TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN SAU ĐẠI HỌC
BÀI THẢO LUẬN
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
HẠN CHẾ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC
CỦA FDI VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG THU HÚT FDI VÀO VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN TỚI
Nhóm 1: Nguyễn Hoàng Ân
Kiều Thị Lan Anh
Lưu Thị Phương Anh
Nguyễn Phương Anh
Nguyễn Phương Anh
Đặng Ngọc Châm
Bùi Cẩm Chi
Hoàng Thị Việt Chi
Hà Nội, 12 / 2012
9
Hạn chế những tác động tiêu cực của FDI và giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới
MỞ BÀI
FDI có ảnh hưởng tới nền kinh tế ở tất cả các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội. Tuy
nhiên, đối với các nước nghèo hay các nước đang phát triển như nước ta, kỳ vọng lớn
nhất của việc thu hút FDI chủ yếu là nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu này
được thực hiện thông qua tác động tích cực của FDI đến các yếu tố quan trọng quyết
định tốc độ tăng trưởng: Bổ sung nguồn vốn trong nước và cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế; tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và phát
triển khả năng công nghệ nội địa; phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm; thúc đẩy
xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới; tạo liên kết giữa các ngành công
nghiệp.
Tuy nhiên, không nên chỉ lạc quan với các mặt tích cực FDI mang lại mà các nước
nhận đầu tư/nước chủ nhà cũng luôn cần cảnh giác, tìm biện pháp để hạn chế các mặt
FDI nhanh chóng xác lập vị trí của mình trong quan hệ kinh tế quốc tế, FDI trở thành
9
Hạn chế những tác động tiêu cực của FDI và giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới
một xu thế tất yếu của lịch sử, một nhu cầu không thể thiếu của mọi nước trên thế giới
kể cả những nước đang phát triển, những nước công nghiệp mới hay những nước trong
khối OPEC và những nước phát triển cao.
2.2 Bản chất của FDI
- Có sự thiết lập về quyền sở hữu về Tư Bản của công ty một nước ở một nước khác
- Có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền quản lý các nguồn vốn đã được đầu tư
- Có kèm theo quyền chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý
- Có liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia
- Gắn liền với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế
3. Phân loại nguồn vốn FDI theo hình thức đầu tư
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại nguồn vốn FDI như: phân loại theo cơ
cấu các ngành kinh tế; phân loại theo vùng địa lý, lãnh thổ; phân loại theo bản chất đầu
tư; phân loại theo tính chất dòng vốn Tuy nhiên phân loại theo hình thức đầu tư của
nguồn là cách phân loại phổ biến nhất, bao gồm các loại hình sau :
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng
hợp tác kinh doanh được ký kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là các bên hợp tác kinh
doanh) để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở nước nhận đầu tư trong
đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà
không cần thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới. Hình thức này không
làm hình thành một công ty hay một xí nghiệp mới. Mỗi bên vẫn hoạt động với tư cách
pháp nhân độc lập của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình trước nước nhà.
- Doanh nghiệp liên doanh: Là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên
nước ngoài hợp tác với nước tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng
hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỉ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được
thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp
luật của nước tiếp nhận đầu tư. Hình thức này có đặc trưng là mỗi bên tham gia vào
doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân riêng, nhưng doanh nghiệp liên doanh là
động từ doanh nghiệp FDI đến các doanh nghiệp trong nước; chuyển giao công nghệ
cho doanh nghiệp trong nước; liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong
nước để sản xuất sản phẩm.
- FDI đóng góp đáng kể vào NSNN và các cân đối vĩ mô.
- FDI góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
- FDI thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính và tăng tính minh bạch của môi trường
đầu tư Việt Nam.
- FDI góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế, cụ
thể là 11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức kinh
tế lớn nhất thế giới tạo cơ hội phát triển cho nền kinh tế Việt Nam.
