Hoàn thiện hệ thống nhận diện thương hiệu bánh Kem Xốp của công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường bánh kẹo Việt Nam hiện nay là một thị trường có tiềm năng
phát triển hàng đầu Đông Nam Á. Văn hóa tiêu dùng của người dân ngày càng
thay đổi, đòi hỏi những sản phẩm chất lượng cao phục vụ tiêu dùng. Thêm
vào đó, tình hình cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên sôi động, ngoài
các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo trong nước như Kinh Đô, Hải Hà, Hữu
Nghị, Bibica, Hải Châu… còn có những doanh nghiệp lớn từ nước ngoài…
Trong các mặt hàng bánh kẹo, dòng sản phẩm bánh kem xốp hiện đang là một
trong những dòng sản phẩm có doanh số tiêu thụ cao và thị trường đang còn
rất nhiều tiềm năng phát triển. Hầu hết các công ty sản xuất và kinh doanh
bánh kẹo đều kinh doanh mặt hàng này vì vậy khách hàng có rất nhiều cơ hội
lựa chọn nhãn hiệu và sản phẩm. Để tạo được lợi thế cạnh tranh với các đối
thủ, mở rộng thị phần, các doanh nghiệp cần nỗ lực chiếm lấy một vị trí khác
biệt và đặc trưng trong tâm trí khách hàng, chính vì vậy, hoạt động định vị
thương hiệu là một hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường
hiện nay. Để thực hiện một chiến lược định vị có hiệu quả thì hoạt động xây
dựng hệ thống nhận diện thương hiệu phải được hết sức chú trọng, hoạt động
này sẽ giúp cho khách hàng biết đến thương hiệu và nhận thức đúng đắn về
thương hiệu. Tuy nhiên hiện nay ít có thương hiệu nào của Việt Nam được đầu
tư xây dựng hệ thống nhận diện đúng mức.
Sau một thời gian thực tập ở công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Châu, em
nhận thấy hoạt động marketing của công ty còn hạn chế, công ty hầu như chưa
sản xuất kinh doanh theo định hướng marketing, các hoạt động định vị, xúc
tiến của công ty còn yếu khiến cho thương hiệu “Hải Châu” ngày càng mất
dần chỗ đứng trong tâm trí khách hàng. Mặt hàng bánh Kem Xốp của công ty
tuy có doanh số cao nhưng không thể cạnh tranh với các công ty trong và
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ngoài nước khác trên địa bàn Hà Nội, nguyên nhân không hẳn do chất lượng

Báo cáo này áp dụng có cơ sở lý thuyết thuộc vấn đề định vị thương
hiệu và xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu của hệ thống lý thuyết
marketing, trong chương trình học của sinh viên đại học chuyên ngành
Marketing, tại Đại học Kinh Tế Quốc Dân. Nghiên cứu phục vụ báo cáo được
thực hiện trên địa bàn Hà Nội, mẫu điều tra sơ cấp gồm 38 người. Cuộc
nghiên cứu được thực hiện trong tháng 3 và tháng 4 năm 2009.
Do còn nhiều hạn chế nên báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của em không
thể tránh khỏi sai sót. Em rất mong các ý kiến đóng góp để em có thể hoàn
thiện hơn báo cáo của mình.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trương Đình Chiến và ThS Phạm
Văn Tuấn đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành báo cáo này!
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1:
CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU VÀ HỆ
THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU
1.1 Giới thiệu chung về công ty
Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu là một doanh nghiệp nhà nước
trực thuộc Tổng công ty mía đường I- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn ,do được sự giúp đỡ của hai tỉnh Thượng Hải và Quảng Châu (Trung
Quốc) nên mới có tên gọi là Hải Châu. Công ty tiền thân là nhà máy bánh kẹo
Hải Châu, được thành lập ngày 02/09/1965.
Tên công ty: Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu.
Tên tiếng Anh: Hai Chau confectionery joint – stock Company.
Tên giao dịch quốc tế: Hai Chau confectionery joint – stock Company.
Hình thức pháp lý: Công ty cổ phần
Tên viết tắt: HACHACO.JSC.
Trụ sở: 15 Mạc Thị Bưởi, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Công ty đã xác lập quan hệ thương mại trên phạm vi rộng với các tổ

