Luận văn " CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ QUÁ TRÌNH TẤT YẾU NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM " - Pdf 11

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:
CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ QUÁ TRÌNH
TẤT YẾU NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn : Th.S ĐẶNG THỊ LAN
Sinh viên thực hiện : DOÃN THỊ MAI HƯƠNG
Lớp : ANH 3 - K38 - KTNT
kinh tế Việt Nam 8
II. Khái quát về doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam 10
1. Tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển doanh nghiệp Nhà nước
10
2. Quan niệm về doanh nghiệp Nhà nước 12
3. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường .14
3.1 Vị trí của DNNN 14
3.2 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường 15
CHƯƠNG II: CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ QUÁ TRÌNH TẤT
YẾU NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM 18
I. Quá trình cải cách DNNN 18
1. Các biện pháp đã được triển khai thực hiện 18
1.1 Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý đối với DNNN 18
1.2 Sắp xếp, tổ chức lại các DNNN 20
1.3 Thực hiện cổ phần hoá các DNNN 23
2. Kết quả 24
2.1 Kết quả của việc đổi mới cơ chế, chính sách đối với DNNN 24
2.2 Kết quả của việc sắp xếp, tổ chức lại các DNNN 25
2.3 Một số kết quả của việc thực hiện cổ phần hóa các DNNN 26
3. Thực trạng DNNN hiện nay 29
3.1 Về số lượng, cơ cấuvà quy mô của DNNN 29
3.2 Về năng lực hoạt động của DNNN 33
II Nguyên nhân của những yếu kém tồn tại 38
1. Nhận thức về vị trí, vai trò của DNNN 38
2. Cơ chế, chính sách quản lý đối với DNNN còn nhiều hạn chế 39
3. Năng lực hoạt động của các DNNN còn nhiều hạn chế 41
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TIẾP TỤC CẢI CÁCH DNNN NHẰM NÂNG CAO KHẢ
NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ 45
I Phương hướng 45

TRONG NHỮNG NĂM QUA, VIỆT NAM ĐÃ CÓ NHỮNG BƯỚC ĐI QUAN TRỌNG TRONG
TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ: GIA NHẬP ASEAN VÀ THAM GIA VÀO KHU VỰC
MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN (AFTA) (1995); THAM GIA TIẾN TRÌNH Á - ÂU (ASEM) (1996) VÀ TRỞ
THÀNH THÀNH VIÊN CHÍNH THỨC CỦA APEC (1998); KÝ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG
PHƯƠNG VIỆT NAM – HOA KỲ (2000) VÀ ĐANG ĐÀM PHÁN ĐỂ GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG
MẠI THẾ GIỚI (WTO). QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP NÀY ĐÃ MỞ RA CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
NHIỀU CƠ HỘI PHÁT TRIỂN, NHƯNG BÊN CẠNH ĐÓ CŨNG ĐẶT RA KHÔNG ÍT THÁCH THỨC.
MỘT TRONG NHỮNG THÁCH THỨC RÕ RỆT NHẤT LÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM CÒN RẤT THẤP SO VỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
VÀ ĐỂ NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ, MỘT TRONG NHỮNG BIỆN
PHÁP THƯỜNG ĐƯỢC NHẮC TỚI LÀ CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC. VẬY CẢI CÁCH
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA
NỀN KINH TẾ? CHÚNG TA ĐÃ THỰC HIỆN NHỮNG GÌ VÀ NÊN TIẾP TỤC LÀM GÌ NHẰM CẢI
CÁCH DNNN? NHỮNG CÂU HỎI NÀY KHIẾN EM THỰC SỰ RẤT MONG MUỐN ĐƯỢC PHÂN
TÍCH VÀ CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM "CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ QUÁ TRÌNH
TẤT YẾU NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM" TRONG LUẬN
VĂN TỐT NGHIỆP.
QUÁ TRÌNH PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH SẼ ĐƯỢC TRÌNH BÀY CHỦ YẾU TRONG 3
CHƯƠNG:
CHƯƠNG 1 : SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.
CHƯƠNG 2 : CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ QUÁ TRÌNH TẤT YẾU NHẰM NÂNG
CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP TIẾP TỤC CẢI CÁCH DNNN NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH CỦA NỀN KINH TẾ
TRONG QUÁ TRÌNH VIẾT LUẬN VĂN NÀY EM ĐÃ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
LÀ PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG DUY VẬT, PHƯƠNG PHÁP LÔGIC, PHƯƠNG PHÁP TRỪU
TƯỢNG HÓA KHOA HỌC, PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP, PHƯƠNG PHÁP DIỄN
DỊCH VÀ QUY NẠP, PHƯƠNG PHÁP LIỆT KÊ ĐỂ CÓ THỂ ĐƯA RA NHỮNG NHẬN ĐỊNH VÀ
KẾT LUẬN ĐÚNG ĐẮN CHO TỪNG VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP.

vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian".
Còn Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
đã cố gắng kết hợp cả khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành và quốc gia trong một định nghĩa chung.
Đó là "khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao
hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế" [14, tr.12].
Những định nghĩa trên là chưa cụ thể và không phù hợp với cách hiểu của người Việt Nam. Theo sự
nhìn nhận của cá nhân người viết, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế chủ yếu là khả năng thu hút, hấp thụ
đầu tư (đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài) và xác lập, duy trì, gia tăng lợi nhuận và thị phần của hàng
hóa (hữu hình và vô hình) do nền kinh tế đó sản xuất ra trên thị trường trong nước và quốc tế. Như vậy, khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế không phải là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp hay khả năng cạnh
tranh của hàng hóa. Đó là 3 cấp độ khác nhau.
Có quan điểm cho rằng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là kết quả phép cộng khả năng cạnh tranh
của tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Lại có quan điểm cho rằng khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế là kết quả phép cộng khả năng cạnh tranh của tất cả các hàng hóa do nền kinh tế sản xuất ra. Trên thực tế,
những quan điểm này chưa trọn vẹn vì mới đề cập đến năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực thương
mại. Để có năng lực cạnh tranh trong thu hút và hấp thụ đầu tư thì sức mạnh của doanh nghiệp và hàng hóa
không phải là yếu tố duy nhất. Muốn có được cái nhìn đầy đủ, ta hãy xem xét những tiêu chí đánh giá khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế.
2. Những tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Từ những khác biệt về cách tiếp cận và môi trường nghiên cứu, các nhà kinh tế học đã đưa ra rất
nhiều tiêu chí khác nhau.
Theo Michael Porter, tác giả cuốn sách "Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia" (The Competitive
Advantages of Nations), khả năng cạnh tranh của nền kinh tế được quyết định bởi sự tác động qua lại giữa 6
nhân tố cơ bản:
- Các điều kiện sản xuất vốn có (lao động, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý )
- Các điều kiện của thị trường nội địa (số lượng cầu, sự đòi hỏi của người tiêu dùng )
- Các ngành công nghiệp bổ trợ và liên đới
- Chiến lược, cơ cấu của các công ty và sự cạnh tranh trong nội bộ ngành
- Chính phủ

Sau khi xem xét các cách đánh giá, theo người viết,
những nhóm tiêu chí thường được sử dụng nhất khi đánh giá
khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là: tình hình chính trị -
xã hội, hoạt động của Chính phủ, hệ thống tài chính - tiền tệ,
hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp, độ mở cửa của nền kinh tế, hệ thống pháp luật, trình
độ công nghệ, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực và lợi thế tự
nhiên. Tuy tầm quan trọng và ảnh hưởng có khác nhau, giữa
các nhân tố trên luôn có mối quan hệ tương tác qua lại và
năng lực cạnh tranh quốc gia là sự cộng hưởng của tất cả.
3. Sự cần thiết khách quan của việc nâng cao khả năng cạnh
tranh của nền kinh tế Việt Nam
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều theo đuổi nền kinh tế mở; theo
đó, các quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt là ngoại thương và đầu tư đóng vai trò ngày một quan trọng. Quốc
gia nào cũng cố gắng đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư trong khi trên thị trường thế giới, mức cung
nhiều mặt hàng đã dư thừa còn nhu cầu đối với vốn và công nghệ vẫn là vô hạn. Thực tế này buộc họ phải
tham gia vào một cuộc cạnh tranh gay gắt trong thương mại và thu hút đầu tư. Phần thắng sẽ thuộc về ai có
sức cạnh tranh cao hơn và thất bại đồng nghĩa với sự tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế. Vì vậy, năng lực cạnh
tranh trở thành yếu tố quyết định vị trí của nền kinh tế quốc gia trong nền kinh tế thế giới. Có được năng lực
cạnh tranh càng cao thì nền kinh tế càng phát triển và ngược lại.

1
Vũ Khoan. "Hội nhập để phát triển". Tạp chí Cộng sản số đặc biệt + 2/2002. tr.21
Một điều đáng nói nữa là khả năng cạnh tranh quốc gia luôn thay đổi. Trong các Báo cáo cạnh tranh
toàn cầu của WEF, Singapore đứng vị trí số 1 trong suốt 3 năm 1998, 1999, 2000 số 2 năm 2001 nhưng lại
xuống thứ 10 năm 2002. Hà Lan có vị trí 12 năm 1998, lên 7 năm 1999, xuống 9 năm 2000 song lại vươn lên
thứ 3 năm 2002. 2 ví dụ trên chứng tỏ năng lực cạnh tranh cao ở hiện tại không đồng nghĩa với năng lực cạnh
tranh cao trong tương lai và ngược lại. Điều này buộc các nền kinh tế không ngừng nỗ lực nâng cao khả năng
cạnh tranh của mình.
Nỗ lực của Việt Nam phải lớn hơn nỗ lực của những nước

