểu rõ nền tảng tư tưởng của Đảng.
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là để xây
dựng niềm tin, lý tưởng cho sinh viên.
b) Một số yêu cầu cơ bản về mặt phương pháp học tập, nghiên cứu
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
cần phải theo nguyên tắc thường xuyên gắn kết những quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn của đất nước và thời đại.
- Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

của xã hội loài người.
Việc nắm vững những nội dung cơ bản của thế giới quan và phương pháp
luận triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin chẳng những là điều kiện tiên quyết để
nghiên cứu toàn bộ hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn là để vận
dụng nó một cách sáng tạo trong hoạt động nhận thức khoa học, giải quyết những
vấn đề cấp bách của thực tiễn đất nước và thời đại.

Chương I:
CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNGBài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
12
I. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
1. Vấn đề cơ bản của triết học và sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật với chủ
nghĩa duy duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
a. Ăngghen khái quát vấn đề cơ bản của triết học
Triết học với tư cách là thế giới quan bao gồm vấn đề của rất nhiều lĩnh vực (tự
nhiên, xã hội và tư duy), rất nhiều phương diện (bản thể luận, nhận thức luận, nhân
sinh quan, phương pháp luận), nhưng trong đó có một vấn đề xuyên suốt các lĩnh vực
và phương diện quyết định toàn bộ hệ thống triết học và có tác dụng chi phối với việc
giải quyết các vấn đề triết học, đó chính là vấn đề cơ bản của triết học.
b. Nội dung và ý nghĩa của vấn đề cơ bản của triết học
Trong tác phẩm “L.Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”
Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Vấn đề cơ bản lớn nhất của mọi triết học, đặc biệt là triết học
hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại” (Toàn tập, t21, tr.403).
Trong thế giới có vô vàn hiện tượng nhưng chung quy lại chúng ta chỉ phân làm hai
loại: Một là, những hiện tượng vật chất (tồn tại, tự nhiên). Hai là, những hiện tượng
tinh thần (tư duy, ý thức). Do vậy, vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
được gọi là “vấn đề cơ bản lớn nhất” hay “vấn đề tối cao” của triết học. Vì việc giải
quyết vấn đề này là cơ sở và là điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết

Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức: Chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa
duy tâm chủ quan. Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng có một lực lượng siêu tự
nhiên (ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới, Trời, thượng đế) có trước, sinh ra
và quyết định thế giới vật chất. Những đại biểu tiêu biểu của trào lưu này là Platôn,
G.V.Hêghen, Tômát Đacanh, chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng cảm giác, ý thức
quyết định vật chất, vật chất không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cảm giác, ý
thức. Những đại biểu của trào lưu này là Béccơli (George Berkeley), Đavít Hium
(David Hume).
2. Các hình thức phát triển của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử
Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật
được hình thành và phát triển với ba hình thức cơ bản là: Chủ nghĩa duy vật chất
phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng.
a. Chủ nghĩa duy vật chất phác
Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời
cổ đại. Trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, chủ nghĩa duy vật giai đoạn
này đã đồng nhất vật chất với một số chất cụ thể, coi đó là thực thể đầu tiên, là bản
nguyên của vũ trụ.Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
14
Tuy còn nhiều hạn chế nhưng chủ nghĩa duy vật thời kỳ cổ đại đã có nhiều đóng
góp cho lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại vì nó đã lấy bản thân giới tự nhiên
để giải thích giới tự nhiên, nó không viện dến thần linh hay một đấng sáng tạo nào để
giải thích thế giới.
b. Chủ nghĩa duy vật siêu hình
Chủ nghĩa duy vật siêu hình xuất hiện từ khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và đạt
đỉnh cao vào đầu thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của cơ học vì vậy nó
đã ảnh hưởng lớn tới quan điểm của các nhà triết học thời kỳ này. Chủ nghĩa duy vật
trong giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình,
máy móc của cơ học cổ điển. Họ nhận thức thế giới như một cỗ máy cơ giới khổng lồ
mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại; nếu có biến đổi

