Luận văn
Thực trạng khả năng cạnh
tranh của hệ thống NHTM
Việt Nam và hoạt động tín
dụng –dịch vụ của các
NHTM trên địa bàn
TP.Cần Thơ
Trang 1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VỀ CẠNH TRANH, CHIẾN LƯC CẠNH TRANH,
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Khái niệm về cạnh tranh, các chiến lược cạnh tranh của Michale porter 1
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 1
1.1.2 Các chiến lược về lợi thế cạnh tranh của Michael Porter 1
1.2 Tổng quan về NHTM, tầm quan trọng của việc mở rộng tín dụng 3
& phát triển dòch vụ của ngân hàng
1.2.1 Đònh nghóa NHTM 3
1.2.2 Chức năng của NHTM 4
1.2.3 Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM 5
1.2.4 Tín dụng ngân hàng, nghiệp vụ quan trọng của NHTM 11
1.2.5 Tầm quan trọng của việc mở rộng tín dụng ngân hàng 13
1.2.6 Một số kinh nghiệm mở rộng tín dụng ở các quốc gia trong khu vực 15
1.2.7 Dòch vụ ngân hàng, tầm quan trọng của việc phát triển dòch vụ 16
ngân hàng trong thời đại công nghệ thông tin và hội nhập kinh tế
Kết luận chương i 18
trên đòa bàn TP. Cần Thơ
2.3.2.2 Thực trạng về hoạt động dòch vụ của các NHTM TP Cần Thơ 49
giai đoạn 2002-2004
2.3.2.3 Những hạn chế của các dòch vụ Ngân hàng hiện nay 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 55
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG & DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG TRÊN ĐỊA BÀN TP CẦN THƠ
3.1 Chủ trương đònh hướng mở rộng hoạt động tín dụng và 56
dòch vụ ngân hàng trên đòa bàn thành phố Cần Thơ
3.2 Các giải pháp mở rộng tín dụng ngân hàng 57
3.2.1 Giải pháp tăng trưởng nguồn vốn huy động để mở rộng tín dụng 57
3.2.2 Mở rộng tín dụng trong lónh vực cho vay nông nghiệp và nuôi 60
trồng thủy hải sản
3.2.3 Mở rộng tín dụng tiêu dùng và cho vay các cơ quan hành 62
chánh sự nghiệp có thu
3.2.4 Mở rộng nghiệp vụ tín dụng cho vay thế chấp 63
3.3 Các giải pháp mở rộng dòch vụ 64
3.3.1 Giải pháp hạn chế thanh toán bằng tiền mặt 64
3.3.2 Giải pháp về nâng cấp hệ thống ATM và mở rộng 65
khách hàng sử dụng ATM trên đòa bàn
3.3.3 Đa dạng thêm các loại hình dòch vụ như: thanh toán 65
hộ tiêu dùng, dòch vụ phát hành thẻ bảo chi nội - ngoại tệ
cho các Ngân hàng thương mại
3.3.4 Nhanh chóng trang bò các dòch vụ Ngân hàng điện tử hiện đại 66
cho các NHTM như: Internet banking, Mobi banking, Home banking
3.4 Các kiến nghò đối với cơ quan quản lý nhà nước trong lónh vực 67
mở rộng tín dụng và dòch vụ ngân hàng
3.4.1 Kiến nghò đối với Chính phủ 67
Trang 4
PHẦN MỞ ĐẦU
[ \
1/ Tính thiết thực của đề tài:
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu của thế kỷ 21. Việt Nam cũng
như các nước đang phát triển khác trên thế giới đang nỗ lực hoà mình vào dòng hội
nhập. Chủ trương hội nhập, tham gia các tổ chức kinh tế trong khu vực và toàn cầu,
đặc biệt gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong thời gian tới đã được Bộ
Chính trò khẳng đònh tại Nghò quyết 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 về hội nhập kinh tế
quốc tế. Trong qúa trình hội nhập, Ngân hàng được xác đònh là một trong những
ngành dòch vụ quan trọng và nhạy cảm.