KHVT-
XDCB
Chi
nhánh
Nghệ
An
Phòng
hành
chính
bảo vệ

nghiệp
gia vị
thực
phẩm

nghiệp
bánh
cao cấp

nghiệp
bánh
quy
kem
xốp

nghiệp
kẹo
Chi
nhánh

năng, cao nhất là Hội đồng quản trị, sau đó là Ban Điều hành, các phòng ban
chức năng, các chi nhánh và xí nghiệp.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của Công ty, có toàn
quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty,
gồm 5 thanh viên do Đại hội đồng cổ đông bầu ra.
Ban điều hành gồm 3 người:
• Tổng giám đốc phụ trách chung và phụ trách các lĩnh vực trọng tâm.
• Một Phó tổng giám đốc kinh doanh - thị trường.
• Một Phó tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật và điều hành sản xuất.
Tùy tình hình cụ thể Tổng giám đốc sẽ phân công, ủy quyền cho hai
Phó tổng giám đốc thực hiện một số công việc khác (khi thực hiện sẽ có ủy
quyền cụ thể).
Các phòng chức năng bao gồm:
• Phòng tổ chức:
Tham mưu cho Tổng giám đốc về các mặt quản lý nhân sự, đào tạo
nâng bậc, lao động - tiền lương, chính sách chế độ, tổng hợp thi đua khen
thưởng của công ty.
• Phòng kỹ thuật:
Tham mưu cho Tổng giám đốc về lĩnh vực chuyên môn kỹ thuật:
- Quy trình quản lý máy móc thiết bị, quản lý công nghệ sản xuất, quản
lý chất lượng sản phẩm; đăng ký bản quyền, kiểu dáng công nghiệp.
- Xây dựng và quản lý định mức kỹ thuật, vật tư; lập và quản lý các đề tài
khoa học, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, công tác đào
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tạo, vệ sinh an toàn lao động, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống
cháy nổ, hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 - 2000.
- Xây dựng các dự án đầu tư nâng cấp thiết bị, nhà xưởng, nghiên cứu
sản phẩm mới.

Tham mưu cho Tổng giám đốc về các công tác:
- Công tác hành chính quản trị đảm bảo những điều kiện cần thiết cho
hoạt động quản lý, sinh hoạt, đời sống của công ty. Sắp xếp nơi làm
việc, hội họp, học tập và các hoạt động đối nội, đối ngoại của công ty.
Quản lý khám sức khỏe, khám chữa bệnh cho cán bộ công nhân viên, tổ
chức nuôi dạy trẻ và các hoạt động đời sống khác.
- Công tác bảo vệ, tự vệ, an ninh – quốc phòng địa phương.
Các chi nhánh bao gồm:
• Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
• Chi nhánh Đà Nẵng
• Chi nhánh Nghệ An
• Chi nhánh Hà Nam
• Chi nhánh Hải Dương
• Chi nhánh Phú Thọ
• Chi nhánh Hà Nội
• Nhà máy bánh kẹo Hải Châu Hưng Yên
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các chi nhánh đại diện cho Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu tại
khu vực, địa bàn được giao, giúp Tổng giám đốc quản lý và thực hiện kinh
doanh – tiêu thụ sản phẩm theo kế hoạch được giao; kinh doanh thương mại,
đại lý bán buôn bán lẻ các sản phẩm do công ty sản xuất ra, các loại vật tư bao
bì theo ngành nghề kinh doanh của công ty và phục vụ công nghiệp thực
phẩm, tiến hành các hoạt động kinh doanh khác không trái với quy định của
công ty, đăng ký kinh doanh của Chi nhánh và quy định pháp luật, là đơn vị
hạch toán phụ thuộc có con dấu và tài khoản tại Ngân hàng.
Các xí nghiệp sản xuất bao gồm:
• Xí nghiệp Bánh quy kem xốp
• Xí nghiệp Bánh cao cấp

