Các giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho ngân hàng liên doanh với Lào - Việt, chi nhánh Hà nội - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
Lời nói đầu
Thế giới kinh doanh khắc nghiệt của con ngời không nằm ngoài quy luật,
bất kỳ thành viên nào trên thế giới cũng phải luôn đấu tranh để sinh tồn, mà
trong kinh doanh chúng ta gọi là cạnh tranh. Trong kinh tế thị trờng, sự cạnh
tranh giữa các ngân hàng cũng ngày càng quyết liệt.
Việt Nam trong thời kỳ mở cửa, hội nhập, sự xuất hiện ngày càng tăng
của các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nớc ngoài và ngân hàng liên doanh
càng làm cho môi trờng cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và trong ngành
ngân hàng nói riêng trở nên sôi động và rất khó nắm bắt. Chỉ cần một sự sơ xuất
nhỏ trong kinh doanh là lập tức một ngân hàng có thể bị sụp đổ ngay tức khắc.
Do vậy, nắm bắt và vận dụng đợc nguyên lý cạnh tranh vào hoạt động của ngân
hàng mình nh thế nào để có thể tồn tại và phát triển đợc là một vấn đề hết sức
khó khăn, đòi hỏi phải đợc nghiên cứu một cách khoa học.
Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng liên doanh Lào-Việt chi nhánh Hà
Nội, em nhận thấy ngân hàng có những lợi thế cạnh tranh nhất định trong hoạt
động kinh doanh nhng một số hạn chế hạn chế nghiêm trọng đã giảm khả năng
cạnh tranh của ngân hàng. Xuất phát từ những nhu cầu thực tế của ngân hàng,
sau một thời gian nghiên cứu và thực tập, đợc sự giúp đỡ của Thạc sỹ Lê Hơng
Lan và các cán bộ Chi nhánh LVB, em xin chọn đề tài cho Chuyên đề tốt nghiệp
của mình là: Các giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho Ngân
hàng liên doanh Lào-Việt, chi nhánh Hà Nội .
Nội dung của đề tài gồm 3 ch ơng nh sau:
Chơng I: Khả năng cạnh tranh của ngân hàng thơng mại.
Chơng II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của Chi nhánh LVB Hà Nội.
Chơng III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh cho Chi nhánh LVB Hà Nội.
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
ChơngII

do các cổ đông đóng góp, đối với ngân hàng liên doanh là do các đơn vị liên
doanh đóng góp.v.v... Vốn tự có của một NHTM ở mức dới hoặc bằng 10% so
với tổng tài sản có. Nguốn vốn này chiếm một phần không lớn trong tổng nguồn
vốn nó lại giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM. Bởi đây là điều
kiện cần và đủ để các NHTM hoạt động và là tấm đệm giúp các NHTM luôn
cần quan tâm không ngừng tới việc tăng quy mô, tăng hiệu quả sử dụng vốn
bằng cách trích lập các quỹ thích hợp nh: quỹ dự trữ, quỹ bảo toàn vốn, quỹ dự
phòng rủi ro... từ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, uy tín của một NHTM
phần lớn thể hiện qua quy mô vốn tự có. Bở lẽ, khách hàng sẽ tín nhiệm NHTM
nào có quy mô lớn với cách nghĩ rằng các NHTM có quy mô lớn sẽ đảm bảo độ
an toàn cao hơn.
Xu hớng ngày nay, các NHTM tăng vốn bằng cách tích tụ và đẩy mạnh
tập trung thông qua các hoạt động sáp nhập các NHTM với nhau.
-Tứ hai là , hoạt động huy động tiền gửi : nh ta thấy, phân theo mục đích
gửi tiền bao gồm: tiền gửi giao dịch và tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi giao dịch là khoản tiền mà chủ tài khoản có thể sử dụng với
mục đích thanh toán cho khách hàng của họ thông qua phát hành séc hoặc
chuyển khoản. Nó không những lớn mà còn là nguồn vốn rẻ nhấnt vì mục đích
của các khoản tiền gửi này không phải là nhận lãi mà là nhằm sử dụng dịch vụ
thanh toán qua hệ thống NHTM hoặc để giữ đợc tính lỏng cao nhất với mục đích
riêng.
Tiền gửi tiết kiệm (hay còn gọi là tiền gửi phi thanh toán), là khoản tiền
gửi mà chủ tài khoản này không dùng để thanh toán mà bù lại họ đợc hởng một
mức lãi suất thoả đáng. Nói chung, nguồn vốn này có chi phí cao hơn khoản tiền
gửi giao dịch nhng là nguồn vốn quan trọng, ổn định và đảm bảo cho NHTM
chủ động trong việc sử dụng vốn.
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
Trong hoạt động huy động tiền gửi, ngân hàng căn cứ vào tính chất và đặc

