Tiểu luận: Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam - Pdf 11

0

Tiểu luận

Chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
1



CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI I. Tỷ giá hối đoái và sự hình thành tỷ giá hối đoái
1. Tỷ giá hối đoái:
Hầu hết mỗi quốc gia hay một nhóm quốc gia liên kết (như liên minh Châu
Âu) đều có đồng tiền riêng của mình. Việt nam có tiền đồng (VNĐ) Trung quốc có
Nhân dân tệ (CNY), Mỹ có Dollar (USD).
Mối liên hệ kinh tế giữa các nước, các nhóm nước với nhau mà trước hết là
quan hệ mua bán trao đổi đầu tư dẫn đến việc cần có sự trao đổi đồng tiền của các
nước khác nhau với nhau, đông tiền này đổi lấy đồng tiền kia, từ đó ta có thể nói
rằng: tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ
của một nước khác. Thông thường, thuật ngữ "Tỷ giá hối đoái" được ngầm hiểu là
số lượng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ, tuy nhiên ở Mỹ và
Anh được sử dụng theo nghĩa ngược lại: số lượng đơn vị ngoại tệ cần thiết để mua
một đồng USD hoặc đồng bảng Anh; ví dụ: ở Mỹ 0,8 xu/USD.
Các nhà kinh tế thường đề cập đến hai loại tỷ gia hối đoái:
 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (en): đây là tỷ giá hôí đoái được biết đến nhiều
nhất do ngân hàng nhà nước công bố trên các phương tiện thông tin đại
chúng hàng ngày.
 Tỷ giá hối đoái thực tế (er): được xác định er = en * Pn/Pf
Pn: chỉ số giá trong nước
Pf: chỉ số giá nước ngoài
Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ được sự ảnh hưởng của chênh lệch lạm phát
giữa các nước và phản ánh đúng swsc mua và sức cạnh tranh của một nước.
2. Sự hình thành tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái được quyết định bởi sự tác động giữa cung và cầu ngoại tệ

b) Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái chia ra các loại
 Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do nhà Nước công bố được hình thành trên cơ sở
ngang giá vàng.
 Tỷ giá tự do là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ cung cầu
qui định .
 Tỷ giá thả nổi là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường và nhà nước không
can thiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này.
 Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian nào đó.
c)Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia ra các
loại:
 Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ.
 Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn
bằng ngoại tệ.
 Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc chuyển khoản
ngoại hối không phải bằng tiền mặt, bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng.
 Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối
bằng tiền mặt.
4

d)Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối:
 Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mau bán ngoại hối
của chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày.
 Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá vào cuối giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại
hối của chuyến giao dịch cuối cùng trong ngày.
 Tỷ giá giao nhận ngay: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại
hối sẽ được thực hiện chậm nhất trong 2 ngày làm việc.
 Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận
ngoại hối sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng(có
thể là 1,2,3 tháng sau).
e)căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá

đại và công nghệ máy tính hiện đại có thể trao ddổi hàng tỷ USD giá trị tiền tệ mỗi
ngày.
Trên đây là 4 nguyên nhân cơ bản gây lên sự dịch chuyển đường cung và
cầu trên thị trường ngoại hối. Sự dịch chuyển này đến lượt nó sẽ gây ra những dao
động của tỷ giá hối đoái, và như vậy phản ứng dây chuyền, những biến động của tỷ
giá hối đoái lại tác động đến nền kinh tế trong nước.

III. Các chế độ tỷ giá hối đoái
Hiện nay, trên thế giới và đang tồn tại nhiều loại chế độ tỷ giá hối đoái biến
tướng từ hai hình thức cơ bản là cố định và thả nổi. Trong thế giới mà sự phụ thuộc
lẫn nhau càng tăng, việc lựa chọn một chế độ ngoại hối phù hợp với bối cảnh quốc
tế, điều kiện cụ thể từng bước và đáp ứng điều chỉnh kinh tế vĩ mô, nhất là với các
nước đang thực hiện chuyển đổi cơ chế thực sự là vấn đề nan giải.
1.Tỷ giá hối đoái cố định bản vị vàng
Theo chế độ bản vị vàng,tỷ giá hối đoái được qui định căn cứ vào hàm lượng
vàng của các đồng tiền. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, khi thương mại
quốc tế tăng lên cùng với hoạt động đầu cơ, chế độ bản vị vàng này không đáp ứng
được nhu cầu phát triển và các nước thôi áp dụng từ năm 1971.
2.Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp
Loại tỷ giá hối đoái này được áp dụng tại các nước Xã hội chủ nghĩa thời kỳ
kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp thường chênh
lệch nhiều lần so với tỷ giá hối đoái thị trường, không có vai trò là công cụ điều tiết
vĩ mô đối với xuất nhập khẩu, loại tỷ giá hối đoái này được áp dụng tại Việt Nam
trước năm 1989.
3.Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do
Theo chế độ tỷ giá hối đoái này, mức tỷ giá hối đoái được quyết định hoàn
toàn bởi các lực lượng cung cấp cầu về ngoại tệ. Trong hệ thống này chính phủ giữ
thái độ thụ động, để cho thị trường ngoại tệ đánh giá giá trị của ngoại tệ - loại tỷ
giá hối đoái này ít được áp dụng vì các thị trường tiền tệ thường không hoàn hảo và
do vậy luôn cần có vai trò can thiệp của nhà nước.