Mục tiêu của luận văn nhằm giới thiệu bức tranh tổng thể về hệ thống Ngân
hàng Việt Nam, khả năng cạnh tranh, những điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và
thách thức của Ngành Ngân hàng Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đồng thời phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và dòch vụ của các Ngân hàng
thương mại trên đòa bàn TP.Cần Thơ, nêu lên những mặt còn tồn tại và hạn chế về
mở rộng tín dụng – dòch vụ của các Ngân hàng trên đòa bàn. Trên cơ sở đó, để tiếp tục
tồn tại và phát triển, đủ sức cạnh tranh với các Ngân hàng nước ngoài việc tìm ra các
giải pháp để mở rộng tín dụng và dòch vụ cho các Ngân hàng thương mại TP.Cần Thơ
trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết và mang tính thực tiễn cao.
Thực trạng khả năng cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam và hoạt động
tín dụng –dòch vụ của các NHTM trên đòa bàn TP.Cần Thơ đã được luận văn phân
tích và nhận xét rõ nét, những khó khăn và hạn chế trong việc mở rộng tín dụng và
dòch vụ ngân hàng. Luận văn đã nêu lên được vai trò và tầm quan trọng của việc mở
rộng tín dụng và dòch vụ ngân hàng với những giải pháp và kiến nghò cụ thể phù hợp
với tình hình thực tế nên có thể xem xét để áp dụng vào thực tiễn.
Trang 6
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VỀ CẠNH TRANH, CHIẾN LƯC CẠNH
TRANH, TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (
NHTM )TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1/ Khái niệm về cạnh tranh, các chiến lược cạnh tranh của Michale Porter:
1.1.1/ Khái niệm cạnh tranh:
Cạnh tranh trong lónh vực kinh tế là một cuộc chạy đua về giá, cuộc chiến về
quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và tăng cường phục vụ khách hàng. Cuộc tranh đua
xảy ra do một hoặc nhiều đối thủ hoặc cảm thấy bò chèn ép hoặc thấy cơ hội để cải
thiện vò trí. Khi một công ty có một bước đi mới thì có những hiệu ứng rõ ràng đối với
cao về sản phẩm dòch vụ và sẵn sàng trả giá thêm cho sự khác biệt đó. Chiến lược
khác biệt hoá sản phẩm và dòch vụ, nếu đạt được sẽ tạo một vò trí chắc chắn cho các
NHTM đối phó với những đối thủ cạnh tranh vì có niềm tin của khách hàng vào uy tín
và chất lượng sản phẩm dòch vụ của mình.
- Chiến lược trọng tâm hoá: Nhằm tập trung vào một nhóm khách hàng cụ thể,
một bộ phận trong các loại sản phẩm, dòch vụ hay mảng thò trường nào đó. Nếu như
chiến lược chi phí thấp và khác biệt hoá hướng vào thực hiện các mục tiêu với phạm vi
hoạt động toàn ngành, thì chiến lược trọng tâm hoá được xây dựng xoay quanh việc
phục vụ thật tốt một thò trường mục tiêu đích và mỗi chính sách kèm theo đều được
phát triển theo những “ngách” đó của thò trường.
1.2/ Tổng quan về NHTM, tầm quan trọng của việc mở rộng tín dụng & phát triển
dòch vụ của Ngân hàng:
1.2.1/ Đònh nghóa NHTM :
Trong lòch sử phát triển của hệ thống ngân hàng, NHTM (Commercial Bank)
đã hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, sự phát
triển của NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến qúa trình phát triển của
kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao
nhất của nó là kinh tế thò trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở
thành những đònh chế tài chính trung gian không thể thiếu được trong hệ thống kinh
tế toàn xã hội .
Các nhà kinh tế học, các nhà quản lý kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm về
NHTM, cụ thể như sau :
- Theo Smishkin : Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay tiền.
- Theo luật ngân hàng của Thổ Nhó Kỳ: “NHTM là Hội trách nhiệm hữu hạn
thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái,
nghiệp vụ hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác”.
- Theo luật ngân hàng của Pháp năm 1941: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ
sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký
thác hoặc dưới dạng hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ vào nghiệp
vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” . Như vậy, có thể nói rằng NHTM là đònh chế
động được, ngân hàng sử dụng cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
1.2.2.2/ Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh
toán:
Trong chức năng này, xuất phát từ việc ngân hàng là người thủ qũy của các
doanh nghiệp, khiến cho ngân hàng có thể thực hiện các dòch vụ thanh toán theo sự ủy
nhiệm của khách hàng. Trong qúa trình thanh toán ngân hàng đã sử dụng giấy bạc
ngân hàng thay cho vàng trong lưu thông, và sau đó là sử dụng những công cụ lưu
thông tín dụng thay cho giấy bạc ngân hàng.