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
thực hiện đợc mục tiêu này, các NHTM phải có chính sách đầu t, tín dụng thích
hợp, kết hợp quản lý tài sản quản lý nguồn vốn, tuân thủ theo quy định của pháp
luật và sự hớng dẫn của ngân hàng Nhà nớc. Hoạt động này bao gồm:
-Thứ nhất, hoạt động ngân quỹ: là hoạt động để đảm bảo khả năng thanh
toán thờng xuyên cho khách hàng của NHTM. Trên bảng cân đối tài sản, kết quả
của hoạt động này đợc thể hiện ở khoản mục dự trữ. Có thể thấy, hầu hết các tài
sản dự trữ đều không sinh lời hoặc có khả năng sinh lời thấp nhng nó lại có tính
lỏng rất cao, điều đó rất cần thiết cho hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, là mối
quan hệ với chủ thể quản lý: Ngân hàng Nhà nớc do thực hiện hoạt động ngân
quỹ phải đảm bảo yêu cầu dự trữ bắt buộc (đợc ngân hàng Nhà nớc sử dụng nh là
công cụ để quản lý và điều hành chính sách tiền tệ, quản lý hoạt động của Ngân
hàng). Trong quản lý các nguồn ngân quỹ, các NHTM phải xác định đợc một cơ
cấu, tỷ lệ dự trữ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán, tránh ứ đọng và lãng phí
vốn. Hoạt động này nó bao gồm: nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân
hàng khác và ở Ngân hàng trung ơng, tiền trong quá trình thu nhận, và cũng có
thể bao gồm cả nghiệp vụ về bán chứng khoán ngắn hạn.
-Hai là, hoạt động cho vay: Cùng với hoạt động đầu t, hoạt động cho
vay đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thơng mại. Nhng đây là hoạt
động quan trọng nhất, thể hiện là một trong các chức năng cơ bản của NHTM.
Đó là, cho vay đối với nền kinh tế, qua đó thu đợc lợi nhuận cho mình. Tuy
nhiên, đi kèm với thu nhập cao là tính lỏng kém và rủi ro lớn. Vì vậy, trong quản
lý hoạt động cho vay cần xây dựng một chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp
với điều kiện của ngân hàng, tuân thủ các nguyên tắc quản lý cho vay, quy trình
nghiệp vụ tín dụng và triệt để tuân theo các quy định của pháp luật và của Ngân
hàng Nhà nớc về chất lợng tín dụng cũng nh các quy định kiểm soát khác.
-Ba là, hoạt động đầu t: Đây là nguồn thu lớn quan trọng thứ hai, sau
hoạt động cho vay. NHTM đầu t vào chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản
cao (đợc coi nh là một khoản dự trữ thứ cấp của NHTM) hoặc đầu t vào chứng
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A

6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
sự xâm nhập của các tổ chức phi tài chính, đã làm cạnh tranh trên thị trờng tài
chính ngày càng gay gắt.
Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đã không bó hẹp trong phạm vi nội bộ
quốc gia mà mở rộng trên toàn thế giới, giữa các ngân hàng với nhau, giữa các
ngân hàng với tổ chức phi tài chính và giữa các tổ chức này với nhau. Trong điều
kiện nh vậy, các NHTM phải chủ động quan tâm tới việc tìm ra nhu cầu và mong
muốn đó. Việc sử dụng marketing đã và đang là một điều kiện tất yếu trong cơ
chế thị trờng. Trong nền kinh tế hiện đại, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật, ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, vận dụng marketing, chuyên môn
hoá kết hợp với kinh doanh đa năng đợc xem là xu hớng phát triển kinh doanh
chính và cũng là để thắng trong môi trờng cạnh tranh gay gắt của NHTM.
3.Vai trò của Ngân hàng đối với nền kinh tế
Ngân hàng không chỉ đóng vai trò trong nền kinh tế-nhận tiền gửi và cho
vay - trên thực tế ngân hàng đã thực hiện nhiều vai trò để có thể duy trì khả năng
cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xã hội, các ngân hàng ngày nay có những vai trò
cơ bản sau:
- Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu tự hộ gia đình,
thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để
đầu t vào nhà cửa thiết bị và các tài sản khác.
- Vai trò thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán việc mua
bán hàng hoá và dịch vụ (nh bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng
lới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiền đúc).
- Vai trò ngời bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng
mất khả năng thanh toán (chẳng hạn phát hành th tín dụng).
- Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ,
phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán (thờng đợc thực hiện tại văn phòng uỷ
thác).
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A

Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
tồn tại và phát triển trong một môi trờng cạnh tranh gay gắt ngày càng cao, đòi
hỏi các NHTM phải nỗ lực không ngừng trong việc nâng cao chất lợng dịch vụ,
đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, áp dụng khoa học tiên tiến hiện đại hoá công
nghệ ngân hàng, chú trọng hơn nữa công tác marketing ngân hàng, nguồn nhân
lực, đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có để đáp ứng các yêu cầu đặt ra, phù hợp
với công nghệ hiện đại, đồng thời đa ra chính sách lãi suất (tín dụng, huy động
vốn), biểu phí dịch vụ có tính cạnh tranh lành mạnh, hấp dẫn nhằm duy trì và
mở rộng quan hệ với khách hàng cũng nh việc chủ động tìm đến khách hàng,
chủ động tìm kiếm dự án...
Mục tiêu quan trọng của NHTM là lợi nhuận, và việc cạnh tranh cũng
làm tăng thêm hoặc ổn định thu nhập của ngân hàng. Vấn đề này buộc các
NHTM phải chú ý nghiên cứu, thực hiện những biện pháp để tiết kiệm chi phí,
nâng cao năng suất và hiệu quả lao động, mở rộng và phát triển các dịch vụ...
Điều đó sẽ mang lại lợi ích cao cho bản thân các doanh nghiệp, dân chúng và xã
hội, đồng thời tăng sức cạnh tranh cho các NHTM.
Cạnh tranh thúc đẩy các NHTM luôn đánh giá đợc đúng thực lực của
mình, thấy đợc điểm mạnh, yếu của đối thủ cạnh tranh để tìm đợc biện pháp
cạnh tranh hữu hiệu và chiến thắng trong môi trờng cạnh tranh.
Cạnh tranh không chỉ đơn thuần là đối đầu nhau, chiến thắng tuyệt đối
đối thủ của mình mà còn bao hàm vấn đề hợp tác giữa các NHTM với nhau,
cạnh tranh trong xu thế hợp tác. Bởi lẽ để tồn tại và phát triển đợc các NHTM
dựa vào sức mình là chính. Nhng đôi khi cũng cần có sự hợp tác với nhau để
cùng giải quyết những vấn đề chung của ngành, của hệ thống, cùng hợp tác
trong hoạt động kinh doanh. Cụ thể là đối với những dự án hay hợp đồng tín
dụng lớn một NHTM không thể thực hiện đợc, mà cần phải có sự chung sức của
các NHTM, cùng nhau cho vay theo quy chế, đồng tài trợ, hoặc vấn đề điều hoà
vốn nội bộ trong hệ thống liên ngân hàng, tham gia là thành viên của Hiệp hội