một biên độ quy định cho các mức tỷ giá giao dịch trên thị trường so với tỷ giá
chính thức đòi hỏi chính phủ nói chung và ngân hàng nhà nước nói riêng cần phải
có sự can thiệp điều phối thị trường để duy trì biên độ quy định trong hoạt động
can thiệp đó cần phải chú ý một số vấn đề sau:
_ Ngân hàng nhà nước luôn phải xác định mình là một thành phần chủ chốt,
thường trực của các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng.
_Trong công tác điều hành hệ thống tỷ giá hối đoái nói chung và thị trường
ngoại hối nói riêng, ngân hàng nhà nước cần có sự phân tích rõ ràng giữa hai chức
năng: chức năng ngân hàng đại diện cho nhà nước với chức năng can thiệp thị
trường. Trong đó chức năng ngân hàng đại diện cho nhà nước là để thực hện các
chức năng giao dịch nhằm thanh toán các khoản thu chi của nhà nước và giao dịch
tăng tích luỹ ngoại tệ theo mục tiêu. Còn chức năng can thiệp thị trường là nhằm
điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường.
_Ngân hàng nhà nước phải không ngừng chú trọng việc xây dựng và tăng
cường bộ khung của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bằng việc tăng số lượng
thành viên trên thị trường. Từng bước cho các tổ chức tín dụng không phải là ngân
hàng thương mại tham gia đầy đủ các nghiệp vụ như kỳ hạn hoán đổi mặc dù có
thể giới hạn ở việc các giao dịch này chỉ được thực hiện với các ngân hàng thương
mại và ngân hàng nhà nước.
7

_Ngân hàng nhà nước và cac bộ ngành phải có kế hoạch dự tính trước các
giao dịch của mình một cách cụ thể và không để các thành phần kinh tế khác bật ra
khỏi thị trường chính thức bằng cách các giao dịch của nhà nước không chỉ được
thực hiện trên thị trường ngoại tệ liên ngân hang mà còn phải mở rộng giao dịch
trên khu vực tự do của thị trường.
_Chú trọng hơn đến việc hoàn thiện và phát triển các công cụ của thị trường
ngoại tệ mà trước mắt là các nghiệp vụ đang hiện tồn tại như các nghiệp vụ mua
bán có kỳ hạn ngoại tệ hoán đổi bằng các biện pháp cụ thể như: ngân hàng nhà
nước, cơ quan có trách nhiệm; tổ chức báo cáo bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng,

Vào năm 1971 đến năm 1973 USD rơi vào khủng hoảng. Tổng thống Mỹ Nich-xơn
8

đã phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để cứu nguy cho USD banừg cách tăng
lãi suất chiết khấu lên rất cao để thu hút vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ quốc
tế. Tuy nhiên chính sách lãi suất chiết khấu cũng có những hạn chế nhất định, vì
quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá chỉ là quan hệ tác động qua lại gián tiếp, chứ không
phải quan hệ trực tiếp nhân quả.
2. Các nghiệp vụ thị trường hối đoái:
Thông qua các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ điều chỉnh tỷ giá hối đoái là một
trong những biện pháp rất quan trọng của nhà nước để giữ vững sự ổn định sức
mua của đồng tiền quốc gia. Đây là biện pháp trực tiếp tác động vào tỷ giá hối
đoái.
Đây là hoạt động mang tính chủ quan, do vậy việc lựa chọn các thời điểm
cần mua bán ngoại tệ trên thị trường với tỷ giá nào để đạt được mục tiêu điều chỉnh
có ý nghĩa quyết định. Để nắm được một cách đầy đủ tình hình cung cầu ngoại tệ
trên thị trường, ngày nay nhiều nước trên thế giới đã và đang tổ chức các thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng.
Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, một trong những điều kiện không
thể thiếu được cho bất kỳ quốc gia nào là cần phải thường xuyên có một lượng dự
trữ ngoại tệ dư sức để can thiệp vào thi trường khi cần thiết.
3. Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái:
Trong điều kiện tình hình giá cả thị trường luôn không ổn định, thậm chí xảy
ra những biến động lớn, các nước thường sử dụng quỹ dự trữ bình ổn hối đoái như
là một trong những công cụ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Nguồn vốn để hình thành quỹ thường là:
_ Phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc gia.
_ Sử dụng vàng để lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái. Theo phương pháp này,
khi cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt, quỹ sẽ đưa vàng ra bán thu ngoại tệ về
để cân bằng cán cân thanh toán.