- FDI góp phần mở rộng tăng cường quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới.
1.2 Những tác động tiêu cực
a. Gây ra thâm hụt thương mại
- Thực trạng thâm hụt thương mại khu vực FDI trong giai đoạn 2008 đến tháng
10/2012.
Mặc dù kỳ vọng FDI là nơi sản xuất phải hướng về xuất khẩu (Nhà Nước có chính
sách khuyến khích doanh nghiệp FDI xuất khẩu trên 80% sản phẩm sản xuất ra ở Việt
Nam), nhưng thực chất kết quả xuất, nhập khẩu của khu vực doanh nghiệp FDI từ năm
2008 đến nay là kim ngạch nhập khẩu thường cao hơn kim ngạch xuất khẩu (nếu
không kể dầu thô).
9
Hạn chế những tác động tiêu cực của FDI và giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới
Bảng kim ngạch xuất, nhập khẩu của khu vực doanh nghiệp FDI
giai đoạn 1991-10/2012
Đơn vị tính: triệu USD
Năm
(A)
Xuất khẩu
Nhập khẩu
(D)
+ Tăng thuế nhập khẩu đối với hợp kim từ 0% lên 10%;
Giai đoạn năm 2008, 2009, khu vực FDI có xu hướng đầu tư khá lớn vào lĩnh vực
bất động sản. Do đó, việc tăng thuế nhập khẩu đầu vào đối với các sản phẩm thép và
hợp kim đã góp phần đáng kể làm giảm lượng nhập khẩu.
Năm 2011, thâm hụt thương mại ở khu vực này cũng giảm đáng kể là do thuận lợi
về giá xuất khẩu.
9
Hạn chế những tác động tiêu cực của FDI và giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới
- Nguyên nhân thâm hụt thương mại lớn ở khu vực này
+ Dòng vốn FDI đầu những năm 2000 tập trung vào các ngành sản xuất phục vụ
thị trường trong nước tạo ra nhu cầu nhập khẩu để đầu tư nhưng không tạo ra tiềm
năng xuất khẩu. Giữa những năm 2000, FDI dựa vào công nghiệp chế tạo phục vụ xuất
khẩu, do đó làm gia tăng cả nhập khẩu và xuất khẩu. Mặt khác, xu thế doanh nghiệp
FDI tập trung vào ngành bất động sản, tạo ra nhu cầu lớn đối với vật liệu xây dựng và
thiết bị nhập khẩu, trong khi không tạo ra năng lực xuất khẩu trong tương lai. Điều này
góp phần làm thâm hụt cán cân thương mại.
+ Việt Nam chưa thực sự hội nhập hoàn toàn vào chuỗi giá trị trong khu vực, chỉ
thực hiện hoạt động lắp ráp cho các tập đoàn đa quốc gia chứ chưa trở thành cơ sở sản
xuất với giá trị gia tăng cao. Hàng xuất khẩu chưa đa dạng, tập trung vào một số ngành
như dầu thô, dệt may, thủy sản, nông sản và giày dép, do đó, dễ bị ảnh hưởng tiêu cực
khi có biến động về giá hàng hóa và nhu cầu ở thị trường nước ngoài, đặc biệt là trong
giai đoạn kinh tế khó khăn như hiện nay.
b. Tác động xấu đến môi trường
Có cơ sở để nhận định rằng, một trong những tác động tiêu cực nhất của FDI đối
với nước nhận đầu tư là ảnh hưởng về môi trường. Tình trạng xuất khẩu ô nhiễm từ
các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông qua FDI ngày càng gia tăng.
