Bài thảo luận môn Tiền tệ Ngân Hàng
Đề tài: Tổng quan về Thị trường tài chính
Việt Nam
I.Lý thuyết chung
1.Thị trường tài chính là gì?
2..Chức năng và vai trò của thị trường tài chính
II.Thực trang thị trường tài chính Việt Nam
1.Đánh giá tổng quan về thị trường tài chính Việt Nam
2.Thị trường tài chính Việt Nam trước khi gia nhập WTO
3.Thị trường tài chính Việt Nam sau khi gia nhập WTO
4.Đánh giá thực trạng và các giải pháp khắc phục những hạn
chế hiện nay
Nhóm thực hiện: KNORR
I.Lý thuyết chung:
1.Thị trường tài chính là gì?
Bắt nguồn từ mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư và tiết kiệm: một nền kinh tế
muốn tăng trưởng thì phải có hoạt động đầu tư; trước khi muốn đầu tư, phải huy
động vốn từ nguồn tiết kiệm; đầu tư có hiệu quả sinh ra lợi nhuận lại làm tăng thêm
nguồn tiết kiệm. Vì vậy, mối quan hệ nhân quả này tuần hoàn và tạo nên sự phát
triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, vấn đề là làm sao để cho đầu tư gặp được tiết kiệm; phải có nơi
để tạo ra sự gặp gỡ này. Đó chính là quá trình giao lưu vốn hay nói khác hơn đó là
thị trường tài chính, là nơi tạo ra cơ chế cho những nguồn vốn nhàn rỗi không có
chỗ đầu tư giao lưu với những nhà đầu tư đang cần vốn.
Như vậy, thị trường tài chính là thị trường giao dịch, mua bán, trao đổi các
sản phẩm tài chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để đáp ứng nhu cầu khác nhau của
các chủ thể trong nền kinh tế. Trong đó, các chủ thể thừa vốn thì tìm kiếm lợi nhuận
thông qua hoạt động đầu tư, còn các chủ thể thiếu vốn bổ sung vốn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh và các nhu cầu đầu tư khác. Việc hình thành quá trình giao lưu
vốn giữa những chủ thể thừa vốn và thiếu vốn đã tạo nên một thị trường với đầy đủ
cơ chế như trong một nền kinh tế thị trường. Đồng thời, do sản phẩm trên thị trường
nhiều chủ thể tham gia vào thị trường và giúp chủ sở hữu các tài sản tài chính dễ
dàng chuyển đổi danh mục đầu tư theo yêu cầu. Do đó, mỗi thị trường khác nhau có
tính thanh khoản khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển các định chế tài chính
của thị trường ấy. Nếu các cơ chế của thị trường thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho các công cụ tài chính lưu thông thông suốt. Ngoài ra, thị trường tài chính
còn có chức năng định giá tài sản tài chính, phân phối vốn trên thị trường theo tín
hiệu của thị trường.
2.2.Vai trò:
a, TTTC góp phần năng cao năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế:
Bất kỳ nền kinh tế nào, trong quá trình fát triển cũng fải đối đầu với sự khan
hiếm về nguồn lực. TTTC là sản fẩm tất yếu của sự đòi hỏi tập trung tài nguyên cho
sản xuất lớn và chống lãng fí dưới mọi hình thức. Với chức năng dẫn vốn và chức
năng tiết kiệm, TTTC đã tạo điều kiện để huy động nguồn lực trong xã hội, lôi kéo
các cá nhân trở thành các nhà đtư, tận dụng mọi nguồn lực nhỏ nhất, thúc đẩy hoạt
động sang tạo ra sp và dvụ.
Đối với ngân sách Nhà nước, việc bù đắp các khoản bội chi bằng cách vay
nợ trên TTTC thay vì fát hành thêm giấy bạc NH và lưu thông là một biện fáp hết
sức quan trọng, bởi vì làm như vậy sẽ vừa có thể kiềm chế được lạm fát vừa có thể
tạo đk cho tăng trưởng nền ktế.
Tóm lại, một TTTC hđ có hiệu quả sẽ tận dụng được ở mức cao nhất mọi
nguồn vốn tiềm tàng trong nước và từ nước ngoài để phát triển kt và cải thiện đời
sống của nhân dân.
b, TTTC tạo môi trường thuận lợi để dung hòa các lợi ích kt của các chủ thể kt
khác nhau trên thị trường:
Thông qua các cuộc đấu giá tập trung giữa các nguồn cung và nguồn cầu, cơ
chế thị trường sẽ hình thành nên mức giá cả tốt nhất, có lợi cho cả người mua và
người bán, đảm bảo sự công bằng trên thị trường. Các cá nhân hoặc cộng đồng chỉ
có thể tìm thấy sự fát triển tốt nhất cho chính mình trong sự hỗ trợ để các cá nhân
hoặc cộng đồng khác cùng fát triển. Nếu thiếu TTTC hoặc TTTC kém fát triển, điều
kiện để cung cầu gặp gỡ, cọ xát sẽ bị hạn chế, do đó ko thể có mức giá cả fản ánh
Thứ ba, các nguyên tắc quản lý tài chính tiên tiến và chuẩn mực quốc tế về tính
minh bạch, kế toán, kiểm toán, giám sát... đã và đang từng bước được thể chế hoá
và ứng dụng rộng rãi hơn trong thực tế. Các thể chế về quản trị doanh nghiệp (kể cả
ngân hàng) cũng được hoàn thiện một bước, nhất là đối với các công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán.
