Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại Bảo Việt Hà Nội - Pdf 11

Lời mở đầu
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thì nhu cầu an toàn là nhu
cầu thiết yếu, nó chỉ xếp sau nhu cầu ăn uống, sinh hoạt của con người.
Con người luôn tìm cách bảo vệ chính bản thân và tài sản của mình trước
những rủi ro biến cố bất ngờ trong cuộc sống cũng như hoạt động sản xuất
kinh doanh. Trong lịch sử thì con người đã tìm ra rất nhiều cách để bảo vệ
mình, trong đó bảo hiểm là một trong những biện pháp hữu hiệu và có hiệu
quả nhất mà con người áp dụng để bảo vệ mình và tài sản.
Bảo hiểm cháy là nghiệp vụ được triển khai từ rất sớm. Hiện nay ở hầu
hết các công ty bảo hiểm phi nhan thọ đều đã triển khai nghiệp vụ này.
Trong thời gian thực tập ở Phòng cháy và các rủi ro hỗn hợp tại Bảo Việt
Hà Nội, em đã nhận thấy rằng : công tác quản trị rủi ro là một trong những
khâu quan trọng và phức tạp của bảo hiểm cháy. Vì thông qua công tác này
thì một mặt có thể đưa ra các biện pháp nhằm ngăn chặn và hạn chế tổn
thất do rủi ro hỏa hoạn gây ra, giúp người tham gia bảo hiểm ổn định về
mặt tài chính, yên tâm sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thúc đẩy nền
kinh tế xã hội phát triển, đảm bảo trật tự xã hội.
Như vậy, công tác quản trị rủi ro có vai trò vô cùng quan trọng, xuất phát
tự mục đích muốn được tìm hiểu thực trạng triển khai công tác này tại Bảo
Việt Hà Nội, bản thân em cũng rất mong muốn công tác này ngày càng
được chú trọng và thực sự phát huy hiệu quả trong hoạt động kinh doanh
đặc biệt trong nghiệp vụ bảo hiểm cháy. Do đó, em quyết định chọn đề tài
“ Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro nghiệp vụ bảo hiểm cháy tại Bảo
Việt Hà Nội “
Nội dung gồm có 3 chương
1
Chương 1 : Lý luận chung về công tác quản trị rủi ro nghiệp vụ bảo
hiểm cháy
Chương 2 : Thực trạng công tác quản trị rủi ro nghiệp vụ bảo hiểm
cháy tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 2003- 2007
Chương 3 : Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác

các vụ cháy ngày một gia tăng.
Hàng năm trên thế giới trung bình có khoảng 5 triệu vụ cháy lớn nhỏ
với ước tính thiệt hại 600 tỷ USD. Hỏa hoạn không chỉ xảy ra với nước có
kinh tế chậm phát triển mà ngay cả những nước phát triển như Anh, Pháp,
Mỹ , Đức…và nước càng phát triển thì thiệt hại do cháy càng lớn và hậu
quả càng nặng nề. Có những vụ cháy không thể phai mờ trong tiềm thức
3
nhân loại, đó là vụ cháy thành phố LONDON, nước Anh. Đám cháy bắt
đầu từ 02/09/1966 cho đến ngày 09/09/1966 đã thiêu hủy 13200 căn nhà
( gần hết thành phố LONDON lúc bấy giờ ) . Còn ở Mỹ mỗi năm có
khoảng2,4 triệu vụ cháy, thiệt hại 300.000 mạng người, tổn thất khoảng 1.8
tỷ USD.
Ở Việt Nam trong vòng 30 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký
sắc lệnh phòng cháy chữa cháy ( 04/10/1961 ) đến 04/10/1991 cả nước đã
xảy ra 566.036 vụ cháy lớn nhỏ gây thiệt hại về vật chất ước tính 948 tỷ
đồng, làm chết 2574 người. Các vụ cháy lớn có tỷ lệ ngày càng tăng. Năm
1990 số vụ cháy xảy ra là 902 vụ, chết và bị thương 380 người, gây thiệt
hại hơn 11.3 tỷ đồng. Từ 1992-1993 cả nước có 1710 vụ cháy , làm chết
213 người, làm bị thương 348 người, thiệt hại vật chất ước tính 114.76 tỷ.
Năm 1996 thống kê cho thấy có 961 vụ cháy lớn nhỏ xảy ra, gây thiệt hại
43.8 tỷ đồng, số người bị chết và bị thương là 162 người. Những vụ cháy
gây thiệt hại lớn trong những năm qua , điển hình là :
- Ngày 22/07/1993 Công ty LD sản xuất Giầy Hiệp Hưng – TP.HCM bị
cháy thiệt hại 14 tỷ đồng
- Ngày 14/07/1994 cháy chợ Đồng Xuân, thiệt hại hàng hóa ước tính 14
tỷ đồng, có 2346 hộ kinh doanh và hàng ngàn đại lý tại chợ bị thiệt hại,
những hộ kinh doianh lâm vào tình trạng khó khăn, nhiều gia đình lâm vào
cảnh túng quẫn.
- Ngày 26/06/1997 cháy kho xăng dầu Thủy Nguyên – Hải Phòng làm
thiệt hại 31 tỷ đồng.