đoái trong việc cân bằng cán cân thanh toán, điều tiết tái sản xuất mà còn kìm hãm
các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trì
trệ kinh tế trong một thời gian dài.
Từ năm 1989 trở về sau cho đến nay, nhà nước ta đã có những chủ trương và
giải pháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại, và chính sách tỷ giá đã từng bước xoá
bỏ cơ chế độc quyềnngoại thương, cho phép các tổ chức kinh tế được phép xuất
nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài. Số lượng các công ty được trực tiếp kinh
doanh xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên, cùng với việc mở rộng ngoại thương
chế độ tỷ giá cũng có những thay đổi căn bản; chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế
mới bản thân cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái đã được nhanh chóng thay đổi phù
hợp với bối cảnh thực tế. Từ một cơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính chủ quan bao
cấp, xa rời với thị trường; tỷ giá hối đoái đã được điều chỉnh theo các quan hệ và
điều kiện của các quy luật kinh tế thị trường. Cơ chế một tỷ giá linh hoạt, có sự
điều tiết của nhà nước đã phát huy được vai trò vừa là một phạm trù kinh tế vận
động theo quy luật cung cầu của nền kinh tế vừa là một công cụ điều tiết vĩ mô
quan trọng của nhà nước. Nhà nước đã áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự
quản lý của nhà nước nhưng việc điều hành của nhà nước trong từng năm có khác
nhau, ta có thể chia ra 3 giai đoạn: 1. Giai đoạn thả nổi tỷ giá: 1989-1993
Trong giai đoạn này, tỷ giá hối đoái VND/USD thể hiện qua bảng 1 dưới
đây:
Bảng 1: Tỷ giá và lạm phát của Việt nam qua các năm 1989-1993
10
Năm
Tỉ giá USD/VND

Trước tình hình đó, từ năm 1992 chính phủ đã chọn con đường thay đổi cách
quản lý ngoại tệ và đổi mới cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái VND/USD. Nội dung
chính của những thay đổi về chính sách và cơ chế nêu trên là:
_ Thay thế biện pháp hành chính, bắt buộc các đơn vịkinh tế quốc doanh có
ngoại tệ phải bán cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định băngf biện pháp kinh tế: mở
trung tâm giao dịch ngoại tệ để cho các doanh nghiệp và ngân hàng trao đổi mua
bán ngoại tệ với nhau theo giá thoả thuận.
_ Bãi bỏ hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thương
giữa ngân sách với các tổ chức kinh tế tham gia xuất nhập khẩu. Thay vào đó, trên
cơ sở tỷ giá hình thành tại các phiên giao dịch ngoại tệ, ngân hàng nhà nước công
bố tỷ giá chính thức. Cơ chế hình thành và quản lý tỷ giá hối đoái mềm dẻo như
vậy cộng với sự can thiệp điều tiết của ngân hàng nhá nước đối với lượng ngoại tệ
mua bán tại các phiên giao dịch đã giải toả được tâm lý đầu cơ ngoại tệ, ngăn được
xu hướng tăng quá mức giá Đôla Mỹ trên thị trường. Từ tháng 3/1992 giá USD bắt
đầu giảm.
11

2. Giai đoạn cố định tỷ giá 1993 - 1996:

Bảng 2: Lạm phát và tỷ giá Việt nam qua các năm 1993-1996

Năm Tỉ giá
USD/VND
So sánh % năm
trước
Tốc độ lạm phát
(%)
1993 10.835,00 100% 5.2
1994 11.050,00 +1.98% 14.7
1995 11.040,00 0% 12.7

