HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TIỂU LUẬN MÔN HỌC:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA – GIÁO DỤC – Y TẾ Đề tài:
CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
QUỐC GIA. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.
“Đừng quay lưng lại với AIDS”
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: HÀ HOA LÝ
NHÓM THỰC HIỆN: Hà Nội - Tháng 10 năm 2007
B. HIV/AIDS có ảnh hưởng như thế nào đến cá nhân và xã hội?
Ảnh hưởng cá nhân và xã hội của người nhiễm HIV/AIDS là cực kì to lớn và
không thể lường trước được.
* Ảnh hưởng về kinh tế: Số người nhiễm HIV chủ yếu ở lứa tuổi lao động. Khi
nhiều người bị nhiễm HIV và bị chết vì AIDS sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế của từng gia đình, cộng đồng và của đất nước. Chi phí cho công tác phòng chống
AIDS là rất tốn kém.
* Ảnh hưởng về tâm lý xã hội: Mọi người sợ hãi dễ dẫn đến tình trạng phân biệt
đối xử. Cuộc sống của gia đình người nhiễm HIV/AIDS trở nên căng thẳng, xuất
hiện nhiều mâu thuẫn và dần tiến tới sự mất ổn định trong cuộc sống.
* Ảnh hưởng nặng nề cho hệ thống Y tế: Hệ thống y tế bị quá tải, phát sinh các
nguy cơ lây nhiễm HIV trong môi trường y tế. Thuốc đặc trị không có nhưng vẫn
phải tiến hành việc điều trị cho các bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS dẫn đến chi phí
điều trị lớn nhưng không đạt hiệu quả, bệnh nhân vẫn tử vong.
* HIV làm giảm tuổi thọ trung bình. Tăng tỉ lệ chết sơ sinh, tỉ lệ chết mẹ… làm
nảy sinh các vấn đề về trẻ mồ côi, bảo tồn nòi giống.
Từ những ảnh hưởng trên sẽ tác động lớn đến xã hội, chính trị, kinh tế.
2. Một số thông tin về đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam và trên thế giới.
2.1. TÌNH HÌNH ĐẠI DỊCH HIV/AIDS Ở VIỆT NAM
A. Một số số liệu về dịch HIV/AIDS.
- Tháng 12/1990, Bệnh nhân nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Thành phố
Hồ Chí Minh là một người phụ nữ.
- Tính đến ngày 31/12/2006, luỹ tích các trường hợp nhiểm HIV được báo cáo
trên toàn quốc là 116.565 người, trong đó 20.195 trường hợp đã chuyển thành bệnh
nhân AIDS và 11.802 bệnh nhân AIDS đã tử vong. Trong năm 2006 trên toàn quốc
phát hiện 12.454 trường hợp nhiễm HIV mới, trong đó có 2.906 bệnh nhân AIDS
và 1.731 trường hợp bị tử vong do AIDS.
- Trong tháng 8/2007 cả nước cũng đã phát hiện thêm 2,3 nghìn trường hợp
đứng đầu là Quảng Ninh với tỷ lệ nhiễm trên 100.000 dân cao nhất nhưng về số
liệu tuyệt đối, Tp Hồ Chí Minh phát hiện được 17.407 trường hợp chiếm 14% tổng
số các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện trên toàn quốc.
g. Tuy tốc dộ dịch không gia tăng nhanh chóng so với các năm trước đây nhưng
chứa đựng các yếu tố nguy cơ lan tràn dịch ở một số tỉnh, thành phố thể hiện qua
việc hiểu biết về HIV/AIDS trong các nhóm đối tượng có nguy cơ cao còn thấp, tỷ
lệ dùng chung bơm kim tiêm trong nhóm nghiện chích ma tuý cao từ 22 - 44 %
trong các lần tiêm chích. Tỷ lệ sử dụng bao cao su trong nhóm gái mại dâm tuy đã
có cải thiện nhưng vẫn chỉ dừng ở mức 50 – 60%.
h. Dịch dã có dấu hiệu lây lan ra cộng đồng, đối tượng nhiễm HIV/AIDS không
chỉ tập trung ở những người có nguy cơ cao mà còn xuất hiện trong nhóm phụ nữ
mang thai và trẻ em; HIV/AIDS đã đi về miền núi, vùng sâu, vùng xa, lan rộng
trong các tầng lớp không thuộc diện có nguy cơ cao như học sinh, sinh viên, tân
binh, giới công chức, thậm chí nông dân Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm thanh niên
khám tuyển nghĩa vụ quân sự là 0,25%, phụ nữ mang thai là 0,37% vào năm 2006.
