lời nói đầu
Trong những năm gần đây , công cuộc đổi mới nền kinh tế đã tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp đợc quyền tự chủ hoạt động sản xuất kinh
doanh .Tuy nhiên nớc ta vẫn là một trong những nớc nghèo nhất thế giới . Để
tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các quốc gia ở khu vực và trên
thế giới , chúng ta cần không ngừng nỗ lực , lợi dụng những thuận lợi sẵn có
để đẩy mạnh việc đầu t phát triển kinh tế - xã hội . Nhng để tiến hành mọi
hoạt động đó thì các doanh nghiệp cần phải có vốn . Câu hỏi đặt ra cho các
doanh nghiệp là cần phải làm thế nào để tạo lập nguồn vốn trong hoạt động
sản xuất kinh doanh ?
Trong nền kinh tế thị trờng , vốn có ý nghĩa vô cùng to lớn , nó có vai
trò quyết định để thành lập và phát triển bất cứ doanh nghiệp nào .Vốn không
tự nhiên mà có , nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có phơng thức tạo vốn và
huy động vốn để đáp ứng đợc những đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế thị
trờng .
Qua quá trình học tập tôi nhận thấy vấn đề huy động vốn là vấn đề vô
cùng quan trọng . Do vậy tôi chọn đề tài :
" Một số giải pháp nhằm tăng cờng huy động vốn
ở Công ty TM Hơng Lúa "
Mục đích nghiên cứu đề tài này là nghiên cứu các lý thuyết kinh tế về
huy động vốn trong các doanh nghiệp kết hợp với thực trạng huy động vốn
của Công ty trong thời gian qua , từ đó đa ra một số ý kiến nhằm góp phần
giải quyết một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của công ty là huy động
vốn có hiệu quả nhất .
Với quy mô cho phép của đề tài và thời gian thực tập có hạn, tôi xin đề
cập một số vấn đề chính của huy động vốn và một số các biện pháp giải quyết
những tồn tại chủ yếu trong việc huy động vốn của Công ty .
Nội dung đề tài gồm có :
Chơng I : Nguồn vốn của các doanh nghiệp
Chơng II : Thực trạng tăng cờng huy động vốn tại C.T TM Hơng Lúa
Chơng III : Giải pháp và kiến nghị
đầu t. Vốn trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết của
mọi quá tình đầu t sản xuất, kinh doanh.
Thông qua thị trờng, vốn lu thông rộng rãi và thể hiện đầy đủ bản chất,
vai trò của nó. Các Mác đã khái quát hoá vốn qua phạm trù T bản: T bản là
giá trị mang lại "giá thị thặng d". Định nghĩa cô đọng này đã phản ánh đợc nội
dung, các đặc trng và vai trò, tác dụng của vốn. Tuy nhiên do hạn chế của trình
độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật
chất mới tạo ra giá trị thặng d cho nền kinh tế.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học t bản thì không những khu vực
sản xuất vật chất tạo ra giá trị thặng d cho nền kinh tế mà còn phải kể đến cả
khu vực dịch vụ...
Tóm lại, có thể đa ra một khái niệm khái quát về vốn của doanh nghiệp
nh sau:
"Vốn của doanh nghiệp là các quĩ tiền, vốn mà các doanh nghiệp
dùng vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Vốn thực chất là một số
tiền mà các doanh nghiệp ứng ra trớc một chu kỳ sản xuất kinh doanh và nó
phải đợc thu hồi đầy đủ(bảo toàn về giá trị) sau mỗi chu kỳ sản xuất, kinh
doanh."
(1)
Trớc hết vốn đợc biểu hiện dới hình thái giá trị của những tài sản, tức là
vốn phải đại diện cho một lợng giá trị thực của tài sản nhất định bao gồm: tài
sản hữu hình nh t liệu sản xuất, nhà máy, đất đai, nguyên vật liệu... Và tài sản
vô hình nh chất xám, nguồn nhân lực, thông tin...