12

lượng lớn cạnh tranh với hàng nội địa, thể hiện qua sự gia tăng thâm hụt cán
thương mại quốc tế của nước ta trong những năm 1993-1996 từ nhập siêu 939 triệu
USD năm 1993 lên 1,7 tỷ USD năm 1994 lên 2,7 tỷ USD năm 1995 lên 3,8 tỷ USD
năm 1996 .
Đứng trước tình hình đó, ngay từ năm 1997 cho đén nay nhà nước đã có
những chỉ đạo:
+ Chỉ đạo xử lý nợ quá hạn từ năm 1994, hạn chế kịp thời tình trạng mở LC
thanh toán tràn lan và cuối năm 1996 thông qua khống chế mức mở LC At Sight là
chủ yếu, hạn chế mở LC trả chậm, xem xét cho nhập khẩu những mặt hàng cần
thiết chủ yếu là những mặt hàng về tư liệu sản xuất, dựa vào huy động vốn trung và
dài hạn ngày càng được nâng cao và huy động vốn bằng mọi biện pháp thông qua
mức ký quỹ bắt buộc.
+ Điều hành tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu của thị trường.
3. Quá trình đi tới một chính sách tỷ giá hối đoái tự chủ theo cơ chế thị
trường (1992 - 1997)
Vào thời điểm cuối năm 1992, do kết quả sự can thiệp của ngân hang nhà
nước vào thị trường ngoại tệ, tỷ giá VND/USD dần dần ổn định khiến cho lượng
ngoại tệ của các doanh nghiệp được giải toả khỏi yếu tố đầu cơ, hướng mạnh vào
kinh doanh xuất nhập khẩu. Đồng thời ngoại tệ từ bên ngoài vàonhiều nên kinh
doanh cung cầu ngoại tệ đảo ngược so với cùng kỳ mội năm, giá Dola giảm mạnh,
mức giá phổ biến trên thị trường tư nhân Hà nội năm 1993 là 10.300 đến 10.400.
Tình trạng giá USD giảm mạnh đã ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và kích thích
nhập khẩu quá mức, nên ngân hàng nhà nước lại phải can thiệp nhằm tăng giá đồng
USD. Trong hầu hết các phiên giao dịch của quý I năm 1993, hệ thống ngân hang
phải mua Dola vào nhằm ngăn chặn xu hướng giảm giá của đồng tiền này. Từ
tháng 3/1993 USD đã lên giá dần và duy trì xu hướng lên giá một cách ổn định (ở
đây nói về tỷ giá danh nghĩa VND/USD).
Tháng 10/1994 khi thị trường ngoại tệ đã phát triển đến một giai đoạn nhất

ta có thể khẳng định tính hợp lý tương đối khách quan của chính sách tỷ giá và cơ
chế điều hành trong thời gian qua là phù hợp với quá trình vận động và phát triển
của nền kinh tế, phù hợp với thực tế Việt Nam. Tuy nhiên, với xu hướng ngày càng
phát triển của nền kinh tế theo hướng thị trường cần xem xét kỹ lợi và hạn chế
trong cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay để đưa ra giải pháp tối ưu trong thời gian
tới.
4. Giai đoạn điều hành tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của Nhà nước từ
năm 1997 đến nay.
Giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng cũng như thị trường ngoại
tệ nói chung bị giảm sút. Thực tế sáu tháng cuối năm 1997 nhu cầu mua ngoại tệ
luôn cao hơn nhu cầu bán ngoại tệ và hoạt động của thị trường lúc ngưng trệ.
Doanh số mua 6 tháng cuối năm 1997 đạt 2,5 tỷ USD, giảm 5% so với 6 tháng đầu
năm 1997, doanh số bán đạt 2,6 tỷ USD giảm 1% so với 6 tháng đầu năm 1997,
nhiều doanh nghiệp không mua được ngoại tệ đã phải mua với giá cao và chịu lỗ
rất lớn do tỷ giá tăng đột biến. Ngoại tệ tăng giá mạnh đã làm tăng nhu cầu vay vốn
VNĐ do lãi xuất thấp hơn và không chịu rủi ro về tỷ giá đã gây mất cân đối cung
cầu VNĐ trên thị trường.
Nhà nước ta đã mở rộng liên độ giao dịch của các Ngân hàng thương mại từ
1% đến 5% rồi đến 10%. Những giải pháp này cũng đã kịp thời góp phần giảm sức
ép đối với tỷ giá hối đoái VNĐ.
Năm 1997 dư nợ LC ngắn hạn chỉ còn gần 700 triệu USĐ so với 1,4 tỷ USĐ
vào tháng 6 năm 1996. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực châu á đã
ảnh hưởng gây sức ép VNĐ do yếu tố đầu cơ của thị tường, đã đẩy tỷ giá ở thị
trường tự do tăng mạnh có lúc lên đến 14600 VNĐ/USĐ.
14

Nhìn lại chặng đường đã qua có thể nói rằng năm 1997 là năm có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong tiến trình đổi mới và phát triển của hệ thống Ngân hàng
Việt Nam, một năm với những khó khăn và thử thách trên hầu hết các lĩnh vực
Mặc dù có những tổn thất mất mát nhưng hoạt động Ngân hàng vẫn tiếp tục đạt

hành quyết định 37/1998/ QĐ- TTg ( ngày 14/2/1998 ) " về một số biện pháp quản
lý ngoại tệ " Đây là một bước thành công lớn của nhà nước ta trong vấn đề quản lý
và kiểm soát ngoại tệ, nhanh chóng làm giảm cơn sốt tỷ giá ngoại tệ. Giá USD ở
thị trường tự do hơn một tháng nay đã giảm đến mức thấp, bình quân là 13.020
VNĐ/USD. Tỷ giá thị trường tự do, thị trường có tổ chức ( thị trường liên ngân
hàng , ngân hàng ) đã sát lại gần nhau. Hiện nay ngân hàng đã kiểm soát được trên
15

90% lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường, đã thu hút từ nhiều nguồn một lượng
ngoại tệ tăng thêm.