10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
sản phẩm dịch vụ có chất lợng cao nhằm khẳng định vị trí của ngân hàng vợt lên
khỏi các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động ấy.
Sức mạnh đồng bộ của toàn bộ ngân hàng đợc phát huy khi ngân hàng tận
dụng đợc hết những khả năng sẵn có của mình để nâng cao vị thế cạnh tranh. Mỗi
ngân hàng đều có những lợi thế riêng và đều có khả năng tận dụng những lợi thế ấy
nếu có những nhận thức thực sự hiệu quả và đúng đắn, tức là mỗi ngân hàng đều có
khả năng phát triển mạnh mẽ hơn. Nói cách khác, khả năng cạnh tranh của ngân
hàng đợc đánh giá nh một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng kết hợp các lợi
thế cạnh tranh mà ngân hàng đang có để biến đổi thành những công cụ hữu
hiệu trong việc khẳng định vị trí của ngân hàng trên thị trờng.
4. Biểu hiện khả năng cạnh tranh của NHTM
4.1 Ưu thế cạnh tranh và sự vận dụng vào hoạt động của NHTM
- Trớc hết, u thế cạnh tranh do địa điểm, vị trí hoạt động có nhiều thuận
lợi. Tất cả các nhà quản lý ngân hàng đều nhận thức những vấn đề này, Tuy nhiên,
việc lựa chọn đợc một địa điểm kinh doanh tốt không phải là việc dễ dàng. Nếu
một ngân hàng thơng mại đặt trụ sở ở gần một ngân hàng thơng mại khác có nhiều
u thế hơn, hoặc nơi đặt trụ sở không phù hợp sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh
doanh.Việc lựa chọn vị trí đặt trụ sở phải phù hợp với quy mô hoạt động kinh
doanh, nếu ngân hàng có vốn ít mà chi phí xây dựng trụ sở lại tốn kém làm tăng chi
phí ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh.
- Hai là, bề dày hoạt động
Bề dầy lịch sử là u thế khá quan trọng. Khách hàng thờng chọn những nơi quen
biết, có bề dầy hoạt động để gửi tiền hoặc vay tiền.
- Ba là, Quy mô, địa bàn hoạt động
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
Ngân hàng thơng mại có quy mô lớn và địa bàn hoạt động rộng tạo nên u

một cách nhuần nhuyễn và linh hoạt sẽ là ngời chiến thắng trong cuộc cạnh tranh
này.
Trong hoạt động ngân hàng, giá cả dịch vụ thể hiện các mặt sau: Lãi suất
huy động vốn, lãi suất cho vay và phí dịch vụ.
Đối với chất lợng dịch vụ, các đích thật khó đạt đến, nhng đối với giá cả
dịch vụ cũng phải có giới hạn của nó, nếu vợt quá giới hạn sẽ ảnh hởng trực tiếp
đến kết quả hoạt động kinh doanh.
4.2 Những lĩnh vực (khía cạnh) cạnh tranh chủ yếu của NHTM.
Các NHTM cạnh tranh với nhau trong mọi hoạt động. Tuy nhiên, chúng có
thể đợc khái quát trên các lĩnh vực (khía cạnh) chủ yếu nh sau:
- Thứ nhất là: cạnh tranh về khách hàng
Với động cơ kinh doanh là nhằm đạt tới lợi nhuận ngày càng cao, do đó mỗi
NHTM đã hoạch định chiến lợc kinh doanh trong đó công bố các chính sách và các
giải pháp u đãi đối với khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng về mình trong việc
khỏi tăng nguồn vốn, cho vay và làm dịch vụ khép kín cho khách hàng.
Quá trình cạnh tranh giữa các NHTM đã làm tăng thêm nhu cầu tìm kiếm và
chọn lựa khách hàng, đồng thời nâng cao chất lợng phục vụ khách hàng theo hớng
nhanh nhạy, kịp thời, chi phí phục vụ thấp nhất và bảo đảm an toàn nhất.
- Thứ hai là: cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ
Các NHTM đều có chiến lợc sản phẩm. Việc tung các sản phẩm và dịch vụ
ra thị trờng đợc các nhà hoạch định tính toán kỹ lỡng các ích lợi vật chất và phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ cũng nh các công nghệ truyền thống. Những ý tởng
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
về sản phẩm dịch vụ mới là những vấn đề phức tạp liên quan đến hiệu quả kinh tế,
tiện dụng và an tâm cho cả khách hàng và Ngân hàng. Đây là khía cạnh của cạnh
tranh mà các NHTM rất chú trọng, luôn luôn nâng cao và đổi mới.
- Thứ ba là, Cạnh tranh về công nghệ và phong cách làm việc
Việc giao dịch với khách hàng một cửa, vừa đảm bảo nhanh chóng, chính