tốt về PCCC thì hỏa hoạn vẫn có thể xảy ra nhưng với xác suất rủi ro thấp
hơn. Do việc PCCC hiện nay đang là vấn đè cấp thiết đặt ra đối với nhiều
5
quốc gia trên toàn thế giới và Việt Nam cũng là quốc gia mà tình hình cháy
đang ở mức báo động. Hiện nay có hai biện pháp hữu hiệu để hạn chế tổn
thất, giảm bớt thiệt hại do cháy gây ra là PCCC và bảo hiểm. PCCC sẽ
giúp cho các doanh nghiệp và cá nhân đề phòng và hạn chế tổn thất kho có
rủi ro cháy xảy ra. Và bảo hiểm cháy với hai vai trò là “ một giá đỡ ’’ cho
doanh nghiệp, cá nhân tham gia bảo hiểm. sẽ giữ cho các danh nghiệp có
thể bảo toàn và nhanh chóng khắc phục hậu quả đưa lại cho doanh nghiệp
trở lại quỹ đạo kinh doanh.
2 – Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm cháy
Theo tài liệu lịch sử để lại từ thời trung đại đến thời phục hưng con
người vẫn chưa có hệ thống PCCC nào hiệu quả. Chỉ đến thời hoàng đế La
Mã trị vì họ đã nghĩ ra một phương thức hiệu quả để phòng cháy chữa
cháy, đó là ở các thành phố lớn và thị trấn nhà nào cũng phải dự trữ các xô
nước đầy. Đêm có các đội tuần tra đi dọc phố nếu phát hiện ra cháy họ sẽ
báo ngay cho chủ nhà biết. Nếu hỏa hoạn xảy ra người bị thiệt hại có thể
được phường hội trợ giúp với điều kiện họ phải là thành viên của hội. Tuy
nhiên khoản trợ giúp này chưa thể coi là khoản bồi thường thực sự.
Phường hội đầu tiên theo kiểu này do nhà lái buôn thành phố Rowen
( Pháp ) thành lập năm 1374. Theo điều kiện của phường hội, khi một
thành viên bị thiệt hại sẽ được các thành viên khác sửa chữa thiệt hại do
hỏa hoạn xảy ra.
Thời gian trôi qua các biện pháp khắc phục hậu quả của hỏa hoạn vẫn
chưa có hiệu quả, cho đến năm 1666 sau khi vụ cháy kinh hoàng ở thành
phố Luân Đôn, nước Anh và các nước Châu Âu mới thấy được tầm quan
trọng của việc thiết lập nên hệ thống PCCC và bồi thường cho những
người thiệt hại một cách hữu hiệu. Với mức độ nghiêm trọng của thảm họa
này đã khiến cho các nhà kinh doanh phải nghĩ đến việc cộng đồng chia sẻ