1.1.4 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải
Châu
1.1.4.1 Năng lực kinh doanh
Vốn điều lệ của công ty vào thời điểm hiện tại là 30 tỷ VND, kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh và cơ cấu vốn/tài sản của công ty như sau:
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 1.1 Cơ cấu vốn/ tài sản của công ty (đơn vị triệu đồng)
STT Chỉ tiêu Năm
2006 2007
So sánh %
2007/2006
1 Tổng tài sản 174697,8 181023,5 103,62
- Tài sản lưu động 51670,5 52088 100,80
- Tài sản cố định 121027,3 128935,5 106,53
2 Tổng nguồn vốn 174697,8 181023,5 103,62
- Nợ phải trả 120101,6 119347,7 99,37
- Vốn chủ sở hữu 32978,4 31520,6 95,58
- Nguồn vốn khác 21617,8 30155,2 139,50
(nguồn: phòng Tài chính kế toán)
Từ bảng trên ta tính được các chỉ tiêu chung về tài chính của công ty
năm 2007 như sau:
Bảng 1.2 Các chỉ tiêu chung về tài chính của công ty năm 2007
STT Chỉ tiêu
1 Hệ số nợ trên tổng tài sản 0,66
2 Hệ số nợ vốn cổ phần 3,78
3 Hệ số cơ cấu tài sản lưu động 0,28
4 Hệ số cơ cấu nguồn vốn 0,17
5 Hiệu suât sử dụng tài sản cố định 1,66

12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 1.4 Tỉ lệ cơ giới hóa – tự động hóa của các thiết bị máy móc
trong công ty
STT Xí nghiệp Dây chuyền sản xuất Cơ giới hóa - tự động hóa
1 Bánh qui kem xốp Dây chuyền bánh 1 65%
Dây chuyền kem xốp 90%
2 Kẹo Dây chuyền kẹo cứng 85%
3 Gia vị thực phẩm Máy bao gói tự động 50%
4 Bánh cao cấp Dây chuyền bánh mềm 85%
Dây chuyền bánh 3 95%
(nguồn: phòng Kỹ thuật)
Quy trình công nghệ của công ty là quy trình sản xuất giản đơn, công ty
có nhiều phân xưởng, mỗi phân xưởng có một quy trình sản xuất riêng biệt và
cho ra những sản phẩm khác nhau, trong từng phân xưởng, việc sản xuất được
tổ chức khép kín, riêng biệt và sản xuất là sản xuất hàng loạt, chu kì sản xuất
rất ngắn, hầu như không có sản phẩm dở dang, sản lượng ổn định. Sau khi sản
phẩm của phân xưởng sản xuất hoàn thành, bộ phận Kiểm tra chất lượng sản
phẩm sẽ kiểm tra để xác nhận chất lượng của sản phẩm.
1.1.4.3 Năng lực nhân sự
Tổng số cán bộ công nhân viên hiện nay của công ty là 730 người, trong
đó:
• Chuyên viên, kỹ sư (trình độ đại học): 110 người
• Cao đẳng, kỹ thuật: 66 người
• Công nhân kỹ thuật: 80 người
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Phổ thông trung học: 474 người.
Qua những con số trên có thể thấy đội ngũ nhân viên có trình độ đại