Điều này phân biệt rõ vốn khác với tiền. Có ngời ngộ nhận giữa đồng tiền
giấy - tiền phát hành ra với vốn nh thờng gọi và cho rằng tiền do nhà nớc
phát hành ra cũng là vốn. Suy nghĩ nh vậy là không đúng. Vì một lợng tiền đợc
(1)
Bài giảng môn học lý thuyết Tài chính- tiền tệ. Tiến sỹ: Nguyễn Hữu Tài.
in không phát hành trên cơ sở giá trị thực của hàng hoá để đa vào đầu t thì đó
chỉ là vốn giả tạo chứ không phải là vốn đầu t thực chất. Chỉ những đồng tiền
mang lại hiệu quả đồng thời tăng sức cạnh tranh. Do đó vốn bị phân tán, không
đợc huy động, đóng góp, khai thác.. sẽ không phát huy đợc tác dụng mạnh mẽ.
Vì thế nhà đầu t ngoài việc khai thác tiềm năng vốn của đơn vị, còn tìm cách
huy động vốn thông qua hình thức: "hùn" vốn, liên doanh, phát hành cổ
phiếu...
- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền - phản ánh giá trị của những tài
sản hữu hình nh đất đai, nhà máy, thiết bị.... Mà nó còn đợc biểu hiện bằng
giá trị của những tài sản vô hình nh nhãn hiệu, vị trí kinh doanh, bản quyền
phát minh sáng chế...
Tài sản vô hình rất đa dạng, phong phú và giá trị của nó rất lớn. Nếu khai
thác và sử dụng có hiệu quả, tài sản vô hình này sẽ đem lại lợi nhuận rất lớn.
Đặc biệt trong việc đầu t liên doanh, đánh giá doanh nghiệp để bán hoặc thanh
lý... Cần phải giá trị hoá chính xác các tài sản trong đó có tài sản vô hình.
Từ những phân tích trên đây về phạm trù vốn trong nền kinh tế ta có thể
rút ra đợc định nghĩa chung: "vốn là giá trị của các tài sản xã hội đợc đa vào
đầu t nhằm mang lại hiệu quả trong tơng lai."
(1)
2.Vốn kinh doanh và đầu t vốn của doanh nghiệp:
vào kinh doanh và sau một chu kỳ hoạt động phải đợc thu về để đáp ứng
tiếp cho chu kỳ hoạt động sau . Vốn kinh doanh không thể bị tiêu mất đi , mất
vốn đối với doanh nghiệp đồng nghĩa với nguy cơ phá sản.
(1)
Bài giảng môn học lý thuyết tài chính- tiền tệ. Tiến sỹ: Nguyễn Hữu Tài.
2.2: Đầu t vốn của doanh nghiệp
Là quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp vào quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tạo ra lợi nhuận. Trong quá trình đầu t vốn của
doanh nghiệp, có thể chia hai loại:
- Đầu t vào trong nội bộ của các doanh nghiệp: đầu t vào các yếu tố trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Ví dụ nh đầu t để mua
sắm tài sản cố định, nguyên- nhiên vật liệu, trả lơng cho công nhân viên...
- Vốn điều lệ của các doanh nghiệp: đợc hình thành từ nguồn nào thì nó
tuỳ thuộc vào hình thức sở hữu của các doanh nghiệp.
+ Nếu doanh nghiệp nhà nớc: thì nguồn hình thành là ngân sách nhà nớc.
+ Nếu doanh nghiệp thuộc sở hữu cổ phần: thì nguồn hình thành do cổ
đông, ngời mua cổ phiếu, cổ phần...
+ Nếu doanh nghiệp của t nhân: do t nhân bỏ ra.
- Vốn từ việc phát hành cổ phiếu:
Cổ phiếu là một giấy chứng nhận việc đầu t vốn vào công ty cổ phần và
quyền đợc nhận một phần lợi nhuận từ công ty cổ phần ấy, quyền đợc chia tài
sản từ công ty cổ phần ấy.
Cần phân biệt vốn điều lệ và vốn pháp định. Vốn pháp định là số lợng vốn
tổi thiểu mà một doanh nghiệp cần phải có khi nó hình thành, hoạt động và do
pháp luật quy định.