Các nước đang phát triển có nguy cơ trở thành những nước có mức nhập khẩu ô nhiễm
cao và nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam… Bên cạnh đó, ảnh hưởng xấu
đến đa dạng sinh học, tài nguyên nước, thủy sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các lưu
vực sông ngày một rõ ràng và nghiêm trọng. Các khu vực công nghiệp mở rộng làm
Nồng độ Oxy hòa tan rất thấp, nhất là vùng bị ảnh hưởng của Vedan dài gần 13km, từ
hợp lưu sông Suối Cá – Thị Vải đến vàm Bà Riêu Lớn. Nước sông có màu nâu đen,
nhiều cặn, mùi hôi bốc lên nồng nặc.
c. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không hợp lý
Các Nhà đầu tư nước ngoài chỉ tập trung đầu tư vào các ngành có thể thu lợi nhuận
cao trong thời gian ngắn. Điều này đã dẫn đến tình trạng một số ngành mở rộng quy
mô quá mức so với nhu cầu của cơ cấu kinh tế, làm cho việc sử dụng các nguồn lực
phát triển trở nên kém hiệu quả, gây ra tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh, ảnh
hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Vốn đầu tư nước ngoài chỉ tập trung
vào những ngành có công nghệ tương đối thấp. Nói cách khác, các doanh nghiệp nước
ngoài chỉ quan tâm xây dựng các chiến lược của mình sao cho phù hợp với nền kinh tế
địa phương, có cân nhắc đến nguồn tài nguyên nội địa, quy mô và thị hiếu thị trường
nội địa và chất lượng của lao động và các đầu vào sẵn có, sản phẩm đầu ra của các
doanh nghiệp nội địa. Năm 2010 vốn FDI đăng ký của cả nước tập trung chủ yếu vào
ba lĩnh vực là: dịch vụ lưu trú và ăn uống; kinh doanh bất động sản; công nghiệp chế
biến, chế tạo. Cụ thể như sau: lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là lĩnh vực
thu hút FDI lớn nhất (chiếm 61,9% số dự án và 50,7% vốn đăng ký tại Việt Nam).
Lĩnh vực kinh doanh bất động sản trở thành lĩnh vực đứng thứ hai trong thu hút FDI
với 312 dự án, tổng vốn đăng ký 38,4 tỷ USD, chiếm 2,9% số dự án và 22% tổng vốn
đăng ký tại Việt Nam. Tiếp theo là các lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống, xây dựng,
thông tin và truyền thông, nghệ thuật và giải trí Trong khi đó, vốn FDI vào các lĩnh
vực như nông, lâm nghiệp, thủy sản; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm hay y tế; giáo dục
và đào tạo chưa nhiều. Chẳng hạn FDI vào ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm
4% về số dự án và 1,7% về vốn đăng ký hay FDI vào ngành tài chính, ngân hàng, bảo
hiểm chỉ chiếm 0,7% về số dự án cũng như vốn đăng ký của cả nước.
d. Chuyển giao công nghệ
Phần lớn máy móc, thiết bị được đưa vào VN là lạc hậu, đã qua sử dụng, tiêu hao
nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường; nổi lên hiện tượng xả thải ra môi trường;
Điều này là do tác động của cuộc cách mạng KHKT cho nên máy moc nhanh chóng
trở nên lạc hậu vì vậy các công ty nước ngoài thường xuyên chuyển giao những máy
hậu nhằm thực hiện chuyển giá dễ dàng hơn. Chuyển giá còn có thể là một trong
những nguyên nhân chính làm sụt giảm hiệu quả sử dụng vốn nói chung, sử dụng vốn
FDI nói riêng, khiến cho ICOR của khu vực FDI rất cao, thậm chí còn cao hơn cả khu
vực kinh tế trong nước và suất đầu tư trên lao động cũng tương đối cao.
- Thứ ba, đầu tư FDI góp phần rất tích cực tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa dịch vụ
có chất lượng cao. Tuy nhiên, do chuyển giá nên thị trường trong nước, cả thị trường
tư liệu sản xuất và thị trường tư liệu tiêu dùng, đều phải chịu mức giá cao bất hợp lý.