Với nghĩa thông thờng, hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp đợc
hiểu là mức chênh lệch đầu vào và đầu ra. Giá trị đầu vào đợc xác định bởi giá
các nhân tố chính tham gia quá trình sản xuất nh lao động đất đai, công nghệ...
giá trị đầu ra xác định bởi các sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp đó cung ứng
ra thị trờng. Một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả là doanh nghiệp có khả
năng tăng mức chênh lệch giá trị đầu ra so với giá trị đầu vào càng lớn càng tốt.
áp dụng vào lĩnh vực ngân hàng, hiệu quả kinh doanh thờng đợc đánh giá
thông qua 3 chỉ số phân tích cơ bản:
Lợi nhuận ròng
(1). ROA = * 100
Tổng tài sản có
Chỉ số ROA cho nhà phân tích thấy đợc khả năng bao quát của ngân hàng
thơng mại trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có. Nói cách khác, ROA giúp nhà
phân tích xác định hiệu quả kinh doanh tính trên một đồng tài sản có. ROA lớn
chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thơng mại tốt, NHTM có cơ cấu tài
sản hợp lý. NHTM có sự điều chỉnh linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản có
trớc những biến động của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu ROA quá lớn nhà phân
tích sẽ lo lắng vì rủi ro luôn song hành với lợi nhuận. Vì vậy việc so sánh ROA
giữa các kỳ hạch toán là rất cần thiết, giúp nhà phân tích có thể sự báo thành
công cũng nh thất bại của ngân hàng thơng mại.
Lợi nhuận sau thuế
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
(2). Chỉ số ROE = *100
Vốn chủ sở hữu
ROE là chỉ số đo lờng hiệu quả sử dụng của một đồng vốn tự có. Nó cho
biết lợi nhuận ròng mà các cổ đông có thể nhận đợc từ việc đầu t vốn của mình.
Nếu ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có của ngân hàng chiếm tỉ trọng
nhỏ so với tổng nguồn vốn. Vốn kinh doanh vì vậy sẽ chủ yếu từ nguồn huy

Tóm lại, các chỉ tiêu phản ánh chất lợng dịch vụ của một NHTM bao
gồm:
*Chất lợng nhân viên trực tiếp cung ứng dịch vụ
*Độ an toàn và chính xác
*Thủ tục giao dịch
*Tốc độ xử lý giao dịch
Để có thể đo lờng hầu hết các yếu tố mang tính chất vô hình nêu trên, các
NHTM có thể thực hiện các công cụ nghiên cứu Marketing nh làm bảng hỏi
khách hàng, phỏng vấn trực tiếp khách hàng, tổ chức toạ đàm theo chuyên đề
hoặc sử dụng hộp th góp ý của khách hàng... Riêng hai chỉ tiêu về độ an toàn,
chính xác của giao dịch và thời gian cho một giao dịch phòng chuyên trách của
ngân hàng có thể tự thống kê với một số lu ý sau:
Độ an toàn, chính xác trong giao dịch là tiêu chuẩn hàng đầu đối với mọi
khách hàng. Vì vậy, thực tế các NHTM đều đã đảm bảo tỷ lệ này ở mức suýt
soát 100%. Việc thống kê các sai sót trong quá trình cung ứng dịch vụ vì vậy
gặp khó khăn. Tuy nhiên, các sai sót khi phát hiện đợc, cần trừ điểm cao trong
tổng số điểm đánh giá chất lợng dịch vụ ngân hàng.
Tốc độ xử lý giao dịch: thời gian giao dịch cần thiết đối với các loại dịch vụ
khác nhau sẽ rất khác nhau. Ví dụ thời gian giao dịch cho một khoản vay ngắn hạn
có thể là 2 ngày trong khi thời gian cần thiết để hoàn tất một khoản vay trung và dài
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
hạn tối thiểu là 30 ngày, thậm chí là một năm vì vậy cũng nên so sánh theo từng
loại hình dịch vụ, không thể so sánh cùng lúc giữa các loại dịch vụ khác nhau.
3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự hài lòng của khách hàng
Đây là chỉ tiêu mang tính tổng hợp nhất và có thể nói là quan trọng nhất
theo quan điểm Marketing, vì suy cho cùng các NHTM cạnh tranh với nhau là
thu hút đợc nhiều khách hàng thông qua việc thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của
họ. Nh trên đã trình bày, sự hài lòng của khách hàng mang đậm tính chủ quan