Có hai loại cổ phiếu:
+ Cổ phiếu có ghi tên: ghi rõ họ tên của chủ sở hữu. Nó không đợc tự do
chuyển nhợng, mua bán. Nó chỉ có thể đợc chuyển nhợng trong điều kiện đợc
sự đồng ý của hội đồng quản trị của công ty cổ phần đó. Nó dành cho các nhà
sáng lập viên của công ty cổ phần. Đây là hình thức pháp luật ràng buộc các
ngời sáng lập viên với công ty cổ phần đó.
+ Cổ phiếu không ghi tên(vô danh): trên cổ phiếu không ghi rõ họ tên
của ai. Nó đợc tự do chuyển nhợng mua bán. Ngời nào cầm cổ phiếu là ngời đó
có quyền chia tài sản... Ngời ta chia hai loại:
Các cổ phiếu u đãi(đặc quyền): trong cổ phiếu ghi rõ về thu nhập mà cổ
phiếu đó đợc hởng(có tính chất cố định). Ví dụ: 6%/năm. Tuy nhiên cổ đông
cũng không đợc hởng một số quyền kiểm soát doanh nghiệp(nh bầu cử hội
đồng quản trị, ban kiểm soát...).
Các cổ phiếu thông thờng: là loại cổ phiếu mà thu nhập của nó(lợi tức cổ
phiếu) lên hay xuống tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Đây là loại cổ phiếu có rủi ro cao nhất.
- Các quỹ đợc tạo nên trong quá trình hoạt động kinh doanh của
ơng mại, tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế khác, tiền vay từ phát hành trái
phiếu, các khoản nợ phải trả cho ngời bán, cho Nhà nớc, cho cán bộ công nhân
viên...
Một doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả, với mức sinh lời cao và
đảm bảo khả năng cạnh tranh thắng lợi trên thị trờng thì ngoài nguồn chủ sở
hữu, nó phải vay vốn trên thị trờng để hình thành vốn của mình. Trong nền
kinh tế thị trờng, vốn vay của doanh nghiệp thờng chiếm tỷ trọng lớn hơn rất
nhiều so với vốn chủ sở hữu. Đây là nguồn vốn cung cấp chủ yếu cho hoạt
động kinh doanh của đơn vị. Nguồn này có thể đợc hình thành bằng một số
biện pháp sau:
- Nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, các ngân hàng:
Số vốn này chiếm chủ yếu trong các nguồn vốn vay của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế hiện đại, quan hệ giữa doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng
là quan hệ quan trọng nhất. Trên thế giới, kể cả ở các nớc phát triển nh Mỹ,
Nhật Bản, các nớc Tây Âu vẫn có tới 70% lợng vốn cho nền kinh tế đợc huy
động thông qua các tổ chức tài chính trung gian, các ngân hàng. Hiện nay, nớc
ta cha có một thị trờng tài chính đầy đủ, thị trờng chứng khoán đang ở trong
giai đoạn mới đi vào hoạt động. Thì việc huy động vốn qua kênh này là rất
quan trọng và hết sức cần thiết. Hình thức huy động vốn này có điểm là linh
hoạt và đáp ứng đúng thời điểm cần thiết. Các khoản cho vay rất đa dạng, thời
gian ngắn hoặc trung hạn, dài hạn tuỳ thuộc vào nhu cầu của các doanh
nghiệp. Tuy nhiên các doanh nghiệp muốn vay đợc vốn phải đáp ứng đợc yêu
cầu khá khắt khe của các ngân hàng nh tình hình tài chính ổn định, dự án đầu
t phải có triển vọng... , các khoản chi phí vay lại không nhỏ. Điều này đòi hỏi
các doanh nghiệp phải tính toán một cách cẩn thận về khối lợng và thời gian
vay vốn, khả năng sinh lãi của dự án nếu không sẽ dễ rơi vào tình trạng nợ nần,
lợi nhuận không đủ để chi trả cho lãi vay.
- Nguồn vốn vay trên thị trờng chứng khoán:
Những nớc có nền kinh tế phát triển, họ có thị trờng chứng khoán rất phát
triển. Việc vay vốn trên thị trờng chứng khoán là một hoạt động khá quan
thức huy động vốn của doanh nghiệp, đây là một hình thức phân tán rủi ro.