Một mặt, mức giá nhập khẩu cao do chuyển giá đã thủ tiêu lợi ích về giá từ hoạt
động nhập khẩu, làm cho mặt bằng giá cao giả tạo, thậm chí có một số hàng hóa dịch
vụ có mức giá tại Việt Nam còn cao hơn nhiều so với tại các nước trong khu vực. Mặt
khác, giá nhập khẩu cao do chuyển giá còn hạn chế khả năng cạnh tranh bình đẳng của
các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài.
Hơn nữa, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu thuế trực thu trong khi doanh nghiệp
FDI chủ yếu chịu thuế gián thu mà thực chất là người tiêu dùng cuối cùng phải chịu
nên doanh nghiệp Việt Nam lại càng khó cạnh tranh hơn. Nhất là hạn chế khả năng
tăng cường tiềm lực tài chính trước đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp FDI vốn có
lợi thế rõ ràng về tài chính. Do sức hấp dẫn của lợi nhuận thu được từ chuyển giá nên
doanh nghiệp FDI có thể không quan tâm khai thác các yếu tố đầu vào từ thị trường
trong nước thay vì nhập khẩu, do đó, hiệu ứng “tràn” của FDI bị hạn chế rất nhiều. Nói
cách khác, doanh nghiệp FDI phát triển hầu như không kéo theo sự phát triển của
doanh nghiệp trong nước. Trái lại, trong nhiều trường hợp còn chèn lấn doanh nghiệp
trong nước khi kinh doanh trong cùng ngành nghề.
2. Biện pháp hạn chế tác động tiêu cực
Để hạn chế tác động của thâm hụt thương mại, những biện sau có thể được áp dụng
- Chính sách tỷ giá
Một số ý kiến cho rằng, Việt Nam nên áp dụng các chính sách liên quan đến tỷ giá
để cải thiện tình trạng nhập siêu ở khu vực này. Tuy nhiên, chúng tôi không đồng ý với
quan điểm này do một số lý do sau:
Một nghiên cứu đã chỉ ra tác động của việc điều chỉnh tỷ giá đối với hoạt động xuất
nhập khẩu như sau:
R&D và yêu cầu kỹ năng thấp, ít có lợi thế kinh tế theo quy mô
+ Ngành có hàm lượng công nghệ trung bình (ô tô, máy móc …) công nghệ phức
tạp nhưng thay đổi chậm, chi phí R&D trung bình, yêu cầu cao về vốn
+ Ngành có hàm lượng công nghệ cao: rào cản gia nhập lớn
Theo cách phân loại của UNIDO, hàm lượng công nghệ các ngành xuất khẩu của
Việt Nam hầu như không thay đổi sau 10 năm, tỷ trọng các ngành sử dụng công nghệ
cao chỉ chiếm 12-13%, công nghệ trung bình 10%, công nghệ thấp >60%
Năm 2009, tỷ trọng ngành sử dụng công nghệ cao ở Trung Quốc là 35.6%, Công
nghệ thấp ở TQ < 30%
- Hạn chế nhập khẩu và nâng thuế nhập khẩu
+ Tỷ lệ nhập khẩu để phục vụ xuất khẩu cao (nhập khẩu chiếm 2/3 giá trị xuất
xưởng – theo báo cáo phân tích thâm hụt thương mại của Việt Nam và các điều khoản
về cán cân thanh toán của WTO phát hành ngày 5/10/2009), do đó, biện pháp hạn chế
nhập khẩu sẽ làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu;
9
Hạn chế những tác động tiêu cực của FDI và giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới
+ Nếu áp dụng các biện pháp này, FDI sẽ bị rút vốn hoặc đóng băng do không đáp
ứng được nhu cầu nhập khẩu đầu vào hoặc công nghệ;
+ Nhà đầu tư mất niềm tin vào nền kinh tế Việt Nam
- Giảm hệ số sử dụng hàng nhập khẩu ở Việt Nam bằng điều chỉnh cung: chuyển
dịch từ công nghệ gia công, lắp ráp sang công nghệ cao phục vụ xuất khẩu
- Cơ cấu hàng NK phải tập trung vào hàng hóa phục vụ nhu cầu đầu tư, tạo ra năng
lực XK mới hoặc bán thành phẩm là những nhân tố đóng góp vào năng lực sản xuất và
sức cạnh tranh trong dài hạn
Ngoài những biện pháp trên, còn có rất nhiều biện pháp có thể áp dụng để hạn chế
các tác động tiêu cực còn lại. Những biện pháp đó liên quan đến vấn đề cải thiện môi
trường đầu tư, nâng cao cơ sở vật chất hạ tầng hiện nay… Những biện pháp này không
chỉ hạn chế tác động tiêu cực mà còn có thể thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam.
III. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN FDI VÀO VIỆT NAM
9
Hạn chế những tác động tiêu cực của FDI và giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới
với nhà đầu tư trong nước để thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty
cổ phần, công ty hợp danh, theo quy định của Nghị định 108/2006/NĐ-CP, thì doanh
nghiệp này là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc theo hình thức hợp đồng
hợp tác kinh doanh (nếu không thành lập pháp nhân). Như vậy, việc xác định doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Nghị định 108/2006/NĐ-CP và
Nghị định 88/2006/NĐ-CP là khác nhau.
- Thủ tục hành chính nhiều phiền hà, tốn nhiều thời gian: hầu hết các doanh nghiệp
đều phàn nàn về việc gặp phải khá nhiều những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp,
bất hợp lý gây mất thời gian, tiền của cho doanh nghiệp. Việc cải cách thủ tục hành
chính là vấn đề vô cùng bức thiết hiện nay, càng đơn giản hóa những thủ tục hành
chính càng hấp dẫn hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, giúp Việt Nam
trở thành một điểm đến của nguồn vốn FDI hùng hậu.
Để khắc phục vấn đề chồng chéo giữa các điều Luật hiện nay, việc cần làm là:
- Tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách về đầu tư và kinh doanh để sửa đổi các nội
dung không đồng bộ, thiếu nhất quán, bổ sung các nội dung còn thiếu và loại bỏ các
điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư không phù hợp vơi cam kết khi gia nhập WTO.
- Sửa đổi các luật, các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng về đầu tư và kinh doanh.
Các bộ ngành cần chủ động sửa đổi bổ sung các nội dung thuộc thẩm quyền và nếu
không thuộc thẩm quyền thì có thể trình lên cấp cao hơn có thẩm quyền.
- Xem xét lại toàn bộ các văn bản pháp luật liên quan đến doanh nghiệp và đầu tư,
tìm ra những điểm còn chồng chéo, trùng lặp, bất hợp lý để điều chỉnh, bổ sung.
- Ban hành các tài liệu hướng dẫn đầu tư của từng ngành, từng địa phương cụ thể.
- Đầy mạnh các công tác nghiên cứu, tham khảo luật đầu tư nước ngoài của các
nước trên thế giới, đặc biệt các nước trong khu vực.
- Tăng cường kiểm soát thực hiện pháp luật, khắc phục tình trạng thực hiện luật còn
tùy tiện, theo cảm tính như hiện nay.