53 53 59 75 75
Nguồn
Vị trí của Việt Nam thấp do hầu hết các chỉ số thành phần đều thấp. Các chỉ số thấp nhất của Việt
Nam là 74 (công nghệ thông tin), 68 (công nghệ và tham nhũng), 67 (chiến lược và hoạt động của doanh
nghiệp) Trong năm 2002, theo bảng đánh giá mức độ tham nhũng của TI (Transparency International), Việt
Nam thuộc nhóm 11 trong số 99 nhóm và tình trạng tham nhũng đã vượt Thái Lan (nhóm 16), Trung Quốc
(nhóm 18) và Philippines (nhóm 20). [3][12][17]
Năm 2002, khả năng cạnh tranh hiện tại (current competitiveness index) của Việt Nam là 62/75,
nhưng hoạt động và chiến lược doanh nghiệp và chất lượng môi trường kinh doanh đều chỉ đứng 64/75. Cũng
trong năm này, PERC xếp Việt Nam đứng cuối bảng về mức độ công khai minh bạch trong hoạt động tài
chính với số điểm 9,63/10 [12].
Với sức cạnh tranh yếu kém toàn diện như vậy, Việt
Nam đã, đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu
xa hơn nữa về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên
thế giới. Để đất nước không trở thành nơi khai thác tài
nguyên thiên nhiên và là thị trường tiêu thụ cho các quốc gia
khác, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là
vấn đề tất yếu, có tầm quan trọng hàng đầu ở Việt Nam.
II. KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1. Tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển doanh
nghiệp Nhà nước
DNNN được hình thành và tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, tuy tỷ trọng có khác nhau giữa các nước.
Thực tế đó chỉ ra rằng, sự hình thành và phát triển của các DNNN không phải do ý chí chủ quan của một
quốc gia, một tổ chức hay một cá nhân nào mà do những yếu tố khách quan quy định. Các yếu tố đó bao
gồm: sự gia tăng vai trò của nhà nước như một thực thể kinh tế, sự cần thiết phải khắc phục những
khuyết tật của kinh tế thị trường, vai trò dẫn dắt và định hướng của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế
hỗn hợp… Như vậy, tất yếu khách quan của DNNN thể hiện trên các mặt sau:
Một là, DNNN là công cụ để khắc phục những khuyết tật này của kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị
trường với đặc trưng chủ yếu là tự do kinh tế, tự do cạnh tranh với mục đích chủ yếu là thu lợi nhuận. Do đó,
kinh tế thị trường chứa đựng nhiều khuyết tật cố hữu như: tác động của chu kỳ kinh doanh dẫn đến khủng

được, như điện năng, nước sạch và tất cả các loại dịch vụ. Khi đó, chỉ có DNNN mới có thể đáp ứng được.
Ba là, sự hình thành và tồn tại của DNNN ở nhiều nước như là một bộ phận kinh tế có vai trò định
hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác. Trong nền kinh tế hỗn hợp gồm nhiều thành phần tham gia, cùng
kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật, kinh tế nhà nước chỉ là một bộ phận. Tuy nhiên, đối với nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN thì "kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, điều tiết, định hướng cho các
thành phần kinh tế khác" [17, tr.27]. Như vậy, trong hệ thống doanh nghiệp của nền kinh tế nhiều thành
phần, DNNN có vai trò quan trọng là bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước. Đối với các nước đang phát
triển, để thực hiện chiến lược tăng tốc, tạo dựng cơ sở kinh tế của nhà nước XHCN, nhà nước tất yếu phải lựa
chọn giải pháp phát triển các DNNN, tăng cường kinh tế nhà nước. Việc lựa chọn này không mang tính chủ
quan, mà là một tất yếu lịch sử trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đang ở trình độ kinh tế
chậm phát triển. Đối với những nước này việc phát triển DNNN không chỉ là việc tập trung tư bản xã hội
trong bước đầu phát triển kinh tế quốc dân mà còn có lợi thế hơn trong việc áp dụng công nghệ hiện đại.
Ngoài ra, DNNN còn trở thành "đối tác chính để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động liên
doanh, liên kết" [17, tr.27-28]
Bốn là, sự hình thành và phát triển DNNN như là một hình thức xã hội hoá sản xuất về mặt sở hữu.
Sở hữu là một phạm trù kinh tế, nó vừa là kết quả, vừa là điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất,
có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm đối với lực lượng sản xuất và suy cho cùng là đối với nền kinh tế của một
quốc gia hay vùng lãnh thổ. Sự biến đổi của quan hệ sở hữu là quá trình lịch sử, tất yếu và khách quan. Trong
các loại hình sở hữu thì sở hữu nhà nước có những đặc điểm mang tính quy luật của quá trình phát triển kinh
tế – xã hội. Sở hữu nhà nước tuy mang tính đặc thù của mỗi chế độ chính trị – xã hội, nhưng nó có trình độ
xã hội hoá cao hơn sở hữu tư nhân. Như vậy, sự ra đời và phát triển của DNNN – một bộ phận của sở hữu
nhà nước, là sản phẩm tất yếu của việc xã hội hoá sản xuất kể cả ở các nước đang phát triển và các nước phát
triển, cũng như các nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản chủ nghĩa.
Năm là, ở các nước theo định hướng XHCN, việc hình thành các DNNN là tất yếu khách quan nhằm
định hướng nền kinh tế theo mục tiêu đã chọn, đồng thời góp phần làm cho kinh tế nhà nước thực hiện vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế.
2. Quan niệm về doanh nghiệp Nhà nước
Trong các tài liệu về kinh tế, có nhiều quan niệm khác nhau về DNNN. Các quan niệm đó đều dựa
trên các tiêu chí như sở hữu, mục đích hoạt động, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động của doanh nghiệp,
tuy vậy khái niệm về DNNN trên thế giới cũng được hiểu không thống nhất. Cùng tiêu chí xác định doanh