giống nhau tạo nên sự đơn điệu chung trên thị trờng sản phẩm nhng những ngân
hàng có ý định hạ giá để tạo sự khác biệt cho sản phẩm của mình sẽ không thành
công. Ngân hàng nào cũng có tiềm năng cạnh tranh về giá nên giá cho vay chung
trên thị trờng chính là giá thấp nhất đảm bảo cho ngân hàng vẫn còn có thể có lãi từ
hoạt động cho vay. Bất cứ ngân hàng nào muốn phá vỡ thế ổn định đó sẽ kéo theo
sự chuyển động của cả một hệ thống và tính suy yếu cũng mang tính hệ thống sâu
sắc. Vợt qua giới hạn cuối cùng, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ trong
hoạt động kinh doanh và tiếp đó là khả năng tài chính giảm sút, làm mất đi khả
năng cạnh tranh trong tơng lai do không thể đáp ứng đợc các nhu cầu của khách
hàng.
Tuy nhiên, ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy là các ngân hàng có thể sử
dụng những lãi suất khác nhau cho những khách hàng khác nhau trong những
khoản vay thoạt trông là cùng loại và cùng quy mô. Điều này một phần là do các
nhân tố rủi ro khác nhau và các điều khoản khác nhau của khoản vay: tài sản bảo
đảm, thời điểm trả nợ v.v... Khách hàng có nhiều sự lựa chọn, bao gồm cả lựa chọn
không cần vay vì có khả năng tài chính vững mạnh, thờng nhận đợc lãi suất thấp
hơn so với những khách hàng có ít hơn hay không có lựa chọn nào.
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
Những sự lựa chọn trên cho phép khách hàng mua hàng giữa các ngân
hàng và các tổ chức tài chính khác để có đợc những điều kiện tốt nhất. Nếu điều
này xảy ra ở quy mô lớn, sự khác biệt về lãi suất của mỗi ngân hàng đối với các
khoản cho vay sẽ có xu hớng thu hẹp lại và sẽ chỉ có một sự khác biệt không đáng
kể về lãi suất giữa các ngân hàng trên cùng một thị trờng. Nói cách khác, quyền lực
của độc quyền bán quan hệ nghịch đảo với khả năng lựa chọn của khách hàng.
Tóm lại, đối với ngành ngân hàng, cạnh tranh bằng lãi suất không phải là
một công cụ đem lại lợi ích mong muốn. Một minh chứng dễ thấy nhất là tại các
nớc phát triển, lãi suất không phải là một công cụ đợc a thích và trên thị trờng liên
ngân hàng, lãi suất LIBOR và SIBOR không cách biệt nhau bao nhiêu. Để có thể sử

mới, hệ thống thông tin, chất lợng nguồn nhân lực, khả năng phân tích rủi ro và cơ
sở về vốn. Uy tín, hay còn đợc gọi là good will, gắn kết chặt chẽ với ngân hàng
nh là một sản phẩm của những hoạt động trong quá khứ đợc phản ánh trong tơng
lai.
Uy tín của một ngân hàng thờng đợc quyết định qua nhận xét của những
khách hàng đã sử dụng dịch vụ ngân hàng. Một khi ngân hàng đã tạo đợc vị trí
trong lòng khách hàng, điều này sẽ là một lợi thế cho ngân hàng trong việc quảng
cáo và bán sản phẩm mới. Thị trờng của ngân hàng rộng lớn và phức tạp với rất
nhiều kênh thông tin dày đặc cũng có tính 2 mặt của nó. Nếu ngân hàng hoạt động
tốt và phục vụ khách hàng tận tình chu đáo, sẽ đợc lan rộng nhanh chóng. Nhng khi
ngân hàng sơ sót thì danh tiếng của ngân hàng còn bị hạ thấp nhanh chóng hơn, uy
tín của ngân hàng giúp cho khách hàng có những lựa chọn tốt nhất để quyết định
vay vốn đầu t.
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
- Bộ máy lãnh đạo
Không phải ngân hàng nào cũng có nhiều lợi thế nh địa điểm, nguồn vốn tự
có để có thể phát huy thành một lợi thế cạnh tranh của mình. Vậy trong trờng hợp
này, các ngân hàng trên làm thế nào để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển giữa
những lực lợng hùng hậu khác? Một trong những chiếc chìa khoá của sự thành
công chính là năng lực sáng tạo và điều hành của bộ máy lãnh đạo ngân hàng. Sức
mạnh của bộ máy này là biết đánh giá, kết hợp một cách tài tình tất cả mọi nguồn
lực có trong tổ chức và phát huy tối đa khả năng của từng bộ phận vào kết quả tổng
hợp chung của ngân hàng. Để có thể thành công trong môi trờng cạnh tranh hiện
nay, các nhà quản trị ngân hàng cần có những tố chất sau đây:
+ Khả năng chuyên môn:
tuy có ý kiến cho rằng ngời quản lý ngày nay
không cần thiết phải có những hiểu biết chuyên sâu nhng thực chất, muốn có một
sự sắp xếp cho cơ chế hoạt động của bất cứ một bộ máy thì ngời quản lý phải có