Theo ước tính của Bộ Y tế, tỷ lệ phụ nữ trong số người nhiễm HIV tại Việt
Nam đã tăng gấp đôi so với trước. Hiện cứ 3 người mang virus này thì 1 là nữ. Mỗi
năm Việt Nam có từ 1-1,5 triệu phụ nữ mang thai thì có khoảng 6.000 người bị
nhiễm HIV/AIDS và gần 2.000 trẻ bị nhiễm HIV từ mẹ(chiếm 30% tổng số sản
phụ nhiễm HIV).
Năm Số tỉnh có
người nhiễm
HIV/AIDS
Tổng số
người nhiễm
HIV
Tổng số
bệnh nhân
AIDS
Số ca
HIV/100000 dân
12 tỉnh có tỷ lệ
nhiễm thấp nhất
Số ca
HIV/100000dân
Quảng Ninh 572,56 Quảng Bình 4,27
Hải Phòng 331,96 Quảng Trị 4,56
TP. Hồ Chí Minh 248,05 Quảng Ngãi 5,21
Bà Rịa Vũng Tàu 229,10 Hà Giang 9,64
An Giang 184,27 Vĩnh Phúc 11,00
Hà Nội 175,40 Phú Yên 11,07
Lạng Sơn 150,62 Hà Tĩnh 12,67
Cao Bằng 127,79 Quảng Nam 12,73
Khánh Hòa 101,51 Cà Mau 12,73
Bình Dương 94,75 Thừa Thiên Huế 14,64
Đồng Nai 92,24 Tuyên Quang 15,78
Thái Nguyên 91,27 Phú Thọ 16,35
*Ước tính năm 2007, tại Việt Nam có khoảng 280.000 trường hợp nhiễm HIV,
110.000 bệnh nhân AIDS và gần 90.000 bệnh nhân đã tử vong do AIDS. Nhiễm
HIV ở nước ta tập trung ở nhóm tuổi từ 20-39 (chiếm 78,9%), nam giới chiếm
85%. II. CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG QUỐC GIA HIV/AIDS.
1 Bối cảnh ra đời và mục đích của Chương trình phòng chống quốc gia
HIV/AIDS.
1.1 Bối cảnh ra đời.
Chương trình phòng, chống quốc gia HIV/AIDS tại Việt Nam đã được khởi đầu
như một chương trình quốc gia phòng chống bệnh truyền nhiễm vào những năm
cuối của thập kỷ 80. Với phương châm chỉ đạo là “lấy dự phòng là chính, truyền
thông là then chốt”. Rất nhanh chóng chương trình đã vượt ra khỏi những khuân
khổ của một chương trình y tế để trở thành một chương trình có tính chất toàn xã
hội.
Đứng trước nguy cơ lan tràn nguy hiểm và tác hại to lớn của đại dịch
HIV/AIDS. Chương trình phòng, chống quốc gia HIV/AIDS cho giai đoạn đầu tiên
1991 – 1993 được xây dựng, triển khai với sự giúp đỡ của Tổ chức Y tế thế giới tại
09 tỉnh/thành phố trên tổng số 53 tỉnh/thành. Năm 1993, để tăng cường dự phòng
lây nhiễm HIV qua đường truyền máu sau vụ dịch nghiêm trọng xảy ra tại Tp Hồ
Chí Minh, Khánh Hòa và một số tỉnh phía Nam, Nhà nước đã đầu tư 10 tỷ đồng
hại về kinh tế xã hội của nhiễm HIV/AIDS.
Trong giai đoạn 2004 - 2010, Việt Nam sẽ tăng cường đẩy mạnh các biện pháp
ngăn chặn và kiểm soát HIV/AIDS nhằm hướng tới giảm tuyệt đối tỷ lệ những số
người nhiễm HIV/AIDS mới sau năm 2010.
c. Huy động toàn xã hội triển khai các đường lối, biện pháp tổng hợp, đẩy mạnh
hợp tác quốc tế nhằm thực hiện các mục tiêu trên.
2 Quan điểm và mục tiêu trong những năm tiếp theo của Nhà nước ta
trong Chương trình phòng chống quốc gia HIV/AIDS.