Khả năng tồn tại về mặt tài chính và mối quan hệ giá cả - chi phí là những yếu tố phân biệt DNNN với
các hoạt động công ích, ví dụ hoạt động an ninh, quốc phòng, giáo dục, y tế… Theo các định nghĩa trên,
DNNN được xác định dựa trên những tiêu chí chung như quyền sở hữu, quyền kiểm soát của nhà nước, khả
năng tồn tại trên thị trường, mục tiêu, mức độ tự chủ tài chính, quan hệ giá cả - chi phí. Tuy nhiên, ranh giới
xác định doanh nghiệp nào là DNNN chưa thống nhất. Ví dụ, tiêu chí về quyến sở hữu của nhà nước trong
DNNN rất khác nhau giữa các quốc gia. Đối với Úc và Tây Ban Nha, DNNN là doanh nghiệp mà nhà nước
nắm quyền sở hữu trên 50% tài sản, ở Italia là 25%, Malaysia là 20%, Hàn Quốc là 10% [19]. Liên hiệp quốc
đưa ra khái niệm về DNNN như sau: " Những xí nghiệp do nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và
nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của xí nghiệp" [20].
Trong khi đó theo luật công ty (1994) của Trung Quốc, DNNN là doanh nghiệp mà nhà nước nắm cổ
phần khống chế từ 35% trở lên [23]. Như vậy, nhà nước không cần nắm giữ tỷ lệ vốn sở hữu lớn trong
DNNN mà điều quan trọng là khả năng khống chế của nhà nước đối với doanh nghiệp. Điều này cũng thống
nhất với quan điểm của Đại hội lần thứ XV của Đảng Cộng sản Trung Quốc coi vai trò chủ đạo của "kinh tế
quốc hữu… chủ yếu thể hiện ở sức mạnh khống chế của nó" [10, tr.39].
Như vậy, DNNN tồn tại ở nhiều nước trên thế giới và các doanh nghiệp này được sử dụng như một
công cụ để phát triển và điều tiết nền kinh tế. Quan niệm về DNNN ở các nước không giống nhau, nhưng vẫn
có điểm thống nhất chung, đó là căn cứ sở hữu và quyền chi phối đối với doanh nghiệp để phân biệt DNNN
với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Ở Việt Nam, quan niệm về DNNN có sự thay đổi trong từng thời kỳ. Theo Điều lệ xí nghiệp công
nghiệp quốc doanh ban hành kèm theo Nghị định 50/HĐBT ngày 22/3/1988 và Quy chế về thành lập, giải thể
DNNN ban hành kèm Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 thì DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước trực
tiếp thành lập, tổ chức quản lý và điều hành hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của Nhà
nước. Việc thành lập các DNNN do cơ quan nhà nước đề nghị và trình cơ quan có thẩm quyền ra quyết định
thành lập. Quan niệm về DNNN như vậy vẫn dựa trên tiêu chí sở hữu 100% vốn nhà nước và thể hiện sự can
thiệp trực tiếp và toàn diện của nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp.
Theo luật DNNN do Quốc hội khoá IX thông qua ngày 20/1/1995, DNNN là "tổ chức kinh tế do nhà
nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực
hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao, DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ
dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lý
[18, tr.1]. Nhìn chung, quan niệm về DNNN trong Luật cơ bản vẫn như đã quy định trong các văn bản pháp

xem như là công cụ (trực tiếp hay gián tiếp) để điều tiết và thúc đẩy kinh tế.
Ba là, tương quan giữa DNNN với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong nền
kinh tế hỗn hợp. Tỷ trọng DNNN phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước. Đối với các nước phát triển
thì số lượng DNNN chiếm tỷ lệ nhất định và hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh
tế. Đối với những nước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì DNNN: "giữ vị trí then chốt
trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng
nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo" [19, tr.6].
Ở Việt Nam, vị trí của kinh tế nhà nước và DNNN đã có bước chuyển quan trọng từ sau Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI đó là, việc chuyển đổi khái niệm từ kinh tế quốc doanh sang khái niệm kinh tế nhà nước
và tách bạch giữa DNNN với kinh tế nhà nước. Theo đó, DNNN được hiểu là một bộ phận quan trọng trong
thành phần kinh tế nhà nước. Bước chuyển về nhận thức này được bắt đầu từ Hội nghị đại biểu toàn quốc
giữa nhiệm kỳ của Đại hội Đảng khoá VII (tháng 1/1994). Trong báo cáo chính trị của Đảng tại Hội nghị này
đã khẳng định "Tài sản và vốn thuộc sở hữu nhà nước được sử dụng dưới nhiều hình thức, vừa đảm bảo hiệu
quả kinh tế – xã hội cao, vừa tăng cường khả năng thúc đẩy và kiểm soát trực tiếp của Nhà nước đối với các
hoạt động kinh tế như: đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước, … giao quyền sử dụng đất lâu dài (đất
đai, rừng…); cho thuê, tô nhượng (hầm mỏ), liên doanh; góp vốn cổ phần, mua cổ phiếu của các doanh
nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác" [13].
Từ phân tích trên đây cho thấy, trong nền kinh tế thị trường việc hình thành sức mạnh của kinh tế nhà
nước không chỉ từ các DNNN có 100% vốn Nhà nước mà còn bao gồm các nguồn thu từ vốn góp của Nhà
nước vào các doanh nghiệp có sở hữu hỗn hợp và các doanh nghiệp thuần túy sở hữu khác.
3.2 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị
trường
DNNN có vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân, vai trò của DNNN được thể
hiện trên các mặt cụ thể sau:
I)VAI TRÒ CỦA KHU VỰC DNNN THỂ HIỆN TRƯỚC HẾT
BẰNG BA CHỈ TIÊU SAU: ĐÓNG GÓP VÀO TĂNG TRƯỞNG ĐẤT
NƯỚC (CHIẾM TỶ TRỌNG LỚN TRONG TỔNG SẢN PHẨM
TRONG NƯỚC - GDP), THU HÚT VỐN, TẠO VIỆC LÀM VÀ THỰC
HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI. NGOÀI RA, TRONG NỀN KINH
TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM, CÁC