Tuy nhiên nó cũng tồn tài một số nhợc điểm là ngời đi vay phải chịu giá
cao hơn bình thờng. Trong khi hợp đồng đang còn giá trị, nếu tài sản đó không
sử dụng đợc nữa, ngời vay vẫn phải thực hiện đúng trong hợp đồng.
Cần phải lu ý thêm hình thức thuê vận hành thời gian thờng ngắn, ngời
thuê chỉ phải trả tiền thuê theo thoả thuận, trong khi đó ngời cho thuê phải chịu
mọi chi phí vận hành của tài sản nh chi phí bảo chì, bảo hiểm, thuế tài sản...
cùng với mọi rủi ro hao mòn vôn hình của tài sản. Hình thức này hoàn toàn
phù hợp với các hoạt động có tính chất thời vụ.
Hình thức tín dụng thuê mua mới xuất hiện từ giữa những năm 50, nhng
nó đã phát triển nhanh chóng trong vài thập kỷ qua và trở thành một hình thức
tài trợ tài sản cố định đợc các doanh nghiệp a thích. Hiện nay ở Việt Nam hình
thức này đã hình thành nhng cha thực sự phát triển. Tin chắc rằng trong tơng
lai hình thức này sẽ phát triển mạnh và nó sẽ trở thành một giải pháp tốt về huy
động vốn để cho các doanh nghiệp nớc ta hoạt động có hiệu quả hơn.
- Nguồn vốn liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau. Tức
là nguồn vốn mà các doanh nghiệp góp vốn theo phơng thức cùng hợp tác kinh
doanh, cùng chia sẻ rủi ro nếu có và cùng phân chia lợi nhuận.
- Các nguồn khác của doanh nghiệp. Ví dụ nh các nguồn tài trợ, các
khoản bồi thờng, các quỹ khác...
3.2.3. Cổ phiếu và trái phiếu công ty:
Giữa cổ phiếu và trái phiếu công ty có một số điểm giống và khác nhau
căn bản nh sau:
- Khi các công ty phát hành cổ phiếu thì công ty đó tập trung đợc nguồn
vốn chủ sở hữu. Khi các công ty phát hành trái phiếu ra thị trờng thì công ty đó
tăng thêm nguồn vốn đi vay của mình. Đồng thời khi phát hành cổ phiếu công
ty cổ phần không có trách nhiệm hoàn trả tiền cho ngời mua cổ phần, còn khi
phát hành trái phiếu thì phải hoàn trả lại tiền(bao gồm cả gốc và lãi).
- Ngời mua cổ phiếu của công ty họ có quyền làm chủ sở hữu của công
ty, cho nên họ có quyền tham gia quản lý và điều hành công ty cổ phần. Ngời
hiện có, mặt khác có thể đa dạng hoá các kênh huy động vốn.
II. Quản lý vốn:
1. Quản lý vốn cố định:
1.1. Khái niệm:
Vốn cố định là giá trị biểu hiện bằng tiền của tổng tài sản cố định trong
doanh nghiệp. Tài sản cố định thuộc loại tài sản có giá trị lớn và có thời gian
sử dụng lâu dài. Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Đặc trng của tài sản cố định là không thay đổi hình thái vật chất sau mỗi
chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, giá trị của nó giảm dần do có hao
mòn. Có hai loại hao mòn tài sản cố định là hao mòn vô hình và hao mòn hữu
hình. Để chống hao mòn cần phải trích quỹ khấu hao nhằm bù đắp cho hao
mòn tài sản cố định. Tất nhiên nó không trùng khít với số tiền tài sản thực tế bị
hao mòn(có thể lớn hoặc nhỏ hơn).
1.2. Các phơng pháp tính khấu hao tài sản cố định:
Khi xác định mức trích khấu hao của tài sản cố định. Nhà quản lý cần
xét các yếu tố sau:
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm(do tài sản cố định đó chế tạo ra) trên thị
trờng.
- Hao mòn vô hình của tài sản cố định.