1.2.2.3/ Chức năng cung cấp dòch vụ tài chính -ngân hàng :
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân qũy, ngân hàng có những
điều kiện thuận lợi về kho qũy, thông tin quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp. Qua
đó, ngân hàng có thể làm tư vấn tài chính, đầu tư, giữ hộ giấy tờ, chứng khoán, làm
đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệp để nhận tiền hoa hồng, sẽ
vừa tiết kiệm chi phí vừa đạt hiệu qủa cao. Còn trong qúa trình tham gia thò trường
tiền tệ dưới hình thức mua bán các chứng khoán, phát hành và bán các cổ phiếu, mua
bán số dư trên tài khoản tại ngân hàng Nhà nước thì ngân hàng thương mại đơn
thuần là doanh nghiệp kinh doanh để thu lợi nhuận. Trang 9
1.2.3/ Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM :
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lónh vực tiền tệ, tín
dụng, nghiệp vụ của nó có thể chia thành những nhóm sau: Nghiệp vụ tạo vốn-nghiệp
vụ nợ; Nghiệp vụ sử dụng vốn - nghiệp vụ có; Nghiệp vụ trung gian- nghiệp vụ kinh
doanh dòch vụ ngân hàng .
1.2.3.1/ Nghiệp vụ tạo vốn - Nghiệp vụ nợ:
Là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, được gọi là
nghiệp vụ cơ bản vì các nguồn vốn này nằm bên tài sản nợ trên bảng tổng kết tài sản
của ngân hàng thương mại gồm có :
e. Các nguồn vốn khác:
Như vốn phát sinh trong qúa trình hoạt động của ngân hàng như khi làm đại lý,
dòch vụ thanh toán, bán chứng phiếu có giá, làm trung gian thanh toán.
1.2.3.2/ Nghiệp vụ sử dụng vốn - nghiệp vụ có:
a. Thiết lập dự trữ và các qũy dự trữ:
Dự trữ nhằm duy trì khả năng thanh toán thường xuyên của khách hàng và
bản thân ngân hàng bao gồm : Tiền mặt tại quỹ và tiền gửi bắt buộc tại ngân hàng
Nhà nước, tiền gửi tại các NHTM và tổ chức tín dụng khác để đáp ứng nhu cầu thanh
toán, tiền đầu tư vào các chứng phiếu có giá để sinh lợi; Quỹ dự trữ trích theo tỷ lệ
phần trăm theo qui đònh trên số lợi nhuận ròng của ngân hàng bao gồm : Trích 5% lợi
nhuận ròng hàng năm để bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự phòng rủi ro.
b. Nghiệp vụ tín dụng:
Tín dụng là một trong những nghiệp vụ chính của NHTM. Cơ cấu thu nhập
trong nghiệp vụ này mang lại luôn chiếm tỷ lệ lớn . Khi nền kinh tế càng phát triển,
nhu cầu vốn kinh doanh trong xã hội càng nhiều, vai trò của nguồn vốn tín dụng càng
quan trọng. NHTM đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín
dụng sau :
* Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá :
Là việc ngân hàng mua lại thương phiếu của khách hàng, đây là những thương
phiếu còn trong thời hạn hiệu lực. Người sở hữu thương phiếu khi bán cho ngân hàng
sẽ nhận một số tiền bằng mệnh giá thương phiếu trừ cho lợi tức chiết khấu do ngân
hàng qui đònh.