PHÁP VĨ MÔ NHƯ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, CHÍNH SÁCH THUẾ, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ… MẶT
KHÁC, NHÀ NƯỚC CŨNG PHẢI DỰA VÀO DNNN ĐỂ KHỞI ĐỘNG, PHỤC HỒI KINH TẾ HOẶC
KÌM HÃM LẠM PHÁT. THÍ DỤ, KHI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VẬT VỜ, UỂ OẢI, NHÀ NƯỚC SẼ ÁP
DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP VĨ MÔ NHẰM KÍCH THÍCH NHU CẦU. NHƯNG DO LÃI
SUẤT ÍT HOẶC THU HỒI VỐN CHẬM, NÓI CHUNG CÁC DOANH NGHIỆP KHÔNG MUỐN ĐẦU
TƯ. DO VẬY, NHÀ NƯỚC PHẢI DỰA VÀO CÁC DNNN ĐỂ TĂNG NHU CẦU ĐẦU TƯ, TỪ ĐÓ
THÚC ĐẨY TĂNG NHU CẦU.
VI) DNNN LÀ NHỮNG CƠ SỞ QUAN TRỌNG NHẤT TRONG VIỆC ĐẦU TƯ, ỨNG DỤNG
NHỮNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ; THỰC HIỆN HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC. ĐIỀU
ĐÓ THỂ HIỆN TRƯỚC HẾT BỞI SỰ CẤT CÁNH KINH TẾ CỦA MỖI QUỐC GIA KHÔNG THỂ
THIẾU CÁC NGÀNH HẠ TẦNG VÀ KHÔNG THỂ KHÔNG XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH HẠ
TẦNG, MÀ VIỆC XÂY DỰNG NÀY THƯỜNG ĐÒI HỎI NHỮNG KHOẢN ĐẦU TƯ LỚN, RỦI RO
CAO, THU HỒI VỐN CHẬM, HIỆU QỦA XÃ HỘI RỘNG LỚN. DO VẬY, NHỮNG DOANH NGHIỆP
BÌNH THƯỜNG KHÔNG ĐỦ SỨC LÀM VÀ CŨNG KHÔNG MUỐN LÀM [2, TR.30-31]. THỨ NỮA
LÀ, TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGÀY NAY KHOA HỌC – KỸ THUẬT ĐÓNG VAI TRÒ
THEN CHỐT. CÁC DNNN MỚI CÓ CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT VÀ NGUỒN LỰC ĐỂ CÓ KHẢ
NĂNG CHUYỂN HOÁ THÀNH TỰU KHOA HỌC – KỸ THUẬT THÀNH LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
HIỆN THỰC. TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM, VAI
TRÒ DNNN CÒN THỂ HIỆN Ở VIỆC ĐỊNH HƯỚNG, DẪN DẮT CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ KHÁC
"GIỮ NHỮNG VỊ TRÍ THEN CHỐT, ĐI ĐẦU ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ;
NÊU GƯƠNG VỀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ CHẤP HÀNH
PHÁP LUẬT" [15, TR.96]
BỞI LẼ DNNN CÓ MỘT VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ QUAN TRỌNG NHƯ VẬY ĐỐI VỚI NỀN KINH
TẾ, ĐỂ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ, VIỆC CẢI CÁCH CÁC DNNN
NHẰM NÂNG CAO KHẢ CẠNH TRANH LÀ MỘT YÊU CẦU TẤT YẾU.
CHƯƠNG II
CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC LÀ QUÁ TRÌNH TẤT