1.2.1.2 Giai đoạn 2: Thiết kế, sáng tạo
Ở giai đoạn này, bộ phận xây dựng hệ thống thương hiệu sẽ thiết kế,
sáng tạo một số mẫu logo và slogan dựa trên những thông tin đã có, những ý
tưởng chủ đạo về thương hiệu, đồng thời tra cứu quyền sở hữu trí tuệ về logo
và slogan. Sau khi logo và slogan được phê duyệt và lựa chọn chính thức,
những người làm marketing sẽ hoàn thiện bản thiết kế logo và slogan, đưa ra
những quy chuẩn về tỉ lệ, pantone màu, logo âm bản, dương bản,v.v…
1.2.1.3 Giai đoạn 3: Hoạch định ngân sách
Bộ phận xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu sẽ hoạch định những
chi phí phải bỏ ra để thực hiện việc xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu
chuẩn, sau khi ngân sách được phê duyệt, hệ thống nhận diện thương hiệu
chuẩn sẽ được xây dựng trên thị trường theo kế hoạch.
1.2.1.4 Giai đoạn 4: Thực hiện
Ở giai đoạn này, những người làm marketing sẽ xúc tiến, quảng bá cho
thương hiệu chuẩn bằng các hoạt động “Above the line” và “Below the line”.
“Above the line” là hoạt động xúc tiến, quảng bá cho thương hiệu bằng
các phương tiện truyền thông như thiết kế các TVC, thiết kế hệ thống nhận
diện thương hiệu chuẩn trên các website, báo, tạp chí giấy, các biển quảng cáo
ngoài trời, biển quảng cáo trên các phương tiện công cộng v.v…
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
“Below the line” là hoạt động xúc tiến, quảng bá cho thương hiệu bằng
các phương tiện phi truyền thông như PR, tổ chức event, xây dựng các chương
trình khuyến mãi v.v…
1.2.1.5 Giai đoạn 5: Đánh giá hiệu quả
Hiệu quả của cả quy trình được đánh giá dựa trên các tiêu chí như mức
độ biết đến thương hiệu, mức độ nhận diện đúng ý nghĩa thương hiệu của
khách hàng; số lượng khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ; mức độ hài lòng
của khách hàng đối với các hoạt động xúc tiến v.v…

phát triển của một doanh nghiệp.
Ngoài ra, tình hình thực tế cũng cho thấy, trước việc phải đối mặt với
một tương lai ảm đạm của nền kinh tế thế giới, chính phủ Việt Nam đang triển
khai gói kích cầu lên tới 8 tỷ USD. Mặc dù gói kích cầu này còn gây nhiều
quan ngại về các vấn đề phát sinh, nhưng khoản hỗ trợ lãi suất 4% cho những
khoản vay ngắn hạn đang được khối doanh nghiệp rất háo hức đón nhận. Đây
là một cơ hội để các doanh nghiệp, trong đó có công ty bánh kẹo Hải Châu, có
thể đầu tư nhiều hơn cho hoạt động marketing nói chung và hoạt động xây
dựng hệ thống nhận diện thương hiệu nói riêng.
Hiện nay, tình hình kinh tế chung đòi hỏi người tiêu dùng phải tiết kiệm
chi tiêu trong tiêu dùng hàng ngày. Vấn đề xây dựng hệ thống nhận diện cho
một thương hiệu hay một sản phẩm không thể nằm ngoài sự ảnh hưởng của
tâm lý thắt chặt chi tiêu của người tiêu dùng, nhất là đối với thương hiệu Hải
Châu, vốn được họ nhớ đến với lợi thế giá rẻ và hình ảnh bình dân. Điều đó
cho thấy rằng, nếu muốn xây dựng một hình ảnh định vị cao cấp cho thương
hiệu và sản phẩm bánh kem xốp thực sự là khó hơn rất nhiều so với một định
vị bình dân, giá rẻ.
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Về ảnh hưởng của điều kiện xã hội, quá trình xã hội hóa diễn ra ở Việt
Nam ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Một xã hội cởi mở về thông tin tạo cơ
hội rất lớn cho các hoạt động truyền thông của công ty. Tuy nhiên, trong xã
hội đang hình thành những lớp người tiêu dùng mới, trẻ và có những hiểu biết
nhất định về thương hiệu, khắt khe hơn trong việc đánh giá và tiếp nhận các
thông điệp. Một hệ thống nhận diện thương hiệu khó khăn hơn trong việc
khiến lớp người tiêu dùng trẻ này ghi nhớ và yêu thích, có thể dẫn tới quyết
định mua. Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế nóng trong những năm gần đây
đang kéo dãn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, đặc biệt là giữa hai khu
vực thành thị và nông thôn. Với các tiêu thức phân đoạn thị trường chủ yếu là