* Nghiệp vụ tín dụng thế chấp :
Tín dụng thế chấp là một hình thức cho vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp
của khách hàng, tài sản này phải là tài sản hợp pháp thuộc quyền sở hữu của người
vay, có thể bán được nhanh chóng . Khi cho vay, ngân hàng cho vay theo một tỉ lệ
trên trò giá thực tế của tài sản thế chấp và ngân hàng chỉ giữ giấy chủ quyền về tài
sản và văn thư thế chấp có xác nhận của công chứng. Khi hết hạn vay người vay phải
hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng để nhận lại các giấy tờ trên, nếu không trả được nợ
* Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng:
Đây là loại tín dụng cho vay tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng
bao gồm cá nhân và hộ gia đình để trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ,
giáo dục, y tế
c. Nghiệp vụ đầu tư :
Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thực hiện kinh doanh kiếm lãi như các doanh
nghiệp khác như :
+ Đầu tư chứng khoán bằng cách cho các công ty cổ phần đã hoạt động, các xí
nghiệp vay bằng cách mua trái khoán xí nghiệp, cho Ngân sách vay bằng cách mua
công trái, đầu tư vào các công ty bằng cách mua cổ phiếu công ty .
+ Hùn vốn, liên doanh là các biện pháp trực tiếp góp vốn đối với các doanh
nghiệp để thành lập các công ty, xí nghiệp mới . Trang 12
Theo luật Ngân hàng qui đònh, NHTM chỉ được phép dùng nguồn vốn tự có để
thực hiện nghiệp vụ đầu tư .
1.2.3.3/ Nghiệp vụ trung gian - Nghiệp vụ kinh doanh dòch vụ ngân hàng:
Đây là những nghiệp vụ mà ngân hàng thương mại thực hiện theo sự ủy nhiệm
của khách hàng để hưởng tiền hoa hồng như :
+ Chuyển tiền cho khách hàng sang đòa phương khác để họ sử dụng theo yêu
cầu hoặc trả cho một người nào đó .
+ Thu hộ: Ngân hàng đứng ra thay mặt khách hàng để thu các khoản kỳ phiếu
đến hạn, chứng khoán, hàng hóa đã bán để thu cổ tức .
+ Ủy thác là nghiệp vụ mà ngân hàng làm theo ủy thác của khách hàng như
quản lý tài sản hộ, chuyển gia tài hộ, bảo quản tài sản có giá .
+ Mua bán hộ: Theo ủy nhiệm của khách hàng, ngân hàng đứng ra phát hành
cổ phiếu hoặc trái khoán Nhà nước, hoặc mua bán ngoại tệ, kim khí quý , đá quý cho
khách hàng .
+ Làm tư vấn về tài chính, tiền tệ như cung cấp thông tin, hướng dẫn chính
ràng, trong đó ngân hàng là người cho vay, còn các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân là
người đi vay .
- Tín dụng ngân hàng vừa là tín dụng mang tính chất sản xuất kinh doanh gắn
với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa là tín dụng tiêu dùng,
không gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, qúa trình
vận động và phát triển của tín dụng Ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với qúa
trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa.
1.2.4.3/ Tín dụng ngân hàng là nghiệp vụ quan trọng của NHTM :
Ngân hàng với chức năng huy động vốn của xã hội để cho vay, ngân hàng vừa
là người đi vay vừa là người cho vay. Một mặt ngân hàng vừa phải trả lãi tiền gởi cho
khách hàng một mặt vừa phải tìm được đầu ra để cho vay, nếu không tìm được đầu ra
ngân hàng sẽ hoạt động không có hiệu qủa nên nghiệp vụ tín dụng ngân hàng rất
quan trọng đối với NHTM .
Hơn nữa, do đặc thù của nền kinh tế, nhất là ở các quốc gia đang phát triển,
nhu cầu vốn đầu tư cho toàn xã hội là rất lớn, ngoài các kênh huy động vốn để đáp
ứng nhu như thò trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, công ty tài chính, các quỹ hỗ
trợ thì nguồn vốn tín dụng của NHTM được xem là nguồn vốn chủ lực không thể
thiếu được đối với việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực tế ở các NHTM nghiệp
vụ tín dụng ngân hàng sử dụng phần lớn nguồn vốn hoạt động của ngân hàng để cho
vay, cơ cấu nguồn thu do nghiệp vụ này mang lại luôn chiếm một tỷ lệ cao, tỷ lệ này ở
các nước đang phát triển là khoảng 80%, riêng ở TP.Cần Thơ là 93% trong tổng
nguồn thu hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Vì vậy với vò thế quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, nâng
cao mức sống xã hội và là nghiệp vụ chính tạo ra nguồn thu lớn cho ngân hàng nên có
thể xác đònh rằng: Nghiệp vụ tín dụng ngân hàng là nghiệp vụ quan trọng nhất trong
hoạt động kinh doanh của các NHTM .