giảm bớt chức năng chủ quản của bộ. Theo đó các bộ chỉ có 4 nhiệm vụ là: quyết định thành lập, tách nhập,
giải thể DNNN; giao quyền sử dụng vốn và tài sản cho DNNN, bổ nhiệm giám đốc, phó giám đốc doanh
nghiệp; kiểm soát hoạt động kinh doanh của DNNN. Để hoàn chỉnh hơn khung pháp lý cho DNNN hoạt
động, trong thời gian từ 1988 đến 1990 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã công bố Pháp lệnh Kế toán thống kê
ngày 29/9/1989, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 28/9/1989, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế ngày 12/01/1990.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII đã khẳng định: "Nhà nước quản lý nền kinh tế nhiều
thành phần bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác". Việc thực hiện quản lý kinh tế bằng
pháp luật cũng được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992.
Luật DNNN được Quốc hội thông qua ngày 20/4/1995 là một cơ sở pháp lý quan trọng, quy định:
"DNNN là thực thể pháp nhân độc lập, tạo điều kiện cho các DNNN hoạt động có hiệu quả và thực hiện các
mục tiêu do Nhà nước giao" [10]. Luật DNNN ra đời là sự chuyển đổi quan trọng trong quản lý hoạt động
của DNNN, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết và khẳng định nhiều vấn đề có liên quan trong quan hệ giữa
DNNN với Nhà nước. Luật này đã chỉ rõ quan niệm DNNN; phân định rõ DNNN hoạt động sản xuất kinh
doanh và DNNN hoạt động công ích; quyền tự chủ của DNNN; nghĩa vụ của DNNN đối với Nhà nước; định
hướng phát triển khu vực DNNN; phân định quyền của cơ quan quản lý nhà nước và quyền của DNNN. Bộ
Tài chính được giao quyền và chịu trách nhiệm quản lý tài sản nhà nước tại DNNN.
Chủ trương thành lập các Tổng công ty nhà nước có quy mô quốc gia không trực thuộc Bộ, ngành chủ
quản là nhằm xoá bỏ dần chế độ Bộ chủ quản và cấp hành chính chủ quản đối với DNNN. Tiếp theo Luật
DNNN, Chính phủ đã ban hành Nghị định 59/CP ngày 3/10/1996 (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số
27/1999/NĐ - CP ngày 20/4/1999) ban hành quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với
DNNN chất lượng quản lý tài chính của DNNN được tăng cường theo hướng:
- Nhà nước chuyển từ hình thức cấp vốn (vốn cố định và vốn lưu động) sang hình thức giao vốn cho
DNNN và chuyển hình thức định mức vốn cho từng doanh nghiệp sang hình thức xác định vốn điều lệ cho
DNNN.
- DNNN được quyền sử dụng vốn, quỹ và thay đổi cơ cấu vốn, tài sản để phục vụ phát triển kinh
doanh theo nguyên tắc hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn; được đầu tư ra ngoài doanh nghiệp (kể cả doanh
nghiệp không thuộc sở hữu của Nhà nước); được quyền huy động vốn dưới các hình thức: phát hành trái
phiếu, cổ phiếu, vay vốn, nhận vốn, góp vốn liên kết và các hình thức khác nhưng không làm thay đổi hình
thức sở hữu của DNNN; áp dụng việc mua bảo hiểm tài sản trong DNNN; hạch toán vào chi phí kinh doanh
để hình thành quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng các khoản thu khó đòi, dự phòng các khoản

CHẤP HÀNH KỶ LUẬT TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN, THỐNG KÊ). NHỮNG XÍ NGHIỆP LIÊN TIẾP LỖ
TRONG THỜI GIAN DÀI DO KHÔNG TIÊU THỤ ĐƯỢC SẢN PHẨM, KHÔNG THỰC HIỆN ĐƯỢC
NHIỆM VỤ KINH DOANH, KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG THANH TOÁN VÀ KHÔNG THỂ KHẮC PHỤC
ĐƯỢC BẰNG CÁC BIỆN PHÁP NHƯ CHUYỂN HƯỚNG SẢN XUẤT, THAY ĐỔI MẶT HÀNG, ĐẦU
TƯ TRANG BỊ LẠI, CŨNG NHƯ CÁC BIỆN PHÁP VỀ CHẤN CHỈNH VÀ TỔ CHỨC LẠI SẢN XUẤT
KINH DOANH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CẤP TRÊN… CÓ THỂ BỊ TUYÊN BỐ GIẢI THỂ.
NGÀY 20/11/1991 HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT QUY ĐỊNH
VIỆC THÀNH LẬP, ĐĂNG KÍ, GIẢI THỂ DNNN NHẰM LOẠI BỎ NHỮNG DNNN ĐÃ THÀNH LẬP
MỘT CÁCH TRÀN LAN, Ồ ẠT TRONG NHỮNG NĂM TRƯỚC ĐÓ. CÁC CƠ QUAN CHỨC NĂNG
CỦA CHÍNH PHỦ NHƯ BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ, BỘ TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM, BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI ĐÃ BAN HÀNH NHIỀU THÔNG TƯ
HƯỚNG DẪN VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT LÀ MỘT CHỦ TRƯƠNG LỚN CỦA CHÍNH
PHỦ TRONG VIỆC SẮP XẾP DNNN. ĐÂY LÀ LẦN ĐẦU TIÊN QUY ĐỊNH CÁC ĐIỀU KIỆN TỐI
THIỂU VỀ VỐN PHÁP ĐỊNH, NGÀNH NGHỀ KINH DOANH, QUY MÔ NHỎ NHẤT, LUẬN CHỨNG
VỀ THỊ TRƯỜNG, TIÊU THỤ SẢN PHẨM TRONG VIỆC LÀM THỦ TỤC THÀNH LẬP DNNN.
THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT, CÁC BỘ, ĐỊA PHƯƠNG VÀ TỪNG DNNN ĐÃ PHỐI HỢP
TIẾN HÀNH RÀ SOÁT LẠI CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TỪNG ĐƠN VỊ ĐỂ TỔ
CHỨC THEO ĐÚNG CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ ĐƯỢC QUY ĐỊNH, VỪA ĐẢM BẢO GIÁM SÁT
NHÀ NƯỚC. TRÊN CƠ SỞ XEM XÉT TÌNH TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA DNNN, ĐÁNH GIÁ TÀI SẢN
CỐ ĐỊNH, VỐN LƯU ĐỘNG, KẾT QUẢ LÃI, LỖ, TỒN KHO, NỢ NẦN, VIỆC CHẤP HÀNH KỶ LUẬT
TÀI CHÍNH, KẾ TOÁN THỐNG KÊ ĐỂ LÀM RÕ THỰC TRẠNG YẾU KÉM CỦA DNNN VÀ TỰ ĐỀ
RA CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC.
NGÀY 25/8/1995 THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ĐÃ BAN HÀNH CHỈ THỊ 500/ TTG VỀ VIỆC
KHẨN TRƯƠNG TỔ CHỨC, SẮP XẾP LẠI DNNN NHẰM HƯỚNG CÁC DNNN ĐI VÀO HOẠT
ĐỘNG THEO LUẬT DNNN, KẾT HỢP VỚI VIỆC XOÁ BỎ CHẾ ĐỘ BỘ CHỦ QUẢN VÀ CẤP HÀNH
CHÍNH CHỦ QUẢN, KHẮC PHỤC MỘT BƯỚC TÌNH TRẠNG CÓ NHIỀU DNNN HOẠT ĐỘNG
CÙNG NGÀNH NGHỀ TRÊN CÙNG ĐIẠ BÀN NHƯNG DO NHIỀU BỘ, NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG
QUẢN LÝ. TRONG ĐÓ, ĐẶC BIỆT YÊU CẦU PHẢI SẮP XẾP LẠI NGÀNH XÂY DỰNG VÀ CƠ KHÍ.
ĐỐI VỚI CÁC DNNN ĐÃ ĐƯỢC THÀNH LẬP THEO NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT ĐANG HOẠT ĐỘNG
CÓ HIỆU QUẢ VÀ PHÙ HỢP VỚI QUY HOẠCH SẼ KHÔNG LÀM THỦ TỤC THÀNH LẬP LẠI. ĐỐI