Cuối cùng, song không kém phần quan trọng, khung pháp luật của TTTC đang
ngày càng phù hợp hơn với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Chính sách tín dụng
ngày càng đối xử bình đẳng hơn đối với các doanh nghiệp tư nhân và có vốnđầu tư
nước ngoài. Các định chế tài chính nước ngoài ngày càng được phép mở rộng phạm
vi, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của mình.
2.Thị trường tài chính Việt Nam trước khi gia nhập WTO
A, Thị trường tín dụng:
Mẫu hình TTTC Việt Nam cơ bản là dựa vào ngân hàng hay do ngân hàng chi phối
(bank-based or bank dominated financial market), trong khi thị trường tín dụng lại
chứa đựng không ít vấn đề như:
- Mức độ tích tụ và phân khúc thị trường còn cao. Các NHTM nhà nước hiện chiếm
gần 80% thị phần huy động tiền gửi và tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng.
Nhóm khách hàng truyền thống của các NHTM Nhà nước là các doanh nghiệp Nhà
nước (DNNN) Các ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu tập trung vào đối tượng
các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tỷ trong tín dụng dành cho khu vực DNNN đã giảm
từ 70% vào đầu thập niên 1990 xuống 57% năm 1996, 45% năm 2000 và 34% năm
2004. Tín dụng theo ngành cũng phản ánh sự phân khúc thị trường tín dụng, nhất là
đối với các NHTM Nhà nước
.- Rủi ro tín dụng, nhất là vấn đề nợ xấu vẫn còn hiện hữu. Tỷ lệ nợ quá hạn so với
tổng dư nợ của hệ thống NHTM được công bố đã giảm từ 13% năm 2000 xuống
còn 3,4% năm 2005. Tuy nhiên, nếu dựa trên cách phân loại quốc tế về nợ, thì tỷ lệ
nợ xấu của hệ thống NHTM có thể lớn gấp nhiều lần con số công bố. Hơn nữa,
nguy cơ tiếp tục phát sinh nợ quá hạn là khá cao do nhiều dự án đầu tư chưa được
kiểm định chặt chẽ về tính hiệu quả và khả thi, trong khi quá trình cải cách các
DNNN lớn mới chỉ thực sự được triển khai từ năm 2005.
là khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tục công bố tăng lãi suất cơ bản. Với thị
trường hàng hóa, do ảnh hưởng của việc tăng giá người dân phải chi tiêu tiền nhiều
hơn là gửi ngân hàng.
Lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng từ 0,63%-0,65%/tháng, kỳ hạn 6 tháng từ
0,65%-0,67%/tháng, kỳ hạn 12 tháng từ 0,68%-0,72%/tháng, so với đầu năm lãi
suất huy động tăng từ 0,01%-0,02%/tháng (0,12%-0,24%/năm).
Lãi suất cho vay hiện nay các tổ chức tín dụng (TCTD) đang áp dụng từ
0,78%-1,2%/tháng tùy theo thời hạn vay, khách hàng và đối tượng vay, so với đầu
năm đã tăng từ 0,11%-0,28%/năm. Dù tăng nhưng đây là diễn biến phù hợp với tình
hình biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường.
Với ngoại tệ, ngoài sự tác động bởi quan hệ cung cầu về vốn, lãi suất ngoại
tệ chịu sự chi phối và tác động mạnh từ lãi suất thị trường thế giới. Sự thay đổi lãi
suất của FED trong 5 tháng đầu năm 2005 đã làm thay đổi lãi suất huy động tiền gửi
ngoại tệ trong nước cũng như lãi suất cho vay bằng ngoại tệ. So với đầu năm, lãi
suất ngoại tệ tăng khoảng 0,04% -0,2%/tháng, trong đó tăng cao nhất là tiền gửi kỳ
hạn 3 tháng.
Đối với người dân, gửi tiết kiệm bằng VNĐ vẫn có lợi hơn. Mức lãi suất cho
vay của các ngân hàng thương mại đã đồng loạt tăng lên và lãi suất trái phiếu chính
phủ, tín phiếu kho bạc cũng tăng, cho thấy, mặt bằng lãi suất mới đã hình thành,
phù hợp với sự mất giá của đồng tiền cũng như chỉ số giá cả 5 tháng đầu năm đã
tăng 4,8%.
NHNN Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2005 đã cho tăng lãi suất cơ bản từ
0,625% lên mức 0,65%, là mức lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường hàng hóa,
thị trường tiền tệ
Thời gian này, Việt Nam đang tiếp tục mở cửa nền kinh tế theo xu hướng hội
nhập, thực hiện các cam kết của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, AFTA, cam kết
gia nhập WTO, nên thị trường trong nước diễn biến theo sát thị trường quốc tế. Thị
trường hàng hóa ở nước ta cũng như trên thế giới, tập trung là giá các loại vật tư
quan trọng, nguyên nhiên liệu chủ yếu... liên tục tăng giá cao. Ngược lại thị trường
ngoại hối, thể hiện ở giá vàng và tỷ giá USD tăng rất thấp, thậm chí còn giảm
hơn 16 lần so với cuối năm 2005, vượt xa kế hoạch mục tiêu trong Chiến lược phát
triển TTCK đến 2010 là 10-15% GDP). Có gần 400 loại trái phiếu Chính phủ, trái
phiếu đô thị và trái phiếu ngân hàng niêm yết với tổng giá trị trên 70.000 tỷ đồng,
bằng 8,5% GDP. Chỉ số VN Index đã tăng khoảng 165% so với thời điểm đầu năm
và đạt 809,86 điểm vào phiên giao dịch ngày 20/12/2006.