II.Lợi thế và hạn chế trong cơ chế điều hành
1. Lợi thế
Cơ chế điều hành tỷ giá trên qui định tỷ giá chính thức tạo điều kiện cho
Ngân hàng trung ương dễ dàng kiểm soát, điều tiết được thị trường hối đoái. Trước
hết là thị trường ngoại tệ trên Ngân hàng. Biên độ giao đồng quanh tỷ giá chính
thức là một công cụ hữu hiệu trong suốt giai đoạn vừa qua giới hạn này mà chúng
ta đã đạt sự ổn định tương đối của tỷ giá hối đoái trong những năm qua, góp phần
không nhỏ để đạt mục tiêu ổn định và tăng trưởng cho nền kinh tế.
- Thông qua tỷ giá của các Ngân hàng thương mại trong biên độ qui định.
Ngân hàng Nhà nước có thể dễ dàng nắm bắt được diễn biến cung - cầu ngoại tệ
thực tế của nền kinh tế, nhận biết được xu hướng vận động của tỷ giá hối đoái để
có kế hoạch điều chỉnh kịp thời. Qui định chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán
cho các Ngân hàng Thương mại, ở một mức độ nào đó, hạn chế khả năng đầu cơ tỷ
giá của các Ngân hàng tránh trường hợp tỷ giá mua và tỷ giá bán quá chênh lệch.
- Cơ chế tỷ giá thống nhất đã tạo ra một môi trường pháp lý vững chắc cho
các hoạt động kinh tế - thương mại trong tổng hoá các mối quan hệ của nền kinh tế.
Đồng thời tỷ giá chính thức tạo ra được một cơ sở pháp lý, mang tính chủ quyền
cho đồng tiền Việt Nam trong các quan hệ đối ngoại.
2. Hạn chế

ra còn có nhiều điểm chưa hợp lý, chưa thể hiện được vai trò quản lý vĩ mô và điều
tiết đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Bởi lẽ khi tỷ giá chính thức cách biệt với tỷ
giá giao dịch của các Ngân hàng Thương mại và tỷ gía thị trường tự do, thì tỷ giá
tính thuế sẽ bị hạn chế rất lớn trong vai trò điều tiết lợi nhuận thu được từ hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu. Chênh lệch về tỷ giá này sẽ tạo ra bất bình đẳng trong
quan hệ thương mại, một số trường hợp không tạo được lợi thế trong cạnh tranh
đối ngoại và khuyến khích xuất khẩu.
- Với biên độ giao dịch trong phạm vi 5% hiện nay việc qui định mức chênh
lệch giữa tỷ giá mua và bán tỏ ra chưa hoàn toàn hợp lý đối với
các Ngân hàng Thương mại. Thứ nhất, khi thị trường hối đoái có tính chất động,
luôn thay đổi, trong khi đó các giao dịch lại liên tục diễn ra, nên qui định mức
chênh lệch chỉ thể hiện mặt quản lý danh nghĩa, các Ngân hang Thương mại khó có
thể tuân thủ đúng qui định này được. Thứ hai, khung qui định chênh lệch như vậy
là tương đối chặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh. Bởi lẽ các Ngân hàng Thương
mại đã phải xác định chênh lệch tỷ giá mua, bán phải tuỳ theo vào cung - cầu của
mỗi Ngân hàng, tuỳ thuộc vào khả năng dự tính về lợi nhuận và khả năng của mồi
Ngân hàng. Thực chất qui định chênh lệch tỷ giá mua bán quá chặt chẽ như vậy
không khuyến khích hoạt động trên thị trường theo đúng các quan hệ nội tại của nó
và phần nào không tạo ra một môi trường cạnh tranh hoàn hảo trong kinh doanh.

IV.Mục tiêu nhiệm vụ và định hướng của chính sách tỷ giá hối
đoái
1. Mục tiêu
Khái quát lại cơ sở để hoạch định và xác định mục tiêu của chính sách tỷ giá
hối đoái của Việt Nam giai đoạn tới bao gồm.
- Hiện trạng kinh tế - tài chính nước ta ( trong đó quan trọng nhất là tính hợp
lý của tỷ giá hiện hành, thực trạng ngân sách, tài chính, tiền tệ, thị trường tài chính,
lạm phát , cán cân thanh toán quốc tế ), tuy đã được cải thiện một bước căn bản,
17