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DNNN.
TUY NHIÊN, BÊN CẠNH NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC, VIỆC SẮP XẾP DNNN MỚI CHỈ
GIẢM ĐƯỢC SỐ LƯỢNG VÀ THU GỌN ĐƯỢC ĐẦU MỐI DNNN, CƠ CẤU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA DNNN CÒN NHIỀU HẠN CHẾ. NĂM 2002, MỚI CÓ 40% DNNN HOẠT ĐỘNG CÓ HIỆU
QUẢ, 31% KHI LÃI, KHI LỖ VÀ 29% LIÊN TỤC THUA LỖ; QUY MÔ DNNN VẪN CHỦ YẾU LÀ
VỪA VÀ NHỎ (VỐN DƯỚI 5 TỶ ĐỒNG CHIẾM TỚI 24,75%, TRONG ĐÓ CÓ 5,73% DNNN VỐN TỪ
1 TỶ ĐỒNG TRỞ XUỐNG) [14]. NHIỀU DNNN THUA LỖ, KHÔNG HIỆU QUẢ, VỐN NHỎ VẪN
ĐANG HOẠT ĐỘNG TRONG NHỮNG LĨNH VỰC MÀ NHÀ NƯỚC KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI CHI
PHỐI.
Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG CÒN NHIỀU DNNN KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP LẠI
THEO NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT NHƯNG VẪN CHƯA ĐƯỢC XỬ LÝ, TIẾP TỤC HOẠT ĐỘNG KHÔNG
ĐĂNG KÍ KINH DOANH. VIỆC THÀNH LẬP MỚI DNNN VẪN CÒN TRÀN LAN, TRONG NHIỀU
TRƯỜNG HỢP CHƯA THỰC SỰ CẦN THIẾT, CHƯA ĐÚNG QUY ĐỊNH VÀ HỘI ĐỦ ĐIỀU KIỆN,
NHẤT LÀ VỐN NHÀ NƯỚC CÒN RẤT NHỎ, PHẦN LỚN KHÔNG CÓ VỐN LƯU ĐỘNG DO NGÂN
SÁCH CẤP. SỐ DNNN ĐÃ LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN NHƯNG HẦU HẾT CHƯA THỰC
HIỆN ĐƯỢC VIỆC PHÁ SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT.
B) TỔ CHỨC LẠI CÁC TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC.
ĐỂ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC DNNN, ĐỒNG THỜI THỰC HIỆN CHỦ
TRƯƠNG XOÁ BỎ DẦN CHẾ ĐỘ BỘ CHỦ QUẢN, CẤP HÀNH CHÍNH CHỦ QUẢN VÀ TẬP
TRUNG PHÁT TRIỂN DNNN TRONG NHỮNG NGÀNH QUAN TRỌNG, THEN CHỐT, NGÀY
7/3/1994, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ĐÃ BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH SỐ 90/TTG VÀ QUYẾT
ĐỊNH 91/TTG VỀ VIỆC THÀNH LẬP CÁC TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC TRÊN CƠ SỞ SẮP XẾP,
ĐĂNG KÍ LẠI CÁC LIÊN HIỆP XÍ NGHIỆP, CÁC TỔNG CÔNG TY HIỆN CÓ MÀ CHƯA THỰC
HIỆN ĐĂNG KÍ LẠI THEO NGHỊ ĐỊNH 388/HĐBT.
NGÀY 20/1/1995 QUỐC HỘI THÔNG QUA LUẬT DNNN, TRONG ĐÓ QUY ĐỊNH: "TỔNG
CÔNG TY NHÀ NƯỚC ĐƯỢC THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG TRÊN CƠ SỞ LIÊN KẾT CỦA NHIỀU
ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN, CÓ MỐI QUAN HỆ GẮN BÓ VỚI NHAU VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ, CÔNG
NGHỆ, CUNG ỨNG, TIÊU THỤ, DỊCH VỤ, THÔNG TIN, ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU, TIẾP THỊ, HOẠT
ĐỘNG TRONG MỘT HOẶC MỘT SỐ NGÀNH KINH TẾ – KỸ THUẬT CHÍNH, NHẰM TĂNG
CƯỜNG KHẢ NĂNG KINH DOANH CỦA CÁC ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN VÀ THỰC HIỆN CÁC NHIỆM