1.2.5/ Tầm quan trọng của việc mở rộng tín dụng ngân hàng:
1.2.5.1/ Đối với các NHTM :
- Mở rộng tín dụng ngân hàng sẽ giúp cho ngân hàng có điều kiện sử dụng tốt
nguồn vốn đã huy động từ xã hội, làm tăng hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng .
nghiêm trọng .
* Trung Quốc: Khi thực hiện nền kinh tế mở nhiều thành phần, các NHTM
Trung Quốc rất chú trọng đầu tư vào thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và các
công ty vừa và nhỏ, tỷ lệ dư nợ ở lãnh vực này thường rất cao chiếm trên 65% tổng dư
nợ ở các NHTM, tuy lúc đầu cũng có rủi ro nhưng khi ổn đònh kinh tế ngoài quốc
doanh đã trở thành nền tảng để nền kinh tế Trung Quốc phát triển . Đây là xu hướng
mở rộng tín dụng đúng đắn đã được kiểm đònh qua thực tế các NHTM Việt Nam có
thể ứng dụng để mở rộng và tăng trưởng tín dụng . Trang 15
* Hàn Quốc: Là một quốc gia phát triển, tiềm năng dự trữ ngoại tệ rất lớn.
Ngoài các hình thức mở rộng tín dụng thông thường, nét nổi bật của Hàn Quốc trong
việc mở rộng tín dụng là tài trợ xuất khẩu:
- Tín dụng xuất khẩu, tài trợ trực tiếp cho các giao dòch xuất khẩu loại hàng tư
liệu sản xuất do Hàn Quốc chế tạo bao gồm nhà máy, tàu biển, máy bay, máy móc,
thiết bò điện tử, xe vận tải, sắt thép các loại mọi nhà xuất hoặc nhập khẩu Hàn
Quốc đều được tham gia .
- Tín dụng tài trợ gián tiếp qua người mua, các NHTM Hàn Quốc cho người
mua nước ngoài vay vốn trung và dài hạn để mua hàng tư liệu sản xuất do Hàn Quốc
sản xuất, điều này đã cho phép các nhà xuất khẩu Hàn Quốc được thanh toán ngay
khi thực hiện giao hàng .
- Tín dụng dòch vụ kỹ thuật : Tín dụng dòch vụ kỹ thuật là cấp tài trợ cho các
doanh nghiệp Hàn Quốc nhằm thúc đẩy việc bán ra nước ngoài các dòch vụ kỹ thuật
bao gồm: bí quyết kỹ thuật, nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, các công trình xây
dựng ở nước ngoài
Đây là các hình thức mở rộng tín dụng hiện đại khi nền kinh tế trong nước đã
rất phát triển, tiềm lực tài chính của các NHTM là rất lớn .
+ Thái Lan: Đây là một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu
vực Đông Nam Á, mở rộng tín dụng ở Thái lan có các điểm chung là tập trung vốn
lớn. Như vậy, có thể khẳng đònh: Không có dòch vụ ngân hàng thì nền kinh tế không
thể vận động được thuận lợi và dòch vụ ngân hàng chậm phát triển thì sẽ gây ách tắc
rất lớn cho nền kinh tế.
KẾT LUẬN CHƯƠNG I: Trong nền kinh tế thò trường, NHTM là đònh chế tài
chính trung gian quan trọng, thông qua các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM nguồn vốn
nhàn rỗi của xã hội được huy động, tạo lập ra nguồn vốn tín dụng để cho vay và phát
triển kinh tế. Đồng thời, dưới tác động của các dòch vụ ngân hàng quá trình lưu thông,
chu chuyển tiền tệ, nguồn vốn xã hội và hàng hoá đã diễn ra một cách thuận lợi,
nhanh chóng. Do đó, việc mở rộng tín dụng & dòch vụ ngân hàng là rất cần thiết, góp
phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, đồng thời đem lại lợi nhuận cho
chính bản thân ngân hàng.