- Nguồn vốn đầu t cho tài sản cố định.
- Quy định của nhà nớc trong việc trích khấu hao tài sản cố định.
* Phơng pháp tính khấu hao cố định bằng nguyên giá tài sản cố định(giá
ban đầu) trừ đi giá trị thanh lý dự kiến của tài sản cố định. Sau đó chia cho thời
gian sử dụng dự kiến.
Đây là phơng pháp đơn giản nhất, nhng nó thờng kém chính xác do
trong công thức có hai yếu tố dự kiến và mức khấu hao hàng năm là nh nhau.
Trên thực tế mức khấu hao hàng năm khác nhau, do vậy ngời ta thờng không
sử dụng.
* Phơng pháp tính khấu hao tổng hợp có tỷ trọng: ngời ta sẽ phân loại
tổng tài sản cố định theo từng nhóm. Mỗi nhóm xác định 2 yếu tố:
Muốn sử dụng tài sản cố định một cách có hiệu quả thì cần phải giảm
hao mòn của nó. Nh vậy, cần phải huy động tối đa công suất sử dụng của tài
sản cố định, sắp xếp một cách khoa học nhất các dây chuyền sản xuất và tiết
kiệm thời gian hao phí. Đồng thời kết hợp một số biện pháp nh thanh lý tài sản
cố định, cho thuê các tài sản cố định, sử dụng các quỹ khấu hao để đầu t sinh
lợi, mua bảo hiểm đối với các tài sản cố định...
2. Quản lý vốn lu động:
2.1. Khái niệm:
Vốn lu động là giá trị bằng tiền của các tài sản lu động. Có hai loại tài
sản lu động:
- Các tài sản lu động sản xuất: có đặc điểm gắn trực tiếp với quá trình
sản xuất chẳng hạn nh nguyên liệu, vật liệu, các sản phẩm dở dang, các bán
thành phẩm...
- Tài sản lu động lu thông: ví dụ sản phẩm cha tiêu thụ, tiền mặt, các
chứng khoán dễ chuyển nhợng(tín phiếu, trái phiếu...).
Tài sản lu động có đặc điểm là hình thái vật chất thờng xuyên thay đổi
qua một chu kỳ sản xuất kinh doanh và giá trị của tài sản lu động chuyển toàn
bộ vào sản phẩm sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh.
2.2. Các biện pháp quản lý:
- Xác định nhu cầu sử dụng nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp, nhu
cầu sử dụng vốn lu động của doanh nghiệp. Đó là nhu cầu vốn, lao động tối
thiểu để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc liên
tục, tránh đợc tình trạng ứ đọng vốn, tăng nhanh vòng quay của vốn lu động.
- Các nguồn tài trợ cho vốn lu động: trớc tiên phải đợc huy động tối đa
trong nội bộ của doanh nghiệp. Sau đó mới nghĩ đến việc huy động vốn bên
ngoài.
- Tăng nhanh vòng quay của vốn lu động bằng cách rút ngắn thời gian
tiêu thụ sản phẩm, xử lý kịp thời các khoản nợ của doanh nghiệp. Nâng cao tay
nghề công nhân để đảm bảo hao phí nguyên nhiên vật liệu nhỏ nhất trong quá
trình sản xuất.
Nguồn tài trợ là : các nguồn vốn cung ứng cho hoạt động của các doanh
nghiệp , bao gồn toàn bộ các hoạt động tạo nguồn và bảo đảm các nguồn lực
tài chính để doanh nghiệp hoạt động một cách có hiệu quả .
1.2. Phân lọai nguồn tài trợ:
Có một số tiêu thức khác nhau để phân chia các nguồn tài trợ và các ph-
ơng thức tạo vốn , huy động vốn phù hợp với nhu cầu vốn và khả năng cho
phép của mỗi doanh nghiệp. Trong công tác quản lý doanh nghiệp , nếu nhà
quản lý không bao quát đợc các nguồn vốn , nắm rõ đặc tính của nguồn vốn có
thể huy động đợc trong sản xuất kinh doanh thì sẽ dẫn đến yếu kém trong công
tác quản lý đầu t và sử dụng vốn kinh doanh . Việc nắm rõ nguồn vốn sẽ giúp
cho doanh nghiệp lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp với nhu cầu vốn và khả năng
cho phép của chính doanh nghiệp mình . Các doanh nghiệp thuộc loại hình nào
thì có nguồn hình thành vốn kinh doanh phù hợp với doanh nghiệp ấy . Đặc
biệt trong nền kinh tế thị trờng , các phơng thức tạo vốn của doanh nghiệp
ngày càng đa dạng hơn , giải phóng các nguồn tài chính , tăng thêm nguồn vốn
của doanh nghiệp .