2.1. Quan điểm:
Ngày 17/3/2004, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia
phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam tới 2010 và tầm nhìn 2020. Trong định hướng
chiến lược đã nêu rõ:
a) HIV/AIDS là đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với sức khỏe, tính
mạng của con người và tương lai nòi giống của dân tộc Việt Nam. HIV/AIDS tác
động tiêu cực trực tiếp và to lớn đến phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn
xã hội của quốc gia. Do đó, công tác phòng và chống đại dịch HIV/AIDS phải
được coi là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và lâu dài, cần phải tăng cường phối
hợp liên ngành và đẩy mạnh việc huy động toàn xã hội tham gia;
b) Đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS là đầu tư góp phần tạo ra sự
phát triển bền vững của đất nước mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội trực tiếp và gián
tiếp. Nhà nước bảo đảm việc huy động các nguồn lực đầu tư cho phòng, chống
HIV/AIDS từ nay đến năm 2010 và sau 2010 phù hợp với khả năng và điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn;
c) Chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV/AIDS, tăng cường
trách nhiệm của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV/AIDS và của người nhiễm
HIV/AIDS với gia đình, xã hội;
d) Việt Nam cam kết thực hiện các Điều ước quốc tế về phòng, chống
HIV/AIDS đã ký kết hoặc gia nhập. Bảo đảm hệ thống pháp luật quốc gia về
phòng, chống HIV/AIDS phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế;
- Hoàn thiện hệ thống quản lý, theo dõi, giám sát, đánh giá chương trình phòng,
chống HIV/AIDS: 100% tỉnh, thành phố có khả năng tự đánh giá và tự dự báo về
diễn biến của nhiễm HIV/AIDS ở địa phương, 100% xét nghiệm HIV tuân thủ quy
định tư vấn xét nghiệm tự nguyện;
- Ngăn chặn lây nhiễm HIV/AIDS qua các dịch vụ y tế: Bảo đảm 100% các
đơn vị máu và chế phẩm máu được sàng lọc HIV trước khi truyền ở tất cả các
tuyến; 100% cơ sở y tế thực hiện đúng quy định về vô khuẩn, sát khuẩn phòng lây
nhiễm HIV/AIDS.
2.3. Tầm nhìn 2020:
a) Toàn dân tích cực đẩy mạnh công tác phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn
2004 - 2010 để sau 2010 giảm dần số lượng tuyệt đối người nhiễm HIV/AIDS, làm
giảm các ảnh hưởng KT-XH do HIV/AIDS gây ra cho giai đoạn sau 2010;
b) Giai đoạn 2010 – 2020, nhà nước ta tiếp tục tăng cường chỉ đạo, đầu tư và
đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong công tác phòng, chống HIV/AIDS nhằm giảm
thiểu tác động của đại dịch HIV/AIDS đến sự phát triển kinh tế - xã hội;
c) Giai đoạn 2010 – 2020, Chương trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS sẽ
phải tập trung giải quyết những hậu quả của HIV/AIDS; biện pháp dự phòng đặc
hiệu bằng vắc xin, thuốc điều trị HIV/AIDS có thể sẽ được sử dụng rộng rãi. Ưu
tiên trong giai đoạn 2010 - 2020 là:
- Dự phòng bằng các biện pháp kỹ thuật đặc hiệu;
- Chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS;
- Chăm sóc các đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG CHỐNG QUỐC GIA HIV/AIDS.
I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA
PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA.
A. Những thành tích đã đạt được trong công tác thực hiện
đạo công tác phòng chống AIDS”.
- Chỉ thị số 54/CT-TW ngày 30/11/2005, của Ban Bí thư TW Đảng về “Tăng
cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới”.
- Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc
phải ở người (HIV/AIDS) ngày 29 tháng 6 năm 2006;
- Nghị đinh Số: 108/2007/NĐ-CP ngày 26/ 6 /2007 Quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)
- Thông tư liên tịch số 11 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ, tháng 11. 2004.
- Chương trình Hành động quốc gia về phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang
con cho giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ Y tế.
- Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam
đến năm 2010 và
tầm nhìn 2020
- Chương trình hành động quốc gia về Thông tin, giáo dục và truyền thông thay
đổi hành vi phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010.
Do tính nhạy cảm đặc biệt của HIV/AIDS, cam kết chính trị là điều kiện then
chốt cho các chương trình phòng chống HIV/AIDS hiệu quả. Dự phòng HIV cho
các nhóm bên lề xã hội đòi hỏi đáp ứng đa ngành, đặc biệt là một môi trường luật
pháp hỗ trợ với sự hợp tác, ủng hộ của các cơ quan hành pháp.
3. Chương trình quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS đã xây dựng được
một hệ thống tổ chức tương đối toàn diện và ngày càng hoàn thiện theo
phương châm liên ngành, toàn diện ở các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể
xã hội trong toàn quốc. Hệ thống này đã có khả năng huy động các nguồn lực
của chính phủ và quốc tế để thực hiện các hoạt động phòng chống quan trọng,
làm chậm lại quá trình lan truyền dịch.
- Tại tuyến TW, UBQG phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý,
Theo điều tra, hơn 68% số người được hỏi trong độ tuổi từ 15-49 đã biết về
HIV/AIDS và các đường lây truyền chính. Đây là một tỷ lệ tương đối cao.
7. Tất cả các tỉnh đã có thể tiến hành xét nghiệm HIV. Mạng lưới sàng lọc
máu đã được thiết lập từ tuyến TW, tuyến tỉnh đến tuyến huyện/thị.