hợp hoặc tách rời giữa chúng theo các trật tự khác nhau của không gian sẽ tạo nên
toàn bộ thế giới.
+ Triết học ấn độ : Đất, nước, lửa, không khí.
+ Thuyết âm dương – ngũ hành : Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ
Chủ nghĩa duy vậy thế kỷ XVII – XVIII đồng nhất vật chất với nguyên tử và khối
lượng.
Tóm lại, các nhà triết học trước Mác đều không trả lời được câu hỏi, bản chất của thế
giới là gì? Mà họ lại đi vào nghiên cứu, tìm hiểu cấu tạo của vật chất. Do vậy, họ
khẳng định, vật chất là cái bất biến, cái cụ thể nào đó. Quan niệm này đã tồn tại suốt
nhiều thế kỷ trong lịch sử triết học.
* Quan niệm của C. Mác và Ăngghen về vật chất
C. Mác và Ăngghen cho rằng, vật chất là cái tồn tại khách quan, độc lập với ý thức
con người. Thế giới vật chất luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, ở đâu có vật
chất là ở đó có vận động và vận động không ngừng.
* Định nghĩa của Lênin về vật chất; nội dung và ý nghĩa
* Định nghĩa
Kế thừa tư tưởng của C. Mác và Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thành tựu mới
nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX về mặt triết học, trên cơ
sở phê phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật chất, Lênin đã đưa ra định
nghĩa về vật chất như sau :
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản
ánh và không lệ thuộc vào cảm giác”. (Tập 18, tr.151)
* Những nội dung cơ bảnBài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
16
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan ”
Phạm trù vật chất là phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận. Do đó:
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ triết học chứ không phải dưới góc

Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
17
chỉ ra rằng, vật chất phải được hiểu là tất cả những gì tồn tại khách quan bên ngoài ý
thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được.
* Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của
triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời đã khắc phục
được tính trực quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa
duy vật trước Mác, chống lại chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết.
- Định nghĩa vật chất của Lêninlà cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận
đúng đắn cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất, định hướng và cổ
vũ họ ở khả năng nhận thức của con người, tiếp tục đi sâu khám phá những thuộc tính
mới của thế giới vật chất, tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thể trong
thế giới.
- Định nghĩa còn là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện chứng
trong lĩnh vực xã hội, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử.
b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
* Vận động là phương thúc tồn tại của vật chất
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất. Bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào cũng
không có và không thể có vật chất mà không có vận động.
+ Vật chất chỉ có thể tồn tại trong vận động, bằng cách vận động, không thể có vật
chất không vận động, cũng như không thể có vận động ngoài vật chất.
“Vật chất không có vận động, cũng như vận động không có vật chất, đều là điều
không thể hình dung nổi” (Tập 20,tr.89)
+ Các thuộc tính của vật chất chỉ biểu hiện thông qua vận động
* Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất
+ Vận động là cái vốn có của vật chất, gắn liền với vật chất, không do ai sinh ra và
không bao giờ bị tiêu diệt.
+ Vận động được bảo toàn cả về lượng và chất
Ph.Ăngghen khẳng định : “Cần phải hiểu tính bất diệt của vận động không chỉ đơn

+ Không gian vô tận. Thời gian không có khởi đầu và kết thúc.
+ Không gian có 3 chiều. Thời gian có một chiều.
+ Không gian và thời gian có tính tương đối.
c) Tính thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định : Bản chất của thế giới là vật chất, thế giới
thống nhất ở tính vật chất của nó. Điều này cho thấy:
- Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, vật chất là cái có trước, tồn tại
khách quan độc lập với ý thức con người.
- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra và cũng Bài
giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
19
không bị mất đi.
- Mọi tồn tại của thế giới đều có mối liên hệ khách quan, biểu hiện ở chỗ chúng đều
là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồn gốc vật chất,
do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của quy luật khách quan, phổ biến của
thế giới vật chất.
Như vậy, trong thế giới không có gì khác hơn là vật chất đang vận động. Tinh thần
chỉ có trong đầu óc con người và là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao.
Không có bằng chứng về thế giới tinh thần tồn tại bên ngoài thế giới vật chất (thiên
đường, địa ngục, niết bàn).
2. Ý thức
a) Nguồn gốc của ý thức
* Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: Ý thức là thuộc tính (thuộc tính phản
ánh) của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người.
Bộ óc là cơ quan vật chất của ý thức. Nhưng tại sao bộ óc con người lại có thể sinh ra
ý thức, là mối liên hệ với thế giới khách quan. Chính mối liên hệ vật chất này đã hình
thành nên quá trình phản ánh thế giới vật chất vào bộ óc con người.
+ Phản ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất. Phản ánh là năng lực giữ