quy tắc và biểu phí bảo hiểm cháy. Sau một thời gian thực hiện, để
phù hợp với thực tế, Bộ Tài chính lại có quyết định số 142/TCQĐ ban
hành quy tắc và biểu phí mới và Quyết định số 212/TCQĐ ngày
12/4/1993 ban hành biểu phí bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt với
mức phí cao nhất thay cho biểu phí bảo hiểm cháy theo quyết định số
142/TCQĐ
Hiện nay, tuy còn một số vấn đề tồn tại trong khi triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm cháy nhưng cùng với sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt
Năm, hầu hết các công ty bảo hiểm đều nhận thấy rằng bảo hiểm cháy là
một nghiệp vụ vô cùng thiết yếu đối với nền kinh tế nói chung và cuộc
sống con người nói riêng. Do đó, đã có nhiều công ty trong và ngoài nước
tiến hành triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này. Có thể nói rằng, bảo hiểm
cháy đã dần đi vào tiềm thức của con người Việt Nam, đáp ứng được đòi
hỏi tất yếu của xã hội và ngày càng củng cố vững chắc vị trí của mình
trong cơ cấu chung của ngành bảo hiểm Việt Nam.
3 – Vai trò, tác dụng của bảo hiểm cháy
Thứ nhất, bảo hiểm cháy là “ lá chắn kinh tế” của các doanh nghiệp, góp
phần giảm thiểu những hậu quả, những ảnh hưởng của những rủi ro liên
quan đến đời sống vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của người
tham gia bảo hiểm.
Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động sản xuất kinh
doanh đôi khi rủi ro xảy ra bất ngờ mà không ai lường trước được. Những
vụ cháy đã và đang gây nên những thiệt hại về tài sản, tính mạng con
người, làm gián đoạn quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp. Khi tham
gia bảo hiểm cháy các doanh nghiệp,các cá nhân sẽ nhanh chóng khắc
8
phục được hậu quả của rủi ro nhờ số tiền bồi thường mà các công ty bảo
hiểm chi trả cho người được bảo hiểm. Trong đa phần các trường hợp thì
số tiền bồi thường của công ty bảo hiểm đủ để bù đắp cho những mất mát,
thiệt hại mà doanh nghiệp gánh chịu do rủi ro mang đến. Điều này cũng

trách nhiệm của những bên có liên quan đến đối tượng bảo hiểm… Vì vậy
có thể nói bảo hiểm cháy góp phần đề phòng hạn chế tổn thất, mang lại sự
an toàn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng và xã hội nói
chung.
Thứ ba, bảo hiểm cháy góp phần tăng thu ngân sách cho nhà nước, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển:
Với vai trò là trung gian tài chính, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là
một kênh huy động vốn dài hạn để đầu tư trở lại cho nền kinh tế, góp phần
thúc đẩy sử phát triển của thị trường vốn ở Việt Nam, mang lại các lợi ích
không chỉ về kinh tế mà còn mang lại lợi ích về mặt xã hội. Các doanh
nghiệp bảo hiểm đã thực hiện đa dạng hóa đầu tư : tham gia thành lập công
ty cổ phần, cho vay, tham gia dự án đầu tư, mua trái phiếu, tính phiếu kho
bạc nhà nước, mua cổ phiếu, gửi tiết kiệm…. cụ thể : đầu tư chứng khoán
29,2 % , bất động sản 6,8 %, góp vốn liên doanh 7,2 % , cho vay 4,7 % và
cao nhất là gửi ngân hang 52,1 % ( năm 2002 ) ( nguồn : Tạp chí Bảo hiểm
)
Thứ tư, bảo hiểm cháy góp phần làm giảm tình trạng thất nghiệp:
Ý nghĩa kinh tế xã hội của bảo hiểm cháy còn được thể hiện thông qua
hoạt động bảo hiểm đã thu hút được một số lao động nhất định, góp phần
làm giảm bớt tình trạng thất nghiệp. Đồng thời thông qua việc bồi thường
doanh nghiệp bảo hiểm đã giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
10
nhanh chóng trở lại hoạt động bình thường và tránh rơi vào tình trạng phá
sản sau vụ hỏa hoạn lớn. điều này cũng giúp các lao động trong doanh
nghiệp tránh được tình trạng thất nghiệp.
4 – Mục đích và tác dụng của bảo hiểm
Mặc dù con người đã dung biện pháp để kiểm soát rủi ro như :
+ Tránh né rủi ro
+ Ngăn ngừa tổn thất
+ Giảm thiểu rủi ro