1. Mục tiêu trực tiếp: thường xuyên xác lập và duy trì tỷ giá hối đoái cân
bằng, ổn định dựa trên sức mua thực tế của Việt Nam đồng với các ngoại tệ, tương
quan cung cầu trên thị trường
2. Mục tiêu chiến lược: không ngừng nâng cao uy tín của ViệtNam đồng trên
cơ sở ổn định vững chắc giá trị của nó, sự tương đồng hợp lý giữa giá trị đối nội và
đối ngoại.
3. Phối hợp với chính sách quản lý ngoại hối và đẩy lùi căn bản hội chứng
Đô la hoá nền kinh tế trên cơ sở tạo ra đầy đủ tiền đề kinh tế, pháp chế để Việt
Nam đồng thực hiện trọn vẹn chức năng của mình và tăng cường vai trò trong đời
18

sống kinh tế, nhất là trong lưu thông thanh toán và với phương cách là phương tiện
tích luỹ tài sản.
4. Tạo ra các tiền đề cần và đủ để mở rộng hình thức, nội dung phạm vi
chuyển đổi của ViệtNam đồng
5. Tăng dự trữ ngoại tệ lên mức thích hợp và với cơ cấu dự trữ ngoại tệ hợp
lý đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Sở dĩ vấn đề uy tín của Việt Nam
đồng được nhấn mạnh bởi nó có ý nghĩa hết sức to lớn trên nhiều phương diện
kinh tế , chính trị, đối nội và đối ngoại, đồng thời gắn với hàng loạt vấn đề mang
tầm chiến lược. Trên phương diện lý thuyết lẫn thực tế, sự mất uy tín của đồng bản
tệ ở bất kỳ quốc gia nào bao giờ cũng là nguyên nhân của các biến động kinh tế, tài
chính và để lại nhiều hậu quả tiêu cực khó lường. Rõ ràng một đồng tiền mất uy tín
tất yếu sẽ làm tổn thương đến tích luỹ, đầu tư nội địa, loại bỏ sự hấp dẫn với FDI,
tăng nguy cơ lạm phát, chi phí lãi xuất huy động cao, nếu trầm trọng có thể bị tước
bỏ chức năng, bị đẩy ra khỏi hệ thống thanh toán tạo điều kiện cho hội chứng Đôla
hoá Là một nước mới ra khỏi khủng hoảng kinh tế trầm trọng, siêu lạm phát, uy
tín của Việt Nam đồng trong dân chúng chưa cao, đã hiểu cái giá phải trả cho việc
đồng tiền bị mất uy tín giai đoạn vừa qua.
Do vậy việc nhận thức đầy đủ vấn đề nâng cao uy tín của đồng tiền quốc gia
cũng chính là một tác nhân trực tiếp vào chiến lược vốn, chiến lược tăng trưởng

tham gia các khối kinh tế và thúc đẩy sự chuyển chia cơ cấu kinh tế theo hướng mở
cửa. Những năm gần đây đã cõ một số chuyên gia kinh tế khẳng định, những điều
kiện để VND trở thành đồng tiền chuyển đổi trên lãnh thổ Việt nam cơ bản đã hội
tụ đủ và đề nghị chính phủ công bố chính thức. Hướng toĩ sự chuyển dịch hoàn
toàn của một đồng tiền là một quá trình dài trải qua nhiều nấc thang ở mỗi nấc
thang chuyển đổi đòi hỏi điều kiện cần và đủ tương ứng. Trong lịch sử thế giới
chưa có đồng tiền nào bước ngay đến ngưỡng cửa chuyển đổi tự do và không phải
đồng tiền nào cũng có thể vươn tới sự chuyển đổi tự do cả ở trong nước và ngoài
nước.
Với thực lực, địa vị kinh tế nước ta hiện nay, trong tương lai gần thì vấn đề
chuyển đổi hoàn toàn chỉ đặt ra trong phạm vi trên lãnh thổ Việt nam. Tuy nhiên,
để đạt được mục tiêu này ngoài các điều kiện về chính trị (uy tín điều hành quản lý
của nhà nước) xã hội, tâm lý (uy tín của VND đủ mạnh), pháp chế thì phải hội tụ
đủu các điều kiện kinh tế, trong đó quan trọng nhất là nền kinh tế được củng cố
thường xuyên về thực lực, phát triển ổn định,VND ổn định vững chắc về mặt giá
trị, lạm phát ổn định ở mức rất thấp, dự trữ ngoại chiến lược đủ mạnh cơ cấu giá cả
kinh tế phù hợp với cơ cấu quốc tế, thị trường ngoại hối tài chính hoàn chỉnh và
phát triển, nền kinh tế thực sự hội nhập vào thế giới. Bên cạnh đókhi công bố chính
thức tỷ giá hối đoái cần có hệ thống chính sách, giải pháp hỗ trợ để xử lý các
tình huống bất trắc.
Cuối cùng, là quốc gia có số lượng nợ nước ngoài lớn, nợ đến hạn ngày càng
cao, nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế gia tăng mạnh, trong khi dự trữ ngoại tệ của
nước ta ước khoảng ba tháng nhập khẩu vì vậy chính sách ngoại tệ cần phải hướng
vào mục tiêu tăng dự trữngoại tệ ở mức thích hợp với cơ cấu hợp lý đảm bảo nhu
cầu nhập khẩu, trả nợ và sự can thiệphiệu qủa của nhà nước khi cần thiết.
Hệ thống mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái nêu trên có mối quan hệ
nội tại thống nhất hữu cơ hết sức chặt chẽ với nhau, trong đó mục tiêu chủ quyền
tiền tệ, chuyển đổi chỉ có thể thực hiện nếu VND thực sự có uy tín cao, ổn định,
nược lại, khi VND mở rộng nội dung hình thức chuyển đổi, mục tiêu chủ quyền
tiền tệ được thực hiện sẽ có tác động rất lớn trong việc củng cố nâng cao uy tín của