nơi mà khách hàng có những ấn tượng đầu tiên về tính cách của một công ty,
một thương hiệu. Trong quan niệm của người Việt Nam, tính cách của chủ
nhân một ngôi nhà sẽ được thể hiện qua chính ngôi nhà đó, việc thể hiện, bài
trí tại địa điểm giao dịch cũng nên phù hợp với quan điểm của người Việt về
phong thủy. Thông điệp, slogan của một sản phẩm hay thương hiệu cũng
không nên quá tham lam, phô trương, hay có thể gây phảm cảm, cần phải phù
hợp với sự ý tứ, thông minh và sâu sắc trong ăn nói, bày tỏ của người Việt.
Những cuộc cách mạng về công nghệ đang diễn ra như vũ bão. Các
công ty có thêm nhiều công cụ để có thể truyền tải được hình ảnh thương hiệu
đến với công chúng. Công nghệ phát triển gia tăng các phương tiện truyền
thông trong xã hội, kéo gần khoảng cách giữa người tiêu dùng và doanh
nghiệp. Hệ thống nhận diện thương hiệu đang được hậu thuẫn đắc lực bởi các
công nghệ in ấn, công nghệ thông tin, công nghệ truyền tin. Doanh nghiệp vì
thế có thể có nhiều lựa chọn hơn trong các quyết định về truyền thông. Việc
phát triển của công nghệ hiện tại cũng gây sức ép không nhỏ, đòi hỏi mỗi
công ty cần có nguồn nhân lực hiểu biết và có khả năng làm chủ công nghệ,
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
để có thể sử dụng công nghệ, phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh
và hoạt động marketing.
Môi trường luật pháp cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây
dựng hệ thống nhận diện thương hiệu và bảo vệ thương hiệu. Hiện nay hệ
thống luật pháp Việt Nam về bản quyền thương hiệu và sở hữu trí tuệ vẫn
đang trong giai đoạn dần hoàn thiện, gây không ít khó khăn cho các doanh
nghiệp. Trong quá trình xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu, đặc biệt ở
những sở hữu riêng của công ty, công ty cần phải chú ý đặc biệt đến việc đăng
kí bản quyền để bảo vệ thương hiệu, sản phẩm của mình, trong điều kiện
khung pháp lý vẫn chưa được hoàn thiện.
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A