thất.
- Đối với Nhà nước: Khi tham gia bảo hiểm cháy, người tham gia bảo
hiểm phải đóng một khoản phí bảo hiểm tạo thành một quỹ tài chính
Bảo hiểm. Quỹ này ngoài mục đích để bù đắp kịp thời những thiệt hại
do rủi ro được bảo hiểm gây ra, nhằm ổn định tình hình tài chính cho
họ, nó cũng có vai trò to lớn trong việc cung cấp vốn đầu tư cho nền
kinh tế. Về bản chất thì các công ty bảo hiểm là các trung gian tài
chính. Ngoài hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các công ty bảo hiểm
còn tham gia các hoạt động tài chính. Qua đó, các công ty bảo hiểm
đã tạo ra bàn tay vô hình thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đây cũng
chính là nhiệm vụ chủ yếu của các công ty bảo hiểm góp phần quan
trọng vào việc tăng doanh thu của công ty trong điều kiện cạnh tranh
gay gắt hiện nay.
- Ở nước ta, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường trong điều kiện
xuất phát thấp là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, để Việt nam trở
thành nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực Đông Nam Á và
sánh vai cùng với các nước phát triển, Nhà nước ta đang thực hiện quá
12
trình CNH – HĐH trong điều kiện kinh tế mở nhằm thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Các chủ đầu tư nước ngoài do quen với việc
tham gia bảo hiểm cháy nên khi đầu tư vào Việt Nam, họ sẽ rất an tâm
nếu các công ty bảo hiểm trong nước cung cấp đầy đủ các dịch vụ để
tham gia bảo hiểm đối với các lĩnh vực mà họ kinh doanh. Như vậy,
việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy có thể tạo điều kiện thuận lợi
và thúc đẩy quá trình mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại trong công
cuộc xây dựng đất nước.
Ngoài ra, việc các doanh nghiệp tham gia bảo hiểm cháy còn có ý nghĩa
kinh tế - xã hội, đó là tạo công ăn việc làm cho người lao động và Nhà
nước thông qua hình thức thuế sử dụng mục đích đảm bảo phúc lợi xã hội
II – Nội dung cơ bản của bảo hiểm cháy

tới tận mái. Nếu mái nhà là loại dễ cháy thì phải được xây vượt quá mái
nhà ít nhất 30cm
- Nếu có các cấu kiện khác nằm trong tường ngăn cháy thì phần độ
dày còn lại vẫn phải đảm bảo giới hạn chịu lửa tối thiểu
- Không được để vật liệu hoặc cấu kiện xây dựng dễ cháy vắt ngang
qua tường ngăn cháy.
- Tường ngăn cháy phải xây cách lỗ hở trên mái ít nhất 5cm
g. Tổn thất : là sự hư hỏng mất mát thiệt hại một đối tượng nào đó ngoài
ý muốn của chủ sở hữu do cháy
2. Đối tượng của bảo hiểm cháy
Đối tượng của bảo hiểm cháy bao gồm những bất động sản, động sản
( trừ các phương tiện giao thông, cây trồng vât nuôi và các loại tài sản đang
14
trong giai đoạn sản xuất kinh doanh dở dang thuộc loại hình bảo hiểm
khác), TNDS và thiệt hại gián tiếp
-Tài sản
+ Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng ( trừ đất đai)
+ Sản phẩm, vật tư, hàng hóa dự trữ trong kho…
+ Trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh
+ Nguyên vật liệu, sản phẩm dở
+ Các loại tài sản khác
-Trách nhiệm dân sự (TNDS) : trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
người khác. Nhà bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm cho tất cả các loại hình
trách nhiệm phát sinh từ vụ hỏa hoạn và các rủi ro khác như:
+ TNDS của chủ nhà đối với người thuê nhà
+ TNDS của người thuê đối với chủ nhà
+ TNDS phát sinh đối với hàng xóm
-Thiệt hại gián tiếp : Nhà bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm cho các loại thiệt
hại gián tiếp nảy sinh từ vụ hỏa hoạn đã gây thiệt hại trực tiếp cho các tài
sản đã được bảo hiểm, bao gồm

( B ): Nếu nổ dẫn đến hỏa hoạn thì được coi là rủi ro hỏa hoạn do nổ gây
ra. Nếu hỏa hoạn mà gây ra nổ thì những tài sản nằm trong không gian bị
hỏa hoạn thì được bảo hiểm, còn lại những tài sản không nằm trong khu
vực hỏa hoạn nhưng do nổ gây ra thì không được bảo hiểm
Loại trừ các trường hợp sau :
+ Nổ các bình chịu áp suất hơi nước của người được bảo hiểm
+ Thiệt hại phá hủy đối với nồi hơi hoặc máy móc thiết bị và các chất bên
trong do nổ các chất liệu đó.
16
+ Thiệt hại gây nên bởi hoặc do hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của những
hành động khủng bố.
(C) Máy bay hoặc các phương tiện trên không khác hoặc các thiết bị trên
các phương tiện đó rơi vào
(D) Gây rối, đình công, bãi công, sa thải
Những thiệt hại gây nên trực tiếp bởi :
+ Hành động của bất kì người nào cùng với những người khác tham gia
vào việc làm mất trật tự xã hội ( dù có liên quan đến đình công, bãi công,
hay sa thải hay không )
+ Hành động của bất kì chính quyền hợp pháp nào trong việc trấn áp
hành động gây rối hoặc trong việc hạn chế hậu quả của những hành động
gây rối đó.
+ Hành động cố ý của bất kì người bãi công hay bị sa thải nào nhằm ủng
hộ bãi công hoặc chống sa thải
+ Hành động của bất kì chính quyền hợp pháp nào nhằm ngăn chặn hoặc
cố gắng ngăn chặn những hành động như vậy hay hạn chế hậu quả của
những hành động đó.
Nhưng loại trừ :
(1) Những thiệt hại gây nên bởi hoặc do hậu quả trực tiếp hoặc gián
tiếp của :
+ Phong trào quần chúng có quy mô hoặc có thể phát triển thành một