Trong những năm qua, ngành Y tế nước ta đã từng bước được trang bị kỹ thuật,
máy móc và sinh phẩm để tiến tới mục tiêu 100% các túi máu đều được sàng lọc
HIV trước khi truyền.Qua đó, bảo đảm tốt an toàn truyền máu và an toàn trong các
dịch vụ y tế.
Cho tới nay mới phát hiện được một trường hợp bị nhiễm HIV do truyền máu
trong giai đoạn cửa sổ vào năm 1997. Một phần đông dân chúng đã có thể tiếp cận
với dịch vụ xét nghiệm khi cần thiết. Sàng lọc máu trước khi truyền đã được thực
hiện rộng rãi trong toàn quốc.
Trong giai đọan 2001-1005 đã đảm bảo 100% các trường hợp tai nạn rủi ro
nghề nghiệp phơi nhiễm HIV được đặc trị dự phòng bằng thuốc đặc hiệu kháng
virut HIV(ARV). Số lượng bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận với thuốc
ARV ngày càng nhiều ( từ 60 bệnh nhân vào năm 2001 lên đến 5700 bệnh nhân
vào cuối năm 2005, đầu 2006). Công tác dự phòng lây truyền từ mẹ sang con,
khám chữa bệnh qua đường tình dục đã có những tiến bộ rõ rệt.
8. Một hệ thống giám sát và thông báo dịch tễ học HIV/AIDS hoàn chỉnh
đã được xây dựng ở 64 tỉnh, thành phố.
- Tiến hành giám sát HIV bao gồm giám sát trọng điểm ở 21 tỉnh thành và giám
sát phát hiện ở 64/64 tỉnh thành trong cả nước.
- Hệ thống này hoạt động tốt và đang hướng tới giám sát thế hệ hai: Qua đó
thường xuyên theo dõi và từng bước đánh giá đúng tình hìnhdiễn biến của dịch làm
cơ sở khoa học cho công tác hoạch định chính sách, xác định các nội dung, biện
pháp dự phòng và can thiệp. Hệ thống giám sát và thông báo dịch tễ học
HIV/AIDS ở nước ta được đánh giá vào loại tốt ở Châu Á.
9. Bước đầu, một số mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễm, Chăm sóc và
hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS đã được triển khai một cách có hiệu quả.
- Triển khai thí điểm can thiệp dự phòng HIV trong một số nhóm đối tượng có
Nhận thức và xác định rất sớm nhóm tuổi bị lây nhiễm HIV chủ yếu ở Việt
Nam là lứa tuổi trẻ, nhất là tuổi thanh, thiếu niên nên ngay từ khi Uỷ ban quốc gia
phòng, chống HIV/AIDS được thành lập năm 1990, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã là
thành viên của Ủy ban này và đã thiết kế chương trình đào tạo, giáo dục về
HIV/AIDS trong hệ thống trường học. Các bài học về phòng, chống HIV/AIDS đã
được đưa vào sách giáo khoa lớp 5, lớp 9. Các trường đại học và cao đẳng đã triển
khai các hoạt động ngoại khóa để cung cấp thông tin phòng, chống HIV/AIDS cho
học sinh, sinh viên.
11.Thiết lập được và từng bước mở rộng quan hệ quốc tế trong việc thực
hiện chương trình phòng chống HIV/AIDS quốc gia trên cả ba mặt trận : Huy
động nguồn lực, trao đổi thông tin, kinh nghiệm và hướng dẫn bồi dưỡng đào
tạo cán bộ. Qua đó nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế.
Hợp tác quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong chương trình phòng, chống
HIV/AIDS. Các tổ chức quốc tế cũng như Chính phủ các nước đã hỗ trợ đáng kể
cho công tác phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam.
Chính phủ Nhật Bản viện trợ 3,6 triệu USD cơ bản giải quyết vấn đề trang thiết
bị cho 10 tỉnh, thành phố phía Nam;
Chính phủ Anh viện trợ không hoàn lại 25 triệu USD giai đoạn 2003-2007;
Chính phủ các nước Đức, Hoa Kỳ, Lúc-xăm-bua, ô-xtrây-lia đều có viện trợ
cho công tác phòng, chống HIV/AIDS.
Các tổ chức Liên Hợp Quốc, NGOs có nhiều hỗ trợ về nguồn vốn và kỹ thuật
cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS.
Các nguồn viện trợ, các chương trình hợp tác phòng, chống HIV/AIDS được
đánh giá là có hiệu quả, giúp nâng cao hiểu biết và thực hiện các biện pháp phòng,
chống hiệu quả đối với HIV/AIDS, góp phần quan trọng trong công cuộc phòng
chống và đẩy lùi HIV/AIDS tại Việt Nam, cụ thể:
a. Hỗ trợ đa phương
- Chương trình Phòng chống AIDS của Liên Hiệp quốc (UNAIDS). Ở Việt
nam, UNAIDS tiến hành điều phối các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của 6 tổ
chức Liên Hiệp Quốc: Quĩ Nhi Đồng LHQ, Chương trình Phát triển LHQ, Quĩ dân
HIV/AIDS với công tác dân số kế hoạch hoá gia đình ở 38 tỉnh trọng điểm thông
qua 2 dự án do Bộ Y tế và UBQG Dân số thực hiện.