kiểm soát nhập khẩu, yêu cầu phối hợp các chính sách. Bản thân tỷ giá là hàm số
kinh tế vĩ mô, tức là cùng một lúc có nhiều yếu tố tác động đến nó, ngược lại nó
cũng tác động lại đến nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô khác, vì vậy để đạt các mục tiêu,
nhiệm vụ đặt ra nhất là trong thời đại quốc tế hoá thị trường tài chính đang diễn ra
mạnh mẽ, đòi hỏi phải có sự phối hợp hết sức đồng bộ và hiệu quả cảu hàng loạt
chính sách, giải pháp kinh tế vĩ mô, trong đó quan trọng nhất là:
- Chính sách, cơ chế quản lý giao dịchngoại hối và cơ sở pháp lý cho việc
điều hành lĩnh vực ngoại tệ.
- Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, đồng bộ, thống nhất các chính sách giải pháp
bộ phận trong lĩnh vực tiền tệ (chính sách tỷ giá, lãi suất, cung ứng tiền tệ) nhằm
tác động có hiệu quả từ nhiều hướng vào VND và đạt được tương quan hợp lý giữa
giá trị đối nội và đối ngoại của VND.
21

- Xuất phát từ đặc điểm kinh tế hiện tại của đất nước ta, xu hướng lên giá
của VND, quan hệ cung cầu ngoại tệ, để đảm bảo không ảnh hưởng đến mục tiêu
kinh tế vĩ mô khác hặc ảnh hưởng ở mức thấp, thì việc điều chỉnh tỷ giá cần phải
có sự phối hợp hiệu quả giữa các chính sách tiền tệ, tài chính, thu nhập ngoại
thương ví dụ để ngăn ngừa xu hướng lên giá của VND, cần điều chỉnh cơ cấu chi,
thu hẹp thâm hụt ngân sách nhà nước, nhất là vay nợ nước ngoài và loại bỏ xu
hướng gia tăng lương, thu nhập quá cao, hặc để khuyến khích xuất khẩu cần phải
phối hợp tỷ giá với các giải pháp thuế, tín dụng - Hoàn thiện hệ thống công cụ tài
chính, tiền tệ (cả gián tiếp và trực tiếp) việc hiện đại hoá hệ thống tổ chức tài chính
được tiến hành song song với phát triển hệ thống thị trường tài chính nhằm nâng
cao năng lực, mở rộng phạm vi điều chỉnh vĩ mô của nhà nước.
3.Định hướng điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
a) Một số vấn đề cấp bách cần xử lý:
Trong lĩnh vực tỷ gía, tỷ giá trong kinh tế thị trường ở nước ta còn nhiều vấn
đề về lý luận và thực tiễn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Để có được những định
hướng đúng đắn, chỉ dẫn phù hợp cho công tác quản lý, việc điều chỉnh tỷ giá hối