* ) Phân loại nguồn tài trợ theo thời gian :
Có thể chia các nguồn tài trợ thành 2 nhóm :
- Các nguồn tài trợ dài hạn
- Các nguồn tài trợ ngắn hạn
* Phân biệt giữa nguồn taì trợ ngắn hạn và dài hạn :
- Tài trợ ngắn hạn : Thời gian hoàn trả trong vòng 1 năm . Lãi suất thấp hơn tài
trợ dài hạn . Nguồn tài trợ nhận đợc chủ yếu dới hình thức vay nợ . Các công
cụ của tài trợ ngắn hạn đợc mua bán trao đổi trên thị ttrờng tiền tệ
- Tài trợ dài hạn : Thời gian đáo hạn từ 1 năm trở lên . Lãi suất cao hơn các
nguồn tài trợ ngắn hạn . Nguồn tài trợ dài hạn nhận đợc có thể dới hình thức
vay nợ hay vốn cổ phần . Các công cụ tài trợ dài hạn đợc mua bán trao đổi trên
thị trờng vốn
*) . Phân loại nguồn tài trợ theo quyền sở hữu đối với khoản vốn sử dụng :
Toàn bộ tài trợ của doanh nghiệp đợc chia thành nợ vay và vốn của chủ . Cách
đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp và tổng mức d nợ vốn huy động không
đợc vợt quá vốn điều lệ của doanh nghiệp tại thời điểm công bố gần nhất trừ tr-
ờng hợp luật hay pháp lệnh có quy định khác ..."
Trong nền kinh tế thị trờng cùng với việc khuyến khích phát triển thành
phần kinh tế t nhân , Nhà nớc ta đang có nhiều biện pháp đổi mới cơ chế quản
lý tài chính với khu vực kinh tế quốc doanh , điển hình là thu hẹp phạm vi và
quy mô cuả khu vc này là tiến hành t nhân hoá , cổ phần hoá phần lớn các xí
nghiệp quốc doanh . Do vậy nguồn cấp phát của nhân sách Nhà Nớc cho doanh
nghiệp Nhà Nớc có xu hớng giảm đáng kể về tỷ trọng và số lợng . Các doanh
nghiệp Nhà Nớc phải chủ động bổ sung phần thiếu hụt bằng các nguồn tài trợ
khác
- Nếu doanh nghiệp thuộc sở hữu cổ phần , nguồn vốn do các cổ đông
đóng góp . Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty ( theo tỷ lệ góp vốn ) và
chịu trách nhiệm hữu hạn trên trị giá số cổ phần mà họ nắm giữ . Cách thức
huy động vốn cổ phần cũng tuỳ thuộc vào các dạng của loại hình công ty cổ
phần.
- Nếu là doanh nghiệp t nhân , chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp
định cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp . Điều 9 khoản 2 luật
DNTN ( 1994 ) quy định : " Có đủ số vốn đầu t ban đầu phù hợp với quy mô và
ngành nghề kinh doanh . Vốn đầu t ban đầu không đợc thấp hơn vốn pháp định
do chính phủ quy định " Điều 21 luật này quy định : " Trong quá trình hoật
động , chủ doanh nghiệp t nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu t ban đầu
nhng không đợc thấp hơn vốn pháp định . Việc tăng hoặc giảm vốn đều phải
ghi chép đầy đủ vào sổ sách kế toán "
Ngoài ra , một phần vốn tự có của doanh nghiệp đang hoật động là nguồn
vốn từ lợi nhuận để lại ( tái đầu t ).