- Chương trình AIDS Toàn cầu (Global AIDS Program - GAP) tại VN: Hỗ trợ
cho Bộ Y tế Việt Nam được tập trung vào các lĩnh vực sau:
+ Các dịch vụ thử máu và tư vấn tình nguyện (VCT):
+ Các chương trình hướng tới cộng đồng cho các nhóm dân cư dễ lây nhiễm.
+ Phòng chống truyền HIV từ mẹ sang con (PMTCT):
+ Các chương trình chăm sóc và điều trị người bị nhiễm HIV/AIDS:
b. Hỗ trợ từ các tổ chức phi Chính phủ quốc tế:
- DKT Quốc tế. DKT thực hiện việc tiếp thị và phân phối bao cao su để thúc
đẩy dự phòng HIV/AIDS và kế hoạch hoá gia đình
- CARE Quốc tế: Tổ chức phòng chống AIDS tại các doanh nghiệp. Huy động
các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia công tác PC AIDS
- Ngoài ra, chương trình phòng chống AIDS của Việt Nam còn nhận được sự
giúp đỡ về tài chính cũng như kỹ thuật đáng kể từ các tổ chức phi Chính phủ quốc
tế khác như: For Foundation, Population Council, PDI-Asia, Australian Red Cross,
World Vision International, SCF-UK v.v Ngoài các hỗ trợ về công tác phòng
chống AIDS, các tổ chức đã giúp một số học bổng đi học tập và tham quan, hội
nghị ở nước ngoài
c. Hỗ trợ song phương:
- Dự án Hợp tác Kỹ thuật Việt Đức (GTZ). GTZ hỗ trợ Chính phủ Việt nam
dự án “phòng chống HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục” để làm giảm
nguy cơ lan truyền HIV, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và làm giảm tác
động về kinh tế và xã hội của dịch đối với một số tỉnh ở miền bắc VN.
- Quĩ hỗ trợ Úc (ausAID). ausAID hỗ trợ Việt Nam dự án "Nâng cao năng lực
điều phối, lập kế hoạch và quản lý chương trình phòng chống AIDS.
- Những hỗ trợ của Chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam trong chương trình phòng
chống AIDS.
Chính phủ Hoa Kỳ có hai chương trình chính, và thông qua đó những hỗ trợ về
tài chính và kỹ thuật được cung cấp cho Việt Nam.
tổng kinh phí 5,6 triệu USD và 13 dự án tiếp tục được triến khai đến năm 2011 với
tổng kinh phí khoảng 97,3 triệu USD. Các dự án này tập trung vào 9 chương trình
hành động trong Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và
tầm nhìn 2020.
Bên cạnh đó, các dự án nước ngoài còn hỗ trợ trực tiếp trên 20 dự án về phòng,
chống HIV/AIDS cho các địa phương với kinh phí trên 6,1 triệu USD.
Theo đánh giá của các chuyên gia, tỷ lệ giải ngân của các dự án HIV đạt hiệu
quả khá cao ( trên 80% ) và tuân thủ đúng quy định quản lý tài chính và nội dung
cam kết.
Tuy nhiên các dự án quốc tế hỗ trợ phòng chống HIV trong thời gian qua chỉ
tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội,
Quảng Ninh, Hải Phòng trong khi còn tới 13 tỉnh, thành phố "trống" không có các
dự án đầu tư
* Nguyên nhân của những thành công trên.
- Có sự nhận thức sâu sắc, đúng đắn về tác hại và nguy cơ của đại dịch
HIV/AIDS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, tương lai nòi giống là cực kì to
lớn và không thể lường trước được của Đảng, Nhà nước và toàn dân.
- Có sự cam kết, thực hiện về Chính sách, Pháp luật và sự hỗ trợ về kinh phí kịp
thời của Nhà nước trong công tác phòng chống HIV/AIDS.
- Có sự hợp tác, giúp đỡ thiết thực và có hiệu quả của quốc tế, đặc biệt là
Chương trình Phòng chống AIDS của Liên Hiệp quốc (UNAIDS).
Chương trình có sự tham gia trực tiếp của phần lớn các bộ, ngành, và các đoàn
thể xã hội vào công tác phòng chống AIDS.
B. Những hạn chế trong công tác thực hiện chương trình phòng
chống quốc gia HIV/AIDS.