để thí điểm chuyển thành công ty cổ phần. Tiếp đó, ngày 4/3/1993 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị
84/TTg về việc xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hoá DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở
hữu đối với DNNN.
Tháng 5/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/CP về chuyển một số DNNN thành công ty cổ
phần. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách tương đối đồng bộ về các chính sách đối với
DNNN thực hiện cổ phần hoá. Nghị định này được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 25/CP ngày
26/3/1997 và được thay thế bằng Nghị định số 44/1998/NĐ - CP ngày 19/6/1998 về việc chuyển DNNN
thành công ty cổ phần. Nghị định này còn quy định chính sách đối với DNNN và người lao động trong
DNNN thực hiện cổ phần hoá như sau:
Về hình thức cổ phần hoá, Nghị định 44/CP quy định rõ ngoài ba hình thức quy định trước đây (theo
Nghị định 28/CP) là: giữ nguyên giá trị thuộc vốn nhà nước hiện có tại các DNNN và phát hành cổ phiếu để
thu hút thêm vốn; bán một phần giá trị thuộc vốn nhà nước hiện có tại DNNN; tách một bộ phận của DNNN
đủ điều kiện để cổ phần hoá nay bổ sung thêm một hình thức cổ phần hoá mới là bán toàn bộ giá trị hiện có
thuộc vốn nhà nước tại DNNN để chuyển thành công ty cổ phần.
Việc xác định giá trị DNNN thực hiện theo nguyên tắc: giá trị thực tế của DNNN là toàn bộ giá trị tài
sản hiện có của DNNN tại thời điểm cổ phần hoá mà người mua và người bán cổ phần đều chấp nhận được
(tức là phải theo giá thị trường). Lợi thế kinh doanh như vị trí địa lý, mặt hàng, chỉ được thêm tối đa là 30%
vào giá trị thực tế của DNNN.
Về chính sách đối với người lao động, Nghị định 44/CP thực hiện chính sách giảm giá 30% đối với số
cổ phần được mua với giá ưu đãi cho người lao động trong DNNN. Người lao động có quyền sở hữu cổ phần
của mình và có thể chuyển nhượng, thừa kế. Chính sách này đã khắc phục được những khó khăn, tồn tại khi
thực hiện Nghị định 28/CP.
2. Kết quả
Đổi mới quản lý nhà nước đối với DNNN thời gian qua, thực chất là việc thay đổi cách ứng của Nhà
nước đối với các DNNN thông qua việc thực hiện các biện pháp nhằm tháo gỡ cho DNNN. Kết quả của các
biện pháp đó cụ thể như sau:
2.1 Kết quả của việc đổi mới cơ chế, chính
sách đối với DNNN
Từng bước hình thành khung pháp lý tương đối đồng bộ, tạo điều kiện cho DNNN thực hiện quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, phân phối tiền lương, lợi nhuận để lại. DNNN phải thực

Trên cơ sở sắp xếp lại 250 liên hiệp xí nghiệp và tổng công ty, đến nay cả nước có 17 tổng công ty 91
với 532 DNNN thành viên và 77 tổng công ty 90 với 860 DNNN thành viên hạch toán độc lập. Tính đến
tháng 12 năm 2002, các tổng công ty nhà nước có 1.392 DNNN thành viên, chiếm 25,16% tổng số DNNN,
65% vốn nhà nước tại DNNN, 61% lao động của khu vực DNNN. Các tổng công ty đã chi phối được các
ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, là một công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước đảm bảo ổn định
kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo các cân đối lớn, cung cấp những sản phẩm
trọng yếu cho nền kinh tế quốc dân như điện, than, xi măng, phân bón, xăng dầu, giấy viết, thép… Các tổng
công ty đã thực hiện nhiều biện pháp bảo toàn và phát triển vốn. Ngoài vốn ngân sách nhà nước cấp, đến cuối
năm 2002, riêng 17 tổng công ty 91 đã có nguồn vốn tự bổ sung thêm được 18.038 tỷ đồng, chiếm 22,5%
tổng số vốn sản xuất kinh doanh của các tổng công ty 91 [1] (xem biểu 2.1)
Biểu 2.1. Một số chỉ tiêu về Tổng công ty 91
TT
CÁC CHỈ TIÊU VỀ HOẠT ĐỘNG
1996 2001 CHÊNH LỆCH
1 SỐ DNNN SẢN XUẤT KINH DOANH 492 532 40
2 SỐ DNNN HÒA VỐN 12 12 0
3 SỐ DNNN LỖ 50 23 -27
4 SỐ DNNN CÓ LÃI 436 361 -75


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status