Việc điều chỉnh cơ cấu dự trữ cho phù hợp sẽ hạn chế các rủi ro do biến động tỷ
giá gây ra. Để có được cơ sở luận cứ vững chắc cho đánnh giá dự báo sự vận động
của các đồng tiền chủ chốt, đòi hỏi không chỉ theo dõi sự biến động trên thị trường
mà quan trọng là phân tích đánh giá đúng thực trạng, xu hướng phát triển kinh tế,
địa vị kinh tế chính trị của các nước đó hiện tại và trong tương lai.
+ Hoàn thiện phát triển và hiện đại hoá công tác dự báo kinh tế tài chính để
có được những đánh giá sát thựcphục cụ cho điều chỉnh kinh tế vĩ mô nói chung,
điều chỉnh tỷ giá nói riêng.
+ Cuối cùng, để công tác điều chỉnh tỷ giá phù hợp với yêu cầu khách quan
của nền kinh tế, đòi hỏi phải có những giải pháp thỏa đáng vấn đề sau: hiện tại và
tương lai gần nên gắn VND với đồng USD hay một giỏ ngoại tệ? Phương án nào là
hợp lý?. Trong giới nghiên cứu và điều hành ở nước ta hiện có hai ý kiến đặt ra: ý
kiến thứ nhất cho rằng: cần hạn chế sự phụ thuộc quá mức của VND vào một đồng
tiền nước ngoài (cụ thể là USD) do đó phải xác định tỷ giá theo giỏ ngoại tệ mạnh.
ý kiến thứ hai không phủ nhận xu hướng trên và cho rằng: trong thời gian tới USD
vẫn còn vị trí quan trọng trên thị trường tài chính quốc tế, do đó USD vẫn là đồng
tiền chủ yếu để làm cơ sở xác định chính sách tỷ giá của Việt nam.
Thực ra giữa hai ý kiến trên không có mâu thuẫn gì lớn, mặc dù trong giai
đoạn vừa qua chúng ta chưa có nhiều quan hệ ngoại thương trực tiếp với Mỹ, song
trên 90% các hợp đồng thương mại của ta được tính toán bằng USD, hơn nữa do
vai trò của USD trong đời sống kinh tế nước ta và mục tiêu của chiến lược ổn định
hoá xét trên phương diện lý thuyết, thực tiễn thì việc gắn VND với USD trong giai
đoạn vừa qua là phù hợp, hiệu quả, là giải pháp khôn ngoan. Tuy nhiên bước vào
giai đoạn phát triển mới, đa phương hoá cao độ thì phương án chuyển sang định
giá theo giỏ ngoại tệ mạnh, dựa trên cơ sở mô hình lượng về ngoại thương nhiều
chiều sẽ có lợi thế hơn cho kinh tế đối ngoaị: song dù sao chăng nữa trong giỏ
ngoại tệ tỷ trọng của USD vẫn là lớn nhất. Nhìn tổng thể, việc gắn với giỏ ngoại tệ
sẽ giảm được sự rủi ro, bấp bênh do biến động của tỷ giá song phương gây ra, thích
hợp với hiện thực là tính không thuần nhất trong thương mại quốc tế, trước hết là
sự đàn hồi (co giãn) giá cả khác nhau đối với cung và cầu theo các nhóm hàng hoá

như luôn cao hơn tỉ giá bình quân liên ngân hàng (LNH) do Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) công bố. Đặc biệt vào một số thời điểm (tháng 5, 6, 11.2008) thị trường
khá khan hiếm USD khi nhu cầu ngoại tệ của các DN tăng và áp lực rút vốn của
của một số quỹ đầu tư nước ngoài. Tỉ giá VND/USD trên thị trường tự do có thời
điểm lên mức 19.400 đồng (tính ra VND mất giá đến 21% so USD). Thời điểm
này, dư luận có tổ chức đã mua kì hạn lên 24000đồng/USD.
Từ đầu tháng 1.2009 đến nay tuy không biến động mạnh, nhưng giá USD
trên thị trường tự do trong xu hướng tăng. Tuần qua, giá USD xoay quanh mức
17.600 đồng - 17.700 đồng và có thời điểm lên đến mức 17.800 đồng, có lúc lên
đến 18.000đ, Cao hơn tỉ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại khoảng 220 -
315đ/USD.
Chiều 22.2, giá bán USD trên thị trường tự do ở mức 17.700 đồng. Cùng với
vàng, hiện nay USD đang là một kênh đầu tư thu hút sự quan tâm của các tổ chức
tài chính và các NĐT. Nhiều người dân chuyển từ VND sang cất giữ USD.
Thị trường chính thức hiện nay vẫn có sự can thiệp của Nhà nước nên nhiều khả
năng chưa hẳn đã phản ánh đúng cung - cầu. Thị trường tự do tuy chiếm khối
24

lượng giao dịch ít hơn nhiều so với thị trường chính thức, nhưng cũng là một thước
đo cung cầu khá khách quan.
Vì vậy, không nên bỏ qua tín hiệu này và cũng không nên luôn quy kết là do
tâm lý đầu cơ. Vì theo kinh nghiệm quốc tế, kỳ vọng của các tổ chức và dân cư có
những lúc đã làm vô hiệu chính sách tỉ giá của các quốc gia.
Sự kì vọng của ngân hang thương mại.
USD đang được kỳ vọng là sẽ tăng giá trong thời gian tới, tuy một vài thông
tin chính thức được công bố là sẽ ổn định tỉ giá trong năm 2009. Tuy nhiên, bối
cảnh và thực trạng nền kinh tế, đặc biệt tình hình XNK của VN trong năm 2009
nhiều khả năng sẽ khó khăn hơn năm 2008 thì làm được điều này không dễ.
Tăng trưởng của các nền kinh tế chủ chốt đang vẫn dấu hiệu xấu đi. Kinh tế
VN là nền kinh tế mở với XK chiếm trên 70%/GDP chắc chắn tiếp tục bị ảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status