Ta thấy nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không chịu sự kiểm soát
của các chủ nợ, không phụ thuộc vào khả năng vay của doanh nghiệp. Nguồn
này cũng đợc nhà nớc khuyến khích (nh giảm thuế cho phần lợi nhuận tái đầu
t). Tuy nhiên việc sử dụng nguồn này cũng có một số bất lợi nh: vốn chủ sở
nhiều yếu tố khác trên thị trờng chứng khoán . Phần lớn những cổ phiếu đã
phát hành nằm trong tay những nhà đầu t ( cổ đông - Stock holder ) , những
cổ phiếu này gọi là cổ phiếu đang lu hành trên thị trờng . Tuy nhiên có thể
chính công ty phát hành đã mua lại một số cổ phiếu của mình và giữ nó
đến khi bán lại hoặc đến khi huỷ bỏ . Những cổ phiếu này coi nh không lu
hành và đợc gọi là chi phí ngân quỹ . Việc mua lại hoặc bán ra những chi
phí này phụ thuộc một số yếu tố nh : tình hình cân đối vốn vầ khả năng đầu
t , chính sách đối với việc sát nhập hoăc thôn tính , tình hình trên thị trờng
chứng khoán . Giá trị ghi trên mặt cổ phiếu gọi là mệnh giá , giá cả của cổ
phiếu trên thị trờng gọi là thị giá , trị giá của cổ phiếu đợc phản ánh trong sổ
sách kế toán cuẩ công ty gọi là giá trị ghi sổ , đó cũng chính là mệnh giá
của các cổ phiếu đã phát hành . Mệnh giá không chỉ đợc ghi trên cổ phiếu
mà còn đợc ghi rõ trong giấp phép phát hành và trên sổ sách của công ty .
Tuy nhiên , mệnh giá chỉ có ý nghĩa khi phát hành cổ phiếu và đối vơí
khoảng thời gian ngắn sau khi cổ phiếu đợc phát hành . Thị giá phản ánh sự
đánh giá của thị trờng đối với cổ phiếu , phản ánh lòng tin của các nhà đầu t
đối với hoạt động của công ty . Trên thị trờng cổ phiếu , cũng giống nh các
hàng hoá khác , thị giá cổ phiếu hình thành do quan hệ cung cầu , tức là giá
cân bằng giữa số lơng cổ phiếu mà các cổ đông có thể bán ra và số lợng cổ
phiếu mà các nhà đầu t muốn mua vào .
Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thờng chính là những ngời sử hữu công ty ,
họ có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các công việc của công ty .
Nhng thông thờng có một số lợng lớn cổ đông của công ty nên mỗi cổ đông
chỉ có một quyền lực giới hạn nhất định trong việc bỏ phiếu hoặc chỉ định
thành viên của ban quản trị . Một số công việc hay sự kiện đặc biệt cần có
sự nhất trí của đại đa số cổ đông . Tuỳ theo việc quy định trong điều lệ công
ty , có thể hình thành các phơng thức bỏ phiếu khác nhau . Hai phơng pháp
bỏ phiếu đa số và bỏ phiếu gộp đợc sử dụng rộng rãi . Bỏ phiếu theo đa số
( Majority Voting ) là việc cổ đông có thể dùng mỗi lá phiếu để bầu một
ngời quản lý , các chức danh sẽ đợc bầu riêng rẽ . Vậy những ngời đang
cổ phần để giữ vững khả năng thanh toán , củng cố uy tín tài chính . Khi tỷ lệ
này ở mức thấp , nếu cần vốn thì các công ty thờng chọn cách phát hành trái
phiếu tức là tăng nợ ( mà không tăng vốn cổ phần ) . Nếu tỷ lệ này ở mức cao ,
công ty phải tránh việc tăng thêm tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần và chọn cách phát
hàng cổ phiếu . Tuy nhiên trên thực tế các công ty không quan tâm nhiều đến
việc giữ một mức cân bằng chính xác . Viêc điều chỉnh lợng tiền và các khoản
nợ thờng đợc thực hiện theo mô hình linh hoạt có tính chất " tuỳ cơ ứng biến