Thông qua hoạt động phân tích thực trạng của hệ thống NHTMVN và tình hình
hoạt động tín dụng - dòch vụ của các NHTM trên đòa bàn TP Cần Thơ sẽ cho chúng ta
một nhận xét toàn diện và sâu sắc hơn về năng lực cạnh tranh của các NHTMVN so
với ngân hàng nước ngoài, đồng thời nêu ra những mặt hạn chế, tồn tại trong hoạt
động tín dụng-dòch vụ của các NHTM TP Cần Thơ, để từ đó tìm ra những giải pháp
mở rộng tín dụng & dòch vụ cho các NHTM TP Cần Thơ, góp phần nâng cao sức cạnh
tranh cho các NHTM trên đòa bàn trong tiến trình hội nhập.
Trang 17
tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và đònh
hướng xã hội chủ nghóa, bảo vệ lợi ích dân tộc…”. Chủ trương hội nhập, tham gia các
tổ chức kinh tế trong khu vực và toàn cầu, đặc biệt gia nhập WTO đã được Bộ Chính
Trò khẳng đònh một lần nữa trong Nghò quyết 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 về hội nhập
kinh tế quốc tế. Theo đó, mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế là “Chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thò trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến
thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo đònh hướng xã hội chủ Trang 18
nghóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trước
mắt là thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong kế hoạch 5 năm 2001-2005”.
Ngày 13/1/2003, Thống đốc NHNN đã ký quyết đònh số 42/2003/QĐ-NHNN về
Chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế trong lónh vực ngân hàng, trong
đó nêu rõ 7 nhiệm vụ chính của ngành ngân hàng trong hội nhập kinh tế quốc tế gồm:
Công tác thông tin tuyên truyền, xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật; Hoàn thiện
chiến lược tổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế; Xây dựng cơ chế, chính sách tài chính
tiền tệ, nâng cao khả năng cạnh tranh; Đàm phán gia nhập WTO; Đào tạo nguồn
nhân lực, mở rộng thò trường, tranh thủ đầu tư và trợ giúp kỹ thuật của các nước và
các tổ chức quốc tế.
Tại hội thảo về việc Việt Nam gia nhập WTO đầu tháng 8/2003, Chủ tòch Uỷ
ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Phó Thủ Tướng Vũ Khoan có nhận đònh kinh
tế Việt Nam đã hội nhập khá sâu. Bằng chứng hùng hồn là kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam chiếm trên một nửa giá trò GDP, nguồn vốn FDI và ODA chiếm xấp xỉ 40%
trong nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội. Việt Nam đang tích cực thực hiện cam kết
theo AFTA, ASEAN, APEC và hiệp đònh Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, đang cùng
ASEAN tiến hành đàm phán về khu vực mậu dòch tự do ASEAN – Trung Quốc…và
đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO.
2.1.2/ Hệ thống Ngân hàng Việt Nam và khả năng cạnh tranh:
2.1.2.1/ Hiện trạng hệ thống Ngân hàng Việt Nam:
Mặc dầu công cuộc cải cách ở nước ta trong những năm gần đây đã có nhiều
tiến bộ được quốc tế thừa nhận, song vò trí xếp hạng của Việt Nam về năng lực cạnh
tranh quốc gia ít được cải thiện. Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF)
trên cơ sở 8 nhóm tiêu chí với hơn 155 chỉ tiêu, trong năm 2002 xếp hạng năng lực
cạnh tranh quốc gia của Việt Nam xếp thứ 65 trên tổng số 80 nước trong khi vò trí của
Trung Quốc đã có cải thiện rõ rệt từ xếp hạng thứ 47/75 năm 2001 lên thứ 33/80 trong
năm 2002.
Trong bối cảnh này, năng lực cạnh tranh ngành ngân hàng có thể thấy là còn
yếu ở một số khía cạnh như: Các công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ chưa được đổi
mới kòp thời, các công cụ gián tiếp trong hoạch đònh và thực thi chính sách tiền tệ sơ
khai. Hệ thống thanh toán giữa ngân hàng và khách hàng và thanh toán liên hàng
chậm đổi mới, tình trạng thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn khá phổ biến, gây ảnh
hưởng tới việc hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và cấu trúc lại hệ thống. Cơ cấu tổ
chức của Ngân hàng Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động có hiệu lực của
một hệ thống được quản lý tập trung, thống nhất. Năng lực tài chính của nhiều NHTM
còn yếu, vốn tự có nhỏ, chất lượng tín dụng thấp. Các NHTM còn nặng nề về các
nghiệp vụ truyền thống, các nghiệp vụ mới chậm được áp dụng nên hiệu quả kinh
doanh thấp cả về tín dụng và dòch vụ. Các tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh
lời của phần lớn các NHTM đều thua kém các ngân hàng trong khu vực. Hơn nữa, huy
động vốn trung và dài hạn còn bò hạn chế, một phần là do niềm tin trong dân vào sự
ổn đònh của đồng tiền chưa cao.