1. Bộ máy tổ chức phòng, chống AIDS các cấp cồng kềnh, kém hiệu quả và
còn rất yếu so với bộ máy phòng chống nhiều căn bệnh khác (lao, phong, sốt
rét )
- Cơ cấu tổ chức của chương trình quốc gia phòng, chống AIDS chỉ tập trung
còn mang tính vụ việc, nhỏ lẻ, chưa mang tính đa ngành do thiếu một kế
hoạch tổng thể.
Công tác phối hợp liên ngành trong phòng chống HIV/AIDS mới chỉ dừng ở
chủ trương, quan điểm chỉ đạo, còn thiếu đầu tư kinh phí và xác định cơ chế tổ
chức thực hiện. Việc phân công, phân nhiệm cho từng thành viên khi tham gia vào
hoạt động phòng, chống HIV/AIDS còn thiếu cụ thể, rõ ràng. Chỉ thị 52-CT/TW
mặc dù đã sớm được ra đời song còn thiếu sự sát sao trong chỉ đạo thực hiện và
giám sát đánh giá. Vì vậy, cho dù đã có 12 năm triển khai thực hiện song đến nay
hoạt động phối hợp liên ngành trong phòng, chống AIDS ở một số địa phương,
một số ngành vẫn còn chưa được thực hiện, những nơi đã thực hiện thì chưa đạt
được kết quả như mong muốn. Đó là:
- Hiện nay, trong cả nước chưa có một cơ cấu tổ chức thống nhất cho bộ phận
thường trực phòng, chống AIDS cấp tỉnh.
Văn phòng Phòng, chống HIV/AIDS có thể là một bộ phận riêng trực thuộc Sở
Y tế hoặc đặt trong một phòng của Sở hoặc gắn với khoa AIDS của Trung tâm y tế
dự phòng. Sự không đồng nhất về mô hình tổ chức của bộ phận này đã phần nào
làm hạn chế việc phát huy hiệu quả của việc phối hợp liên ngành.
- Sự điều phối và phối hợp giữa Văn phòng thường trực phòng, chống
HIV/AIDS và Ban AIDS của Bộ Y tế chưa được thiết lập một cách hoàn hảo, gây
lúng túng trong quá trình thực hiện chương trình ở các địa phương. Hoạt động liên
ngành mới chỉ được thực hiện ở các Ngành, các đoàn thể, tổ chức xã hội, chưa huy
động được sự tham gia của các tổ chức tư nhân trong nước và của cộng đồng. Đặc
biệt hiện còn thiếu cơ chế để huy động sự tham gia của các cơ sở y tế tư nhân vào
chương trình phòng, chống HIV/AIDS.
- Phối hợp liên ngành trong phòng, chống HIV/AIDS ở tuyến cơ sở được thể
hiện rõ nét hơn so với tuyến tỉnh, nhất là so với tuyến TW.
Tại tuyến trung ương, các thành viên rất ít có sự bàn bạc, phối hợp trong lập kế
hoạch cũng như triển khai chỉ đạo thực hiện. Các hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS dường như còn bị khép kín trong từng ngành, từng đoàn thể, từng tổ
chức tại tuyến cao nhất này.
đúng và đầy đủ về HIV/AIDS, coi đó là một loại tệ nạn xã hội và việc phòng,
chống HIV/AIDS là việc riêng ngành y tế, chưa thấy được là trách nhiệm chung
của toàn xã hội và phối hợp liên ngành đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp.
Chẳng hạn như An Giang là một tỉnh đông dân, 2 triệu dân, trong đó có khoảng
2000 hộ nghèo. Hàng năm An Giang giảm được 1% hộ nghèo tương đương với
600 hộ. Nhưng cũng thời gian đó lại có lại có thêm 1000 đến 1500 người nhiễm
HIV/AIDS mới. Như vậy rõ ràng những gia đình có người nhiễm HIV/AIDS đó sẽ
là những người nghèo. Vậy bao giờ An Giang thành công trong xóa đói giảm
nghèo nếu không đặt vấn đề phòng, chống HIV/AIDS với công tác xóa đói giảm
nghèo và phát triển kinh tế - xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và chính
quyền.
- Còn nhiều sự bất cập trong công tác lập kế hoạch hoạt động cho chương trình
quốc gia phòng chống HIV/AIDS.
Việc lập kế hoạch cho chương trình từ cấp tỉnh trở xuống là theo cách “từ trên
đưa xuống”, hạn chế sự chủ động và sáng tạo của các cấp dưới.
Tại nhiều Ban, Ngành thành viên cũng như ở nhiều địa phương, việc lập kế
hoạch hoạt động phòng, chống AIDS còn mang tính hình thức, không có sự trao
đổi, thảo luận giữa các thành viên.