ngoài trời
+ Thiệt hại xảy ra đối với công trình đang trong giai đoạnh xây dựng cải
tạo hay sửa chữa, trừ khi tất cả cửa ra vào, cửa sổ, các ô mở khác đã được
hoàn thành và bảo vệ chống giông bão.
18
+ Thiệt hại do nước hoặc mưa, ngoại trừ nước và mưa tràn vào các công
trình thông qua các cửa và ô trống khác do tác động trực tiếp của giông bão
(H) Xe cộ hay súc vật không thuộc quyền sở hữu, kiểm soát của người
được bảo hiểm ay nhân viên họ đâm vào.
b. Rủi ro loại trừ
* Những thiệt hại gây ra do
+ Gây rối, quần chúng nổi dậy, bãi công, sa thải công nhân trừ khi trường
hợp rủi ro được ghi nhận là được bảo hiểm trong giấy chứng nhận bảo
hiểm nhưng trong phạm vi bảo hiểm đã được quy định tại rủi ro đó.
+ Chiến tranh, xâm lược, hành động thù địch, hành động khiêu khích
quân sự của nước ngoài, nội chiến.
+ Binh biến, dấy binh, bạo loạn, khởi nghĩa, cách mạng, bạo động, đảo
chính, thiết quân luật,phong tỏa, giới nghiêm hoặc những biến cố và
nguyên nhân dẫn đến việc tuyên bố và duy trì tình trạng khẩn cấp hoặc giới
nghiêm, tịch thu, trưng dụng, trưng thu, quốc hữu hóa, phá hoại và hành
động khủng bố do một nhóm hành động đại diện cho hoặc có liên quan đến
một tổ chức
* Thiệt hại xảy ra đối với bất kì tài sản nào, hoặc bất kì tổn thất hoặc chi
phí nào bắt nguồn từ hoặc phát sinh thiệt hại đó hoặc bất kì tổn thất có tính
chất hậu quả nào, trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên bởi hoặc phát sinh từ :
+ Nguyên liệu vũ khí hạt nhân
+ Phóng xạ ion hóa hay nhiễm phóng xạ từ nhiên liệu hạt nhân hoặc từ
chất thải hạt nhân do đốt cháy nhiên liệu hạt nhân
+ Sử dụng cố ý hoặc không cố ý tên lửa hoặc bất kỳ loại vũ khí chiến
tranh nào

b. Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là khoản tiền nhất định ghi trong đơn hoặc giấy chứng
nhận bảo hiểm để xác định giới hạn trách nhiệm của người được bảo hiểm
trong quá trình bồi thường.
Số tiền bảo hiểm là giới hạn bồi thường tối đa của người bảo hiểm trong
trường hợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ. Số tiền bảo hiểm do
người bảo hiểm và người được bảo hiểm thỏa thuận và ghi trong giấy
chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm, số tiền này không vượt quá giá
trị bảo hiểm
Trong bảo hiểm cháy, nhà bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm bộ phận
mà chỉ có thể chấp nhận bảo hiểm dưới giá trị ( Bảo Việt chấp nhận bảo
hiểm bằng 50% giá trị bảo hiểm) . Khi người tham gia bảo hiểm muốn mua
bảo hiểm tài sản với số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm ( bảo hiểm
dưới giá trị ) thì phải ghi rõ trong đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo
hiểm là số tiền bảo hiểm bằng bao nhiêu phần trăm giá trị bảo hiểm nhưng
không thấp hơn một tỷ lệ nhất định. Tỷ lệ này là căn cứ để xét bồi thường
Trong mọi trường hợp, số tiền bồi thường của nhà bảo hiểm không vượt
quá giá trị bảo hiểm. Nếu nhà bảo hiểm bồi thường nhiều lần ( nhiều vụ tổn
thất khác nhau) đối với cùng một tài sản thì tổng số tiền bảo hiểm trong các
vụi tổn thất cũng không lớn hơn số tiền bảo hiểm trong cùng thời hạn của
hợp đồng bảo hiểm. Sau mỗi lần bồi thường, số tiền bảo hiểm lại giảm đi
một lượng bằng với số tiền bồi thường đã trả. Muốn khôi phục lại số tiền
bồi thường như cũ thì người được bảo hiểm phải nộp thêm một khoản phí
21
bổ sung tương ứng số tiền bồi thường tăng thêm và tỷ lệ với khoảng thời
gian còn lại hợp đồng bảo hiểm.
5. Phí bảo hiểm
a. Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho nhà
bảo hiểm để nhận được sự đảm bảo trước các rủi ro được nhà bảo hiểm

2. Điều chỉnh mức phí theo từng yếu tố làm tăng giảm phí
c. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức phí bảo hiểm cháy
Trong bảo hiểm cháy, để xác định được mức phí phù hợp, nhà bảo hiểm
phải quan tâm đến các yếu tố thường xuyên ảnh hưởng đến việc định phí
bảo hiểm cháy
Các yếu tố đó là :
- Ngành nghề kinh doanh chính của người được bảo hiểm khi sử dụng
tài sản được bảo hiểm vào kinh doanh
- Vật liệu xây dựng : tùy theo các yếu tố kết cấu, vật liệu xây dựng có
thể chịu được lâu dài hay không đối với sức nóng
- Vị trí địa lý của tài sản được bảo hiểm : chẳng hạn tài sản nằm xa hay
gần trạm cứu hỏa, vùng địa lý chịu ảnh hưởng của động đất, lũ lụt…
có ảnh hưởng tới việc định phí bảo hiểm cháy.
- Độ bền của nhà xưởng, vật kiến trúc ( khung nhà, tường nhà, sàn, nóc
và mái nhà )
- Yếu tố sử dụng điện trong khu vực có tài sản được bảo hiểm
23
- Trang thiết bị PCCC, nếu công tác PCCC được đảm bảo, trang thiết bị
PCCC tốt …. Hạn chết tới mức thấp nhất rủi ro xảy ra thì phí sẽ được
tính thấp hơn.
d. Các nhân tố làm tăng (giảm) phí bảo hiểm
Các nhân tố làm tăng phí : Khi đối tượng bảo hiểm có các công trìnhphuj
trợ dễ cháy như dây chuyền sản xuất sơn, gỗ hay chứa các thiết bị dễ cháy,
tỏa nhiệt, phát nhiệt hay các trung tâm máy tính không có tường ngăn
chống lửa, không có trang thiết bị PCCC cần thiết…
Các nhân tố làm giảm phí :
+ Khi công trình được bảo hiểm có các thiết bị báo cháy tự động, nối liền
với trạm cứu hỏa công cộng, với đội PCCC của doanh nghiệp
+ Mức miễn thường : Mức miễn thường bắt buộc trong bảo hiểm cháy là
0,2 % số tiền bảo hiểm nhưng không thấp hơn 100 $ và không cao hơn

Cách 1 : Bồi thường theo nguyên tắc tỷ lệ số tiền bảo hiểm
Theo cách này thì có thể phòng tránh những phiền toái cho nhà bảo hiểm
khi người tham gia bảo hiểm khiếu nại hoặc có ý định trục lợi bảo hiểm.
Quá trình của phương pháp này được thực hiện như sau :
- Nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị thực tế của tài sản được bảo hiểm,
thì tại thời điểm xảy ra tổn thất số tiền bồi thường sẽ là :
…………………………………………………………….
- Trong trường hợp số tiền bảo hiểm bằng giá trị bảo hiểm của tài sản
tại thời điểm xảy ra tổn thất thì số tiền bồi thường ngang bằng giá trị
thiệt hại.
25

Trích đoạn Nhận dạng rủi ro Đo lường và đỏnh giỏ. Lựa chọn rủi ro cú thể bảo hiểm ( Quyết định bảo hiểm)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status