Hiệp đònh Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã có hiệu lực từ 10/12/2001. Trong
đó, ngành ngân hàng Việt Nam đưa ra các cam kết liên quan đến các loại hình dòch vụ
như nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính, thanh toán… Trang 20
Một số điểm mạnh và điểm yếu của các NHTM Nhà nước trong một số loại
dòch vụ nêu trên trên cơ sở so sánh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt
động tại Việt Nam:
họ có khả năng tăng mạnh về tiền gửi ngoại tệ khi được Ngân hàng Nhà nước cho
phép mở rộng phạm vi huy động tiền gửi. Tuy nhiên, thò phần tiền gửi của nhóm này
là rất nhỏ do các hạn chế về loại tiền gửi, tỷ lệ nhận tiền gửi, đòa bàn huy động tiền
gửi. Do vậy, khả năng mở rộng quan hệ khách hàng với các khách hàng Việt Nam là Trang 21
các doanh nghiệp Nhà nước lớn, về trước mắt là khó khăn. Tuy nhiên, nếu các hạn
chế về nhận tiền gửi VNĐ được dỡ bỏ thì tình thế sẽ khác hẳn.
b/ Xét về dòch vụ cho vay:
* Đối với các TCTD trong nước:
Các TCTD trong nước hiện có lợi thế trong thò phần tín dụng (trên 80%), trong
đó các NHTM Nhà nước chiếm khoảng 73,5% tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống
do họ có chi nhánh rộng, khách hàng có quan hệ truyền thống, cạnh tranh được về lãi
suất và không bò hạn chế trong giấy phép hoạt động. Các NHTM trong nước có khả
năng mở rộng thò trường tới mọi miền của đất nước và có khả năng chi phối cả dòch vụ
bán lẻ lẫn dòch vụ bán buôn khi vốn được tăng lên.
Các NHTM trong nước có vốn tự có nhỏ nên chưa đáp ứng được nhu cầu vay
vốn của các doanh nghiệp lớn và các dự án lớn. Vốn tự có nhỏ nhưng lại mở rộng tín
dụng quá lớn nên các NHTM có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp. Sau hai đợt cấp vốn
bổ sung, tổng vốn tự có của 4 NHTM Nhà nước mới đạt hơn 12.000 tỷ đồng (tương
đương 800 triệu USD), đạt tỷ lệ an toàn vốn bình quân là 5% (theo thông lệ quốc tế thì
tỷ lệ này tối thiểu là 8%). Các NHTM cổ phần bình quân vốn điều lệ đạt 100 tỷ đồng 1
ngân hàng và tỷ lệ an toàn vốn còn thấp hơn.
Các NHTMVN cho vay dựa trên đơn xin vay, phương án sản xuất kinh doanh
và tài sản thế chấp, cầm cố do các ngân hàng trong nước có khả năng rất hạn chế
trong việc thu thập, khai thác, xử lý thông tin về khách hàng.
Ngoài ra, các NHTM trong nước có nguy cơ chòu rủi ro cao do khả năng thẩm
đònh dự án và quản lý nợ yếu.
* Đối với các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài:
một số ít các NHTM áp dụng thanh toán thẻ nội đòa và mới chỉ đưa vào sử dụng trong
hạn hẹp. Các NHTM đang trong giai đoạn thí điểm vận hành máy rút tiền tự động,
dòch vụ ngân hàng qua Internet. Ngoài ra, do hạn chế về nguồn vốn và trình độ công
nghệ nên việc phát triển ngân hàng điện tử của các ngân hàng trong nước là rất khó
khăn.
* Đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài:
Các ngân hàng nước ngoài có điều kiện phát triển dòch vụ thanh toán hơn nữa
ở Việt Nam nhờ có khả năng về công nghệ tin học, kinh nghiệm và năng lực tài chính.