Để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được
nhưng chưa đủ, điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, đó
chính là lao động và ngôn ngữ.
- Lao động:
Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại, là hoạt động mang
tính đặc thù của con người, làm cho con người khác với các động vật khác.
+ Trong lao động con người đã biết chế tạo ra các công cụ lao động và sử dụng các
công cụ đó để cải tạo của cải vật chất.
+ Lao động là hoạt động có tính mục đích, tác động vào thế giới khách quan nhằm
thỏa mãn nhu cầu của con người. Do đó, ý thức con người phản ánh một cách tích
cực, chủ động và sáng tạo. Như vậy, không phải ngẫu nhiên mà thế giới khách quan
tác động vào bộ óc con người để con người có ý thức, mà trái lại con người có ý thức
chính là con người chủ động tác động vào thế giới khách quan thông qua hoạt động
thực tiễn để cải tạo thế giới. Hay nói cách khác, lao động giúp con người phát triển và
ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người cũng ngày
càng phát triển.
+ Lao động ngay từ đầu đã liên kết mọi thành viên trong xã hội lại với nhau, làm nảy
sinh ở họ nhu cầu giao tiếp. Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và không ngừng phát triển cùng
với lao động.Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
21
- Ngôn ngữ
Ph.Ăngghen đã nói: “Đem so sánh con người với loài vật, người ta sẽ thấy rõ ràng
ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thích
duy nhất đúng về ngôn ngữ”.
+ Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Nó là hệ thống
tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn
tại và thể hiện được. Ngôn ngữ theo C.Mác, nó chính là cái vỏ vật chất của tư duy, là
hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ con người không thể có ý thức.
+ Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, vừa là

Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh. Sự trao đổi này mang
tính chất hai chiều, có chọn lọc các thông tin cần thiết.
Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần.
Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện thực
hóa tư tưởng thông qua hoạt động thực tiễn.
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của ý thức
là sáng tạo của sự phản ánh theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh, mà
kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần
Thứ tư, ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng
xã hội. Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của
con người. Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ, mà là hoạt động xã hội, do
đó ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm cuả xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con
người còn tồn tại.
* Kết cấu của ý thức
Ý thức là một hiện tượng xã hội - tâm lý có kết cấu hết sức phức tạp. Tùy theo cách
tiếp cận mà có nhiều cách phân chia khác nhau.
- Theo chiều dọc: thì ý thức chính là lát cắt nội tâm của con người, nó bao gồm các
yếu tố: Tự ý thức, tiềm thức, vô thức.
- Theo chiều ngang: Ý thức bao gồm các yếu tố: Tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí.
Trong đó tri thức là yếu tố cốt lõi. Tri thức đóng vai trò là phương thức tồn tại của ý
thức. Điều này có nghĩa là không có tri thức thì sẽ không có ý thức.
Nếu chỉ có ý thức không thôi thì đó là một ý thức phát triển không toàn diện, sơ
cứng. Tri thức được xem là vốn hiểu biết của con người nhưng nếu biến cái tri thức
đó thành hành động thì đó là một quá trình lâu dài. Tuy nhiên, sự tác động của thế
giới bên ngoài đến con người không chỉ đem lại sự hiểu biết về thế giới mà còn đem
lại tình cảm của con người đối với thế giới. Tình cảm là một hình thái đặc thù của sự
tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thế
giới khách quan. Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người và là một Bài
giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai

Như vậy, tri thức khoa học giúp con người hiểu biết được những mối liên hệ và quy
luật khách quan nhờ đó mà cải tạo được tự nhiên và xã hội. Trình độ nhận thức quy Bài
giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
24
luật càng cao thì khả năng cải tạo tự nhiên và xã hội càng lớn.
c) Ý nghĩa phương pháp luận
- Khẳng định vật chất là nguồn gốc khách quan, là cơ sở sản sinh ra ý thức, còn ý
thức chỉ là sản phẩm, là sự phản ánh thế giới khách quan. Trong nhận thức và hành
động con người phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng và hành động theo
hiện thực khách quan, chống chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy ý chí.
- Khẳng định ý thức có vai trò tích cực trong sự tác động trở lại đối với vật chất, phép
biện chứng duy vật yêu cầu trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn con người
cần phải nhận thức và vận dụng quy luật khách quan một cách chủ động, sáng tạo,
chống thái độ tiêu cực, thụ động.
- Sức mạnh của ý thức con người không phải là ở chỗ tách rời những điều kiện vật
chất mà phải biết dựa vào đó, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới
khách quan một cách chủ động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con
người để tác động, cải tạo thế giới khách quan. Đồng thời phải khắc phục bệnh bảo
thủ, trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại.Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
25