- Ban hành các văn bản ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựng
công trình phúc lợi như nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hóa, thể thao cho người lao
2. Nâng cấp cơ sở hạ tầng
Cơ sở vật chất hạ tầng là một trong số các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn với FDI nên
những quốc gia nào mà cơ sở vật chất hạ tầng yếu kém rất khó thu hút các nhà đầu tư
nước ngoài, khi đã không thu hút được đầu tư nước ngoài thì khả năng tạo cơ sở vật
chất hạ tầng cũng rất hạn chế. Do đó để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn này cần đi trước
một bước, tiến hành đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất hạ tầng, đáp ứng
yêu cầu FDI đặt ra. Điều này cũng có nghĩa: để thu hút được dòng FDI, nước chủ nhà
cần phải cải thiện cơ sở hạ tầng, phải đầu tư phát triển cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng bởi
số lượng FDI có tăng lên hay không theo thời gian còn phụ thuộc vào sự thoả mãn
thường xuyên về cơ sở vật chất hạ tầng như đường xá, giao thông vận tải, thông tin
liên lạc, hệ thống ngân hàng thương mại… Tăng trưởng cao của FDI thường đi đôi với
kế hoạch triển vọng về phát triển cơ sở vật chất hạ tầng của nước chủ nhà. Malaysia
với những dự án khổng lồ về xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho đến năm 2020 của
thủ tướng Mahathir, là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về thu hút FDI.Về
vai trò của cơ sở vật chất hạ tầng, theo kết quả khảo sát của nhóm 25 nước bao gồm
nước: Indonêxia, Hàn Quốc…. trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dương cho thấy
những chỉ tiêu cụ thể như số máy điện thoại trên 100 người dân, mức độ hiện đại của
hệ thống thông tin liên lạc, sự phát triển của hệ thống tài chính, chất lượng của đường
bộ, đường sắt… là những điều kiện được xem xét để duy trì FDI ở các nước này.
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật là cơ sở để thu hút FDI và cũng là nhân tố thúc đẩy hoạt
động FDI diễn ra nhanh chóng, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Đây là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư trước khi ra quyết định.
Quốc gia có hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông, năng lượng, hệ thống
cấp thoát nước, các cơ sở dịch vụ tài chính ngân hàng phát triển tạo điều kiện cho các
dự án FDI phát triển thuận lợi. Mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố này phản ánh trình
độ phát triển của mỗi quốc gia và tạo môi trường đầu tư hấp dẫn.Trong quá trình thực
hiện dự án, các nhà đầu tư chỉ tập trung vào sản xuất kinh doanh, thời gian thực hiện
các dự án được rút ngắn, bên cạnh đó việc giảm chi phí cho các khâu vận chuyển,
thông tin sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư. Vì vậy, đầu tư phát triển cơ sở vật chất và hạ
tầng kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với quá trình thu hút FDI. Và vốn đầu tư vào
vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần (logistic) để tăng cường năng lực cạnh tranh
của hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực
kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải, Lạch Huyện
- Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết của
Việt Nam với WTO đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu về văn
hóa-y tế-giáo dục, bưu chính-viễn thông, hàng hải, hàng không.
- Giảm hoặc miễn thuế trong một thời gian đủ lớn để hấp dẫn các dự án đầu tư vào
cơ sở hạ tầng.
- Nhà nước khuyến khích các chủ đầu tư Việt Nam tham gia liên doanh với bên
nước ngoài bằng các khuyến khích về tài chính, cấp tín dụng, viện trợ…
3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn lao động là cụm từ được nhắc đến khá nhiều trong thời gian gần
đây, nhất là khi thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam thời gian qua đang
có xu hướng chững lại. Nhiều chuyên gia cho rằng, sự chững lại này có nguyên nhân
không nhỏ từ chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư,
làm cho môi trường đầu tư tại Việt Nam kém hấp dẫn.
9
Hạn chế những tác động tiêu cực của FDI và giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới
Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), năm 2011
có 34% số doanh nghiệp hài lòng về chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam, dù cao hơn
con số 20% của năm 2008 nhưng vẫn còn thấp, và cần tiếp tục được cải thiện.