Bởi lẽ hầu hết các ngân hàng nước ngoài có mặt tại Việt Nam đều từ những quốc gia
có nền kinh tế phát triển lâu đời, khoa học công nghệ đã và đang tiến đến đỉnh cao.
Các ngân hàng nước ngoài cũng có lợi thế là phát triển dòch vụ thanh toán
quốc tế cho các doanh nghiệp mà trước hết là cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, dòch vụ ngân hàng điện tử cho người nước ngoài tại Việt Nam.
Tuy nhiên, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài (ngoài chi nhánh ngân hàng
của Mỹ) hiện đang bò hạn chế về đòa điểm đặt máy rút tiền tự động, về nhận tiền gửi
của dân cư trong nước, do vậy khó có thể mở rộng dòch vụ thanh toán. Ngoài ra, các
ngân hàng nước ngoài không có mạng lưới và đòa bàn rộng như các NHTM trong nước
nên gặp khó khăn trong thanh toán nội đòa.
2.1.3/ Cơ hội và thách thức đối với các Ngân hàng Việt Nam trong hội nhập
kinh tế quốc tế:
2.1.3.1/ Cơ hội:
Hội nhập quốc tế trong lónh vực ngân hàng mang lại lợi ích cho cả nền kinh tế
và cho bản thân hệ thống ngân hàng. Hội nhập quốc tế trong lónh vực ngân hàng được
hiểu là việc thực hiện chính sách kinh tế mở cửa trong lónh vực ngân hàng. Trong nền Trang 23
kinh tế mở, cạnh tranh giữa các ngân hàng là quy luật tất yếu và là động lực của sự
phát triển. Mở cửa dòch vụ ngân hàng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các
loại hình dòch vụ ngân hàng và ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn. Cạnh tranh có
hơn trên cơ sở khai thác tối đa lợi thế kinh tế trong nước và thế giới.
Hội nhập quốc tế sẽ tạo động lực thúc đẩy quá trình cải cách ngân hàng Việt
Nam, kiện toàn hệ thống văn bản pháp luật nói chung và ngành ngân hàng nói riêng.
Qua đo,ù môi trường đầu tư từng bước được cải thiện khuyến khích thu hút tối đa luồng Trang 24
vốn vào. Đồng thời, sự tăng trưởng kinh tế trong cả nước cùng sự gia tăng về quy mô
hoạt động của các ngân hàng nước ngoài khi họ được phép sẽ làm cho thò trường hấp
dẫn hơn, tiếp tục thu hút đầu tư của nước ngoài và lôi cuốn các ngân hàng nước ngoài
khác vào Việt Nam hoạt động. Nhờ đó, thò trường tài chính Việt Nam sẽ phát triển
nhanh hơn.
Ngoài ra, hội nhập quốc tế tạo điều kiện để Ngân hàng Việt Nam từng bước mở
rộng hoạt động quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội cho các nhà hoạch đònh
chính sách cấp cao của Ngân hàng Việt Nam được gặp gỡ và trao đổi với các đối tác
quốc tế về các vấn đề tài chính tiền tệ, diễn biến kinh tế, các chiến lược hợp tác vó
mô, qua đó nâng cao vò thế quốc tế của Ngân hàng Việt Nam trong các giao dòch tài
chính quốc tế.
2.1.3.2/ Thách thức:
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế nói
chung và ngành ngân hàng Việt Nam nói riêng, song hội nhập cũng có những mặt trái
của nó. Điều quan trọng là Ngân hàng Việt Nam phải biết phát huy những cơ hội có
được và khắc phục những yếu kém của chính mình, đó cũng là những thách thức đặt
ra trên con đường hội nhập.
Mở cửa thò trường trong lónh vực dòch vụ ngân hàng sẽ làm cho các TCTD
trong nước phải đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn hơn, nguồn thu sẽ giảm và những
rủi ro của thò trường mới ngày càng nhiều hơn. Các NHTM trong nước sẽ phải cạnh
tranh bình đẳng với các ngân hàng nước ngoài trong bối cảnh họ có nhiều lợi thế hơn
về mặt tài chính, kinh nghiệm quản lý, công nghệ và dòch vụ ngân hàng hiện đại. Các
NHTM trong nước sẽ phải chấp nhận cuộc cạnh tranh quyết liệt để tồn tại và phát