Khá nhiều địa phương chưa thực sự coi trọng công tác này, giao phó toàn bộ
cho ngành Y tế đảm nhận việc phân công, tổ chức thực hiện sự tham gia liên ngành
trên địa bàn, vẫn còn nhiều lực lượng xã hội coi hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS của đơn vị mình là làm theo Hợp đồng đặt hàng của ngành y tế nên có
tiền thì hoạt động, không có tiền thì thôi và chỉ hoạt động trong phạm vi kinh phí
được phân bổ, hoạt động để quyết toán cho xong
- Các cấp Uỷ, Đảng, Chính quyền chưa phát huy được vai trò của mình trong
lãnh đạo và chỉ đạo công tác phối hợp liên ngành phòng, chống HIV/AIDS tại mỗi
địa phương.
Lãnh đạo của một số địa phương cũng tự cho phép mình đứng ngoài cuộc, chưa
nhận thức được tầm quan trọng của Chương trình phòng, chống HIV/AIDS đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn và cũng chưa nhận rõ trách nhiệm của
và nhiều yếu điểm. Đặc biệt là hầu hết các cơ sở tuyến huyện chưa đủ điều kiện cả
về nhân lực và cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc men…để có thể sẵn sàng tiếp
nhận, chăm sóc và điều trị lâu dài cho người nhiễm HIV/AIDS.
- Những cán bộ y tế cấp cao làm công tác y tế công cộng thì chưa được đào tạo
nghiệp vụ và chưa gần gũi người bệnh. Các bác sĩ điều trị thì tuy có bằng cấp
chuyên môn nhưng chưa được tập huấn về nghiệp vụ tư vấn, về xã hội học hay tâm
lý học.
- Cả nước hiện có 84 trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - LĐXH thường xuyên
tiếp nhận, cai nghiện, chữa trị cho 45 – 50 nghìn người trong đó có khoảng 18 – 20
nghìn người nhiễm HIV, trong khi đội ngũ cán bộ trung tâm vừa thiếu về số lượng,
yếu về chuyên môn nghiệp vụ phòng chống HIV/AIDS.
+ Về số lượng, số bệnh nhân AIDS liên tục tăng khiến nhu cầu chăm sóc, phục
vụ tại các trung tâm cũng tăng. Đặc biệt, khi bệnh nặng phải chuyển lên các bệnh
viện để điều trị thì mỗi bệnh nhân phải cần từ 1- 2 cán bộ thay nhau quản lý, chăm
sóc ( Bình quân 1 bệnh nhân AIDS phải nằm viện 1 tháng/ năm), bệnh nhân điều
trị thuốc kháng HIV (ARV), điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội hàng quý phải
có cán bộ đưa đi làm xét nghiệm. Trong khi đó, các trung tâm không được tăng
thêm về biên chế nên gây rất nhiều khó khăn cho cơ sở.
+ Về chất lượng, phần lớn cán bộ trung tâm chưa được tập huấn về công tác
phòng chống AIDS, cán bộ y tế chưa được đào tạo chuyên sâu về điều trị, chăm
sóc bệnh nhân HIV/AIDS trong khi đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị
phục vụ cho công tác điều trị chưa đáp ứng được yêu cầu…
- Trên thực tế, bệnh nhân HIV/AIDS vào điều trị nội trú tại các bệnh viện vẫn
được thu dung vào điều trị và sử dụng các giường bệnh của Khoa truyền nhiễm của
các bệnh viện. Hiện vẫn chưa có quy định về số giường để điều trị cho bệnh nhân
HIV/AIDS tại các bệnh viện cũng như kinh phí cho các giường bệnh này.
Tại Viện Các bệnh truyền nhiễm và Nhiệt đới quốc gia, với số lượng 12 giường
bệnh (dành riêng cho bệnh nhân HIV/AIDS) nhưng hằng năm Viện phải tiếp nhận
và điều trị nội trú cho hàng trăm trường hợp nhiễm HIV/AIDS có biểu hiện nhiễm
trùng cơ hội nặng và nguy kịch như viêm não, lao màng não, nấm da, lao màng
* Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Nhân sự phòng chống HIV/AIDS không ổn định, chủ yếu là kiêm nhiệm,
không có hoặc có rất ít người làm chuyên trách.
- Việc thuyên chuyển cán bộ, nhất là những cán bộ đã được đào tạo về phòng
chống HIV/AIDS cũng là một nguyên nhân của tình trạng thiếu nhân lực chuyên
môn cho hoạt động chăm sóc, điều trị và hỗ trợ người nhiễm HIV.
- Bên cạnh đó, cũng do tâm lý của một bộ phận cán bộ y tế không thích làm
việc trong môi trường HIV/AIDS vì nguy cơ lây nhiễm cao trong khi chế độ chính
sách còn chưa thoả đáng.
- Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông đã không làm được việc cung cấp
các địa chỉ tư vấn cho bệnh nhân. Những người nhiễm HIV hiện nay chưa có điều
kiện để tiếp cận với chương trình điều trị, bản thân họ cũng chưa có đủ thông tin về
các điểm cung cấp dịch vụ và sợ bị kỳ thị phân biệt đối xử nên không lộ diện công
khai để tiếp cận với các dịch vụ sẵn có.
5. Hiệu quả phòng, chống HIV/AIDS còn hạn chế vì nhận thức. Tình trạng
kì thị, phân biệt đối xử vẫn tồn tại khá nhiều trong dân cư.
Nhận thức của người dân về HIV/AIDS và sự tham gia của người dân vào
công tác phòng chống HIV/AIDS còn hạn chế. Sự xa lánh, kì thị, phân biệt đối xử
đối với những người nhiễm bệnh còn tồn tại khá nhiều trong bộ phận lớn dân cư.
Qua khảo sát về sự hiểu biết của người dân về con đường dây lây nhiễm
HIV/AIDS cho thấy vẫn còn nhiều người có sai lầm trong nhận thức:
- 32,8% cho rằng người nhiễm HIV nhìn bề ngoài ốm yếu
- Chỉ có 41,8% số người trả lời đúng là HIV không lây nhiễm do muỗi đốt và
không lây khi dùng chung với người đã bị nhiễm HIV.
Dịch HIV/AIDS gắn liền với các TNXH đặc biệt là ma túy, mại dâm đã làm
tăng sự phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử
đã tác động trực tiếp và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tinh thần và vật chất
của bản thân người nhiễm và gia đình họ, đồng thời cũng làm hạn chế đến công tác
quản lý, dự phòng và chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS.
Kì thị và phân biệt đối xử hiện hữu ở nhiều nơi, dưới nhiều hình thức, xuất phát
HIV/AIDS trong thời gian qua vẫn nặng tính “hù dọa” hơn là giải thích, điều này
chỉ đẩy thêm sợ hãi và tăng thêm sự kỳ thị và tỷ lệ nhiễm bệnh.
- Qua các kênh thông tin, những chương trình truyền thông về HIV/AIDS
thường đưa ra các tiểu phẩm, hình ảnh, pano, áp phích tờ rơi tuyên truyền rùng
rợn như đầu lâu xương chéo, quả cầu gai hay những thân hình người gầy guộc, tiều
tụy về căn bệnh thế kỷ. Những hình ảnh này tuy giúp người dân cảnh giác với
HIV và nhận biết sự nguy hiểm của mại dâm ma túy. Nhưng thật sự chưa làm thay
đổi hành vi cũng như động viên cộng đồng trong toàn xã hội tham gia tích cực vào
việc phòng, chống HIV/AIDS.
- Ở VN thời gian qua, có thể nói truyền thông và HIV/AIDS đã đi lệch đường
ray vì đã gắn HIV/AIDS với TNXH bằng nhiều hình thức. Trong nhiều bức tranh,
những chữ ma túy, mại dâm và HIV/AIDS thường đi liền nhau, ngụ ý những hiện
tượng này là bạn đồng hành và HIV cũng là tệ nạn. Không ít người từ lớn tuổi đến
những trẻ em ở tiểu học đều thuộc lòng câu “ma túy, mại dâm là mầm sida”. Ma
túy, mại dâm là hai đối tượng trong nhóm TNXH đã, đang lên án. Đây lại là cội
nguồn của sự lây nhiễm, từ một cách suy luận phổ thông nhất vẫn hiểu người có
HIV/AIDS đều bước ra từ tệ nạn.
Câu khẩu ngữ đã bắt người đọc đánh đồng nạn nhân và tệ nạn là một.
Thực tế, có nhiều bệnh nhân nhiễm HIV còn khỏe mạnh vẫn có thể đóng góp
nhiều cho cộng đồng. Thế nhưng, công tác thông tin, giáo dục, truyền thông
thường hay tập trung miêu tả phần đen tối nhất trong cuộc sống của họ, chủ yếu đi
sâu về họ ở giai đoạn AIDS mà quên đi những điều họ đã làm và đóng góp cho xã
hội, quên mất đi hình ảnh những người nhiễm HIV còn có nhiều khả năng kéo dài
sự sống, sống khỏe mạnh để làm việc và cống hiến. Điều này khiến cộng đồng ngộ
nhận người có nhiễm HIV/AIDS là vô dụng. Vô hình dung tạo ra trong tiềm thức
mọi người sự né tránh “con ếch” với một tâm lý ghê sợ, làm tăng sự kỳ thị với
người mắc bệnh, vô tình làm suy yếu những cố gắng tốt đẹp của chương trình
phòng chống HIV/AIDS nhằm làm giảm sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người có
HIV. Đây cũng là rào cản khá lớn của việc phòng chống HIV/AIDS trong thời
điểm hiện tại.