CHƯƠNG II:
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I. PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

liền với hai khuynh hướng triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm. Chính cuộc đấu tranh lâu dài này đã thúc đẩy tư duy triết học phát triển và hoàn
thiện dần với thắng lợi của tư duy biện chứng duy vật.
b) Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
Phép biện chứng đã phát triển qua ba hình thức cơ bản đó là: Phép biện chứng chất
phác thời cổ đại, Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, Phép biện chứng duy vật.
- Phép biện chứng chất phác thời cổ đại: Là hình thức đầu tiên của phép biện chứng
trong lịch sử triết học.
Ba nền triết học tiêu biểu của thời kỳ này là nền triết học Ấn Độ cổ đại, triết học
Trung Quốc cổ đại, và triết học Hy Lạp cổ đại.
* Trong triết học Ấn Độ cổ đại, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết
học đạo Phật với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân quả”.
+ “Vô ngã” tức là không có cái tôi bất biến. Cách nhìn này hoàn toàn đối lập với cách
nhìn siêu hình về tồn tại. Cũng từ cách nhìn này, triết học Phật giáo đưa ra những
nguyên lý về mối liên hệ tất định, phổ biến: Không có cái nào là biệt lập tuyệt đối so
với tồn tại khác, tất cả đều hòa đồng nhau.
+ “Vô thường” nói lên sự biến đổi không ngừng của vạn vật, không có cái gì đứng
im. Quy luật “vô thường” của mọi tồn tại là Sinh – Trụ - Dị - Diệt.
+ Quy luật nhân quả cho rằng, sự tồn tại đa dạng và phong phú của thế giới đều có
nguyên nhân tự thân, đó là quy luật nhân quả, một định lý tất định và phổ biến của
mọi tồn tại dù đó là vũ trụ hay nhân sinh.
Triết học Ấn Độ là một trong những cái nôi triết học vĩ đại của loài người thời kỳ cổ
đại, nó chứa đựng nhiều yếu tố vô thần và đã manh nha, hình thành các tư tưởng biện Bài
giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
27
chứng sơ khai. Tuy nhiên, tư duy triết học thời kỳ này cũng bộc lộ nhiều hạn chế
như: coi linh hồn con người là bất tử (đạo phật).
* Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch
luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và

28
của chủ nghĩa duy vật, xuất phát từ biện chứng khách quan của tự nhiên và xã hội.
Theo Ph.Ăngghen: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy
luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của
tư duy” (Tập 20,tr.201).
Ph.Ăngghen phân biệt biện chứng khách quan (biện chứng của tự nhiên và xã hội) và
biện chứng chủ quan (biện chứng của tư duy).
2. Phép biện chứng duy vật
a. Khái niệm phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa lý luận và phương pháp.
- Lý luận là hệ thống những khái niệm, phản ánh bản chất, những mối liên hệ tất yếu,
những quy luật hoạt động và phát triển của đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp là gì? Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là
methodos, theo nghĩa thông thường dùng để chỉ những cách thức, thủ đoạn nhất định,
được chủ thể hành động sử dụng để thực hiện những mục đích đã đề ra.
Còn theo nghĩa chặt chẽ và khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc
được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức
và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định.
- Phương pháp luận là tổng thể những nguyên tắc chung chỉ đạo việc thiết kế và sử
dụng các nghiên cứu của một số ngành khoa học.
- Phương pháp luận triết học là cấp độ lý luận cao nhất của phương pháp. Nó thiết lập
nên các ngyên tắc chung nhất của nhận thức và hoạt động thực tiễn, từ đó định ra các
phương pháp phổ biến đặc trưng cho triết học.
- Phép biện chứng duy vật
Là một hệ thống các nguyên lý, nguyên tắc, quy luật và phạm trù: Một mặt giải thích
thế giới như một chỉnh thể, mặt khác định hướng cho sự phát triển của khoa học
chuyên ngành và hoạt động thực tiễn của con người. Nó là một chỉnh thể các hình
thức lôgíc với các yếu tố có chức năng nhất định liên hệ qua lại với thực tiễn; đồng
thời nó cũng là một hệ thống mở, đang phát triển.
b. Đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật

quan cho rằng, “cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng”.
Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, tính chất của mối liên hệ phổ biến
bao gồm: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng.
- Tính khách quan của mối liên hệ
Mối liên hệ mang tính khách quan. Bởi các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới đa
dạng, phong phú, khác nahu. Song chúng đều là những dạng vật thể của thế giới vật
chất. Và tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ. Nhờ có tính Bài
giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
30
thống nhất đó, các sự vật, hiện tượng, không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà
trong sự tác động qua lại chuyển hóa lẫn nhau.
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự
vận động, tác động qua lại lẫn nhau. Bản chất, tính quy luật của sự vật, hiện tượng
cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động của chúng với các sự vật, hiện tượng khác.
- Tính phổ biến của các mối liên hệ
Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác.
Không có sự vật, hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ. Mối liên hệ cũng có ở mọi lĩnh
vực : Tự nhiên, xã hội, tư duy.
Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, tùy theo điều kiện
nhất định. Nhưng dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ
phổ biến nhất, chung nhất.
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Có rất nhiều loại liên hệ khác nhau :
+ Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài.
+ Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp.
+ Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu.
+ Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản.
+ Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến
Chính tính đa dạng trong quá trình vận động, tồn tại và phát triển của bản thân sự vật,

biến đổi của các sự vật, hiện tượng.
- Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện. Quan điểm phiến diện là
cách xem xét từng mặt, từng mối liên hệ tách rời nhau, không thấy được mối liên hệ
nhiều vẻ, đa dạng của sự vật.
2. Nguyên lý về sự phát triển
a. Khái niệm “phát triển”
Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Như vậy, phát triển không phải là bản thân sự vận động, phát triển chỉ là khuynh
hướng tất yếu của sự vận động, phát triển nó chỉ khái quát những sự vận động đi lên,
đó là quá trình không ngừng gia tăng về trình độ, về kết cấu phức tạp của sự vật và do
đó làm nảy sinh tính quy định cao hơn về chất.
Nói cách khác, phát triển là quá trình làm xuất hiện cái mới, cái tiến bộ thay thế cái
cũ, cái lạc hậu.
b. Nội dung của nguyên lý phát triển
- Phép biện chứng duy vật khẳng định, đổi mới là quá trình diễn ra không ngừng
trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người.Bài giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
32
+ Trong giới hữu sinh sự phát triển biểu hiện ở khả năng tăng cường thích nghi của
cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng sản sinh và hoàn thiện chính
mình, ở khả năng hoàn thiện về quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sống với môi
trường.
+ Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức, cải biến tự nhiên và xã
hội theo quy luật thông qua hoạt động thực tiễn của con người
+ Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy
đủ hơn về tự nhiên, xã hội và nhận thức chính bản thân con người.
- Phép biện chứng duy vật khẳng định, phát triển là khuynh hướng chung của các sự
vật, hiện tượng nhưng không diễn ra một cách trực tiếp mà nó quanh co, phức tạp

- Sự phát triển mang tính phổ biến. Tính phổ biến ở đây được hiểu là nó diễn ra
trong mọi lĩnh vực: Tự nhiên, xã hội và tư duy. Ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của
thế giới khách quan.
- Sự phát triển còn mang tính đa dạng, phong phú. Khuynh hướng phát triển là
khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng. Song mỗi sự vật, hiện tượng lại có
quá trình phát triển khác nhau, tồn tại ở không gian và thời gian khác nhau, sự phát
triển sẽ khác nhau. Đồng thời trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu tác động của
các sự vật, hiện tượng khác, của các điều kiện có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát
triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm
chí có thể làm sự vật thụt lùi.
d. Ý nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu về sự phát triển giúp chúng ta rút ra được phương pháp luận khoa học để
nhận thức và cải tạo thế giới.
- Giới tự nhiên, xã hội và tư duy đều trong quá trình vận động và phát triển không
ngừng. Bản chất khách quan của các quá trình hiện thực đòi hỏi nhận thức muốn
phản ánh đúng hiện thực khách quan thì cần phải có quan điểm phát triển.
- Quan điểm phát triển yêu cầu khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong
sự vận động, trong sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa
của chúng.
- Quan điểm phát triển đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, việc tuyệt đối hóa tri
thức là kết quả của sự nhận thức về sự vật trong một hoàn cảnh cụ thể và xem xét nó
như là tri thức đúng cho cả quá trình phát triển của sự vật.
- Quan điểm phát triển đòi hỏi phải nhận thức các sự vật, hiện tượng trong thực tế, và
xem đó là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn. Do đó, hoạt động thực tiễn là quá
trình tìm ra mâu thuẫn, phân tích mâu thuẫn và tìm ra giải pháp để giải quyết mâu
thuẫn. Chỉ bằng cách đó chúng ta mới góp phần tích cực vào sự phát triển.
- Quan điểm phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy khuynh Bài
giảng “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Phạm Thị Hằng – GV Khoa khoa học cơ bản, Trường ĐH Công Nghệ Đồng Nai
34


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status