ngoài bao gồm Orion, Kraft, Perfetti Van Melle (nhà sản xuất của Mentos và
Alpenliebe), một số hãng bánh kẹo của Malaysia, Thái Lan, Indonesia... và
các nhà sản xuất trong nước như Kinh Đô, Hải Hà, Bibica, Hải Châu, Tràng
An, Hữu Nghị...
Trong các mặt hàng bánh kẹo, bánh kem xốp luôn là một trong những
mặt hàng nổi bật có doanh số tiêu thụ khá cao bên cạnh các mặt hàng kẹo,
bánh quy, bánh mềm, bánh chocolate. Hiện nay trên địa bàn Hà Nội, các sản
phẩm bánh kem xốp nhập khẩu từ Indonesia, Thái Lan, Malaysia… chiếm
khoảng 40% thị trường, những sản phẩm bánh kem xốp sản xuất trong nước
chiếm lĩnh 60% còn lại, đứng đầu về thị phần là các sản phẩm bánh kem xốp
của các công ty như Kinh Đô, Hải Hà, Hữu Nghị, Bibica… Các sản phẩm
bánh kem xốp của công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu hầu như không xuất
hiện trong các kênh phân phối ở nội thành Hà Nội mà chỉ có ở các vùng ngoại
ô, các khu vực Hà Nội 2, có thể do phải chịu sức ép quá lớn từ những đối thủ
cạnh tranh trong ngành, và người tiêu dùng tại các khu vực thành thị như Hà
Nội có xu hướng quan tâm đến thương hiệu nhiều hơn trong quyết định mua
của mình trong khi thương hiệu Hải Châu sơ với các thương hiệu chưa được
khách hàng đánh giá tương đưong. Với quy mô lớn và tốc độ tăng trưởng ổn
định của thị trường bánh kẹo nói chung, thị trường bánh kem xốp rõ ràng là
một thị trường đầy tiềm năng và cơ hội cho các công ty sản xuất và kinh
doanh bánh kẹo. Đồng thời thực tế thị trường vẫn cho thấy, mỗi công ty trên
thị trường bánh kẹo có một số sản phẩm thế mạnh riêng, Kinh Đô nổi tiếng
với bánh cracker, snack, bánh trung thu, Bibica có thế mạnh là dòng bánh
bông lan, Hữu Nghị có bánh mì tươi, bánh mì ruốc, Hải Hà mạnh đặc biệt
mạnh về kẹo và bánh mềm… Chưa có công ty nào cho thấy sự vượt trội rõ
ràng đối với sản phẩm bánh kem xốp, hay nói đúng hơn họ chưa tập trung
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phát triển sản phẩm bánh kem xốp như là một sản phẩm chủ đạo của danh

Hải Hà 65,8%
Bibica 0%
Hữu Nghị 5,3%
Kinh Đô 21,1%
Tràng An 0%
Hải Châu 7,9%
Kết quả này cho thấy mức độ liên hệ giữa thương hiệu “Hải Châu” và
thương hiệu “bánh Kem Xốp” trong tâm trí khách hàng là khá thấp, khi nghĩ
đến việc mua bánh kem xốp, sẽ có ít người nghĩ đến việc mua sản phẩm bánh
kem xốp của công ty Hải Châu, hay nói cách khác, thương hiệu “Hải Châu” ít
nằm trong liên tưởng của khách hàng khi nhắc tới sản phẩm bánh kem xốp.
Điều đó có thể giải thích bằng nhiều lý do, có thể do sản phẩm bánh kem xốp
của công ty không hấp dẫn người tiêu dùng bằng sản phẩm của đối thủ. Cũng
có thể là do, bánh kem xốp của Hải Châu chưa có một hình ảnh riêng, một
nhận diện riêng, vượt khỏi tầm ảnh hưởng của thương hiệu mẹ vốn đã tỏ ra
yếu thế hơn trên thị trường, để có những ảnh hưởng tích cực đến thương hiệu
mẹ. Điều này cho thấy sự cần thiết phải xây dựng hệ thống nhận diện chuẩn
cho thương hiệu bánh kem xốp của công ty Hải Châu.
2.2.2 Vị trí hiện tại của các nhãn hiệu Bánh Kem Xốp trong tâm trí người
tiêu dùng
Nguyễn Trọng Đức Marketing 47A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chính vì đa phần các sản phẩm bánh Kem Xốp hiện đang được bày bán
trên thị trường Hà Nội chưa có nhãn hiệu riêng và chưa có hệ thống nhận diện
chuẩn cũng như các chương trình truyền thông xúc tiến nên khi được hỏi “ghi
tên các loại bánh kem xốp mà anh/chị nhớ nhất” thì hầu như tất cả mọi người
đều bỏ trống, chỉ có một vài người ghi những cái tên chung là “bánh kem xốp
cam”, “bánh kem xốp Thái”, có một người ghi tên nhãn hiệu riêng là “bánh
kem xốp Good Time” (sản phẩm của công ty Hữu Nghị). Điều này cho thấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status