trên nguồn vốn trong trờng hợp các khoản cho vay, và cũng chính trong lĩnh vực
này, chất lợng chung của các tài sản ngân hàng đã xấu đi trông thấy ở nhiều nớc.
Tuy nhiên cũng có những lý do tại sao NHTM lại miễn cỡng trong việc
tăng nguồn vốn cơ bản. Họ sẽ phải đối mặt với việc thu nhập bị loãng đi và với tầm
quan trọng của chính sách đòn bẩy, và một vài tổ chức đã phát hành các món nợ
hạng dới, các giấy tờ thanh toán có lãi suất thả nổi vô thời hạn và những hình thức
nợ khác có thể đợc coi nh vốn chủ sở hữu.
- Khả năng phân tích rủi ro
Các tổ chức tài chính tự tài trợ cho mình bằng cách tạo lập ra các tài sản tài
chính do ngời khác nắm giữ. Những trờng hợp dễ nhận thấy nhất là tài khoản tiền
gửi của khách hàng, giao dịch liên ngân hàng, và phát hành chứng chỉ tiền gửi cũng
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SOMMY VONGSOULINH
nh cổ phiếu. Do đó các tài sản cũng đợc xếp loại từ các tài sản có lãi suất thấp và
tính lỏng cao cho tới tài sản có lãi suất cao và tính lỏng thấp . Mỗi loại có một loại
rủi ro đặc trng. Trong bối cảnh này, chất lợng của một ngân hàng (khả năng phân
tích rủi ro) là một yếu tố quyết định quan trọng đến khả năng ngân hàng có thể bán
các sản phẩm tài chính của mình cho ngời khác với chi phí thấp nhất có thể.
Các khoản vay liên ngân hàng đã trở thành một nguồn tài trợ quan trọng
cho các ngân hàng, nguồn này trở thành một nguồn kém an toàn và có chi phí cao
hơn nguồn tiền gửi của khách hàng. Trong lúc đó, cho vay liên ngân hàng là một
khoản tài trợ bổ sung cho bên tài sản của bảng cân đối. Khả năng phân tích rủi ro
trở nên có ý nghĩa đặc biệt trong hoàn cảnh này. Những ngân hàng có chất lợng
phân tích kém hơn sẽ rơi vào khó khăn khi họ bắt buộc phải trả một khoản phí cao
hơn những ngân hàng khác để tự tài trợ cho mình trên thị trờng liên ngân hàng, vì
tình trạng yếu kém về chất lợng tín dụng của họ bị phản ánh thông qua khoản phí
này do các ngân hàng khác đặt ra.
Nh vậy trong tơng lai, khả năng phân tích tài chính sẽ là một vũ khí quan
trọng giúp cho ngân hàng đợc đánh giá chất lợng tín dụng cao hơn. Đồng thời nó

có thể là thông tin sơ cấp cho bộ phận khác và phục vụ cho những mục đích khác
nhau.
+ Chu kỳ phân nửa của thông tin có chiều hớng rất ngắn và có thể giảm. Do
mức độ biến đổi của thị trờng cao, những thông tin tài chính có tính quan trọng
sống còn nhanh chóng mất tác dụng, và những diễn biến đợc bảo đảm vào lúc đó
không còn đợc đánh giá cao ngay sau đó
+ Sự phức tạp ngày càng tăng của môi trờng cạnh tranh và sự đa dạng của
các loại hình dịch vụ tài chính đã làm tăng khó khăn đối với các công ty và cá nhân
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
25

Trích đoạn Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của NHTM Cải tiến công tác tín dụng Hiện đại hoá hệ thống thông tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status