Giai đoạn 2001-2010 mặc dù Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực trong
chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng dạy nghề nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu của thị trường lao động về tay nghề và các kỹ năng mềm như tác phong công
nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm…
Cụ thể, kỹ năng nghề và năng lực nghề nghiệp của lao động Việt Nam vẫn còn
khoảng cách khá lớn so với các nước đang phát triển trên thế giới và khu vực. Năm
2007, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn Nhật Bản 50,4 lần; thấp hơn Hàn
Quốc là 18,6 lần; Malaysia 7,8 lần; Thái Lan 1,96 lần và Indonesia 1,5 lần. Năm 2011,
theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Việt Nam xếp thứ 65/141 quốc gia
cạnh tranh lớn, Việt Nam cần tập trung vào công tác đào tạo theo yêu cầu mà các nhà
đầu tư cần. Bằng phương thức vừa xây dựng, vừa hợp tác liên kết phát triển các dự án
giáo dục và đào tạo như các dự án Đại học Quốc tế, Liên kết đào tạo hệ thống giáo
9
Hạn chế những tác động tiêu cực của FDI và giải pháp thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới
dục này bước đầu đã góp phần đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng
cao mà doanh nghiệp FDI cần.
Ngoài ra, những biện pháp sau cũng cần thực hiện:
- Tăng cường mở các lớp dưới nhiều hình thức và qui mô khác nhau để đào tạo bồi
dưỡng những kiến thức về hợp tác đầu tư nước ngoài cho cán bộ và công nhân Việt
Nam.
- Tranh thủ sự giúp đỡ của các nước về đào tạo cán bộ, nên đưa các cán bộ chủ chốt
đi học nước ngoài về quản lý cũng như các lĩnh vực chuyên môn để nâng cao khả năng
làm việc cũng như đạo đức nghề nghiệp.
- Nghiên cứu và hình thành các chuyên đề về đầu tư nước ngoài để giảng dạy ở một
số trường đại học để ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường SV đã hiểu được cái nhìn
tổng quan nhất về đầu tư nước ngoài.
- Đặt ra sự chuẩn hóa trình độ cán bộ làm việc ở các chức vụ khách nhau trong xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là trong các xí nghiệp liên doanh.
4. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư
Khi mà hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ở giai đoạn đầu thì các chủ đầu tư
nước ngoài còn đang tiếp cận, thăm dò và lựa chọn thì hoạt động xúc tiến đầu tư là
một bước khởi đầu rất quan trọng giúp các chủ đầu tư nước ngoài rút ngắn thời gian
tìm hiểu, và lựa chọn quyết định đầu tư.
Chúng ta cần phải có các biện pháp xúc tiến sau:
- Đổi mới phương thức vận động, xúc tiến đầu tư:
Đẩy mạnh vận động đầu tư một cách chủ động theo các chương trình, dự án trọng
điểm; xúc tiến đầu tư theo ngành, lĩnh vực, địa bàn với các dự án và đối tác cụ thể,
hướng vào các đối tác nước ngoài có tiềm lực về tài chính và công nghệ nguồn như:
Châu Âu, Bắc Âu
KẾT LUẬN
FDI đã mang lại không ít tác động tiêu cực đối với kinh tế, xã hội như gây ra thâm
hụt thương mại, ô nhiễm môi trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không hợp lý, thất
thu NSNN, … Bên cạnh những tác động tiêu cực, khu vực FDI đã khẳng định được
vai trò tích cực và không thể phủ nhận đối với nền kinh tế như: bổ sung nguồn vốn
quan trọng cho đầu tư phát triển, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, tăng tính minh
bạch của môi trường đầu tư Việt Nam …. Vậy, để tiếp tục phát huy những mặt tích
cực và hạn chế những tác động tiêu cực của FDI, chúng ta cần thực hiện nghiêm túc
một số biện pháp như: cải thiện môi trường đầu tư; phát triển cơ sở vật chất, hệ thống
tài chính; cải cách giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tăng cường công
tác quản lý hoạt động đầu tư; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư. Nếu chúng ta thực
hiện nghiêm túc những biện pháp nêu trên, chắc chắn chúng ta sẽ thu hút được ngày
càng nhiều nguồn vốn FDI có chất lượng, vừa phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội, vừa hạn chế được những tác động tiêu cực do khu vực FDI gây ra.