Lời nói đầu
Thế giới kinh doanh khắc nghiệt của con ngời không nằm ngoài quy luật,
bất kỳ thành viên nào trên thế giới cũng phải luôn đấu tranh để sinh tồn, mà
trong kinh doanh chúng ta gọi là cạnh tranh. Trong kinh tế thị trờng, sự cạnh
tranh giữa các ngân hàng cũng ngày càng quyết liệt.
Việt Nam trong thời kỳ mở cửa, hội nhập, sự xuất hiện ngày càng tăng
của các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nớc ngoài và ngân hàng liên doanh
càng làm cho môi trờng cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và trong ngành
ngân hàng nói riêng trở nên sôi động và rất khó nắm bắt. Chỉ cần một sự sơ xuất
nhỏ trong kinh doanh là lập tức một ngân hàng có thể bị sụp đổ ngay tức khắc.
Do vậy, nắm bắt và vận dụng đợc nguyên lý cạnh tranh vào hoạt động của ngân
hàng mình nh thế nào để có thể tồn tại và phát triển đợc là một vấn đề hết sức
khó khăn, đòi hỏi phải đợc nghiên cứu một cách khoa học.
Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng liên doanh Lào-Việt chi nhánh Hà
Nội, em nhận thấy ngân hàng có những lợi thế cạnh tranh nhất định trong hoạt
động kinh doanh nhng một số hạn chế hạn chế nghiêm trọng đã giảm khả năng
cạnh tranh của ngân hàng. Xuất phát từ những nhu cầu thực tế của ngân hàng,
sau một thời gian nghiên cứu và thực tập, đợc sự giúp đỡ của Thạc sỹ Lê Hơng
Lan và các cán bộ Chi nhánh LVB, em xin chọn đề tài cho Chuyên đề tốt nghiệp
của mình là: Các giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho Ngân
hàng liên doanh Lào-Việt, chi nhánh Hà Nội .
Nội dung của đề tài gồm 3 ch ơng nh sau:
Chơng I: Khả năng cạnh tranh của ngân hàng thơng mại.
Chơng II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của Chi nhánh LVB Hà Nội.
Chơng III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh cho Chi nhánh LVB Hà Nội.
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
1
Chơng I
Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh trong hoạt động
của Ngân hàng thơng mại
vốn nó lại giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM. Bởi đây là điều
kiện cần và đủ để các NHTM hoạt động và là tấm đệm giúp các NHTM luôn
cần quan tâm không ngừng tới việc tăng quy mô, tăng hiệu quả sử dụng vốn
bằng cách trích lập các quỹ thích hợp nh: quỹ dự trữ, quỹ bảo toàn vốn, quỹ dự
phòng rủi ro... từ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, uy tín của một NHTM
phần lớn thể hiện qua quy mô vốn tự có. Bở lẽ, khách hàng sẽ tín nhiệm NHTM
nào có quy mô lớn với cách nghĩ rằng các NHTM có quy mô lớn sẽ đảm bảo độ
an toàn cao hơn.
Xu hớng ngày nay, các NHTM tăng vốn bằng cách tích tụ và đẩy mạnh
tập trung thông qua các hoạt động sáp nhập các NHTM với nhau.
-Tứ hai là , hoạt động huy động tiền gửi : nh ta thấy, phân theo mục đích
gửi tiền bao gồm: tiền gửi giao dịch và tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi giao dịch là khoản tiền mà chủ tài khoản có thể sử dụng với
mục đích thanh toán cho khách hàng của họ thông qua phát hành séc hoặc
chuyển khoản. Nó không những lớn mà còn là nguồn vốn rẻ nhấnt vì mục đích
của các khoản tiền gửi này không phải là nhận lãi mà là nhằm sử dụng dịch vụ
thanh toán qua hệ thống NHTM hoặc để giữ đợc tính lỏng cao nhất với mục đích
riêng.
Tiền gửi tiết kiệm (hay còn gọi là tiền gửi phi thanh toán), là khoản tiền
gửi mà chủ tài khoản này không dùng để thanh toán mà bù lại họ đợc hởng một
mức lãi suất thoả đáng. Nói chung, nguồn vốn này có chi phí cao hơn khoản tiền
gửi giao dịch nhng là nguồn vốn quan trọng, ổn định và đảm bảo cho NHTM
chủ động trong việc sử dụng vốn.
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
3
Trong hoạt động huy động tiền gửi, ngân hàng căn cứ vào tính chất và đặc
điểm của từng loại tiền gửi cũng nh nhu cầu, tâm lý tiêu dụng của ngời dân, của
các tổ chức kinh tế.v.v... để đa ra những hình thức huy động khác nhau nhằm đạt
hiệu quả cao nhất. Nghiệp vụ huy động đợc xác định bởi các thể chế, quy định
về thời gian về lãi suất, hình thức chi trả và hình thức tài khoản. Thông thờng,
toán thờng xuyên cho khách hàng của NHTM. Trên bảng cân đối tài sản, kết quả
của hoạt động này đợc thể hiện ở khoản mục dự trữ. Có thể thấy, hầu hết các tài
sản dự trữ đều không sinh lời hoặc có khả năng sinh lời thấp nhng nó lại có tính
lỏng rất cao, điều đó rất cần thiết cho hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, là mối
quan hệ với chủ thể quản lý: Ngân hàng Nhà nớc do thực hiện hoạt động ngân
quỹ phải đảm bảo yêu cầu dự trữ bắt buộc (đợc ngân hàng Nhà nớc sử dụng nh là
công cụ để quản lý và điều hành chính sách tiền tệ, quản lý hoạt động của Ngân
hàng). Trong quản lý các nguồn ngân quỹ, các NHTM phải xác định đợc một cơ
cấu, tỷ lệ dự trữ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán, tránh ứ đọng và lãng phí
vốn. Hoạt động này nó bao gồm: nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân
hàng khác và ở Ngân hàng trung ơng, tiền trong quá trình thu nhận, và cũng có
thể bao gồm cả nghiệp vụ về bán chứng khoán ngắn hạn.
-Hai là, hoạt động cho vay: Cùng với hoạt động đầu t, hoạt động cho
vay đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thơng mại. Nhng đây là hoạt
động quan trọng nhất, thể hiện là một trong các chức năng cơ bản của NHTM.
Đó là, cho vay đối với nền kinh tế, qua đó thu đợc lợi nhuận cho mình. Tuy
nhiên, đi kèm với thu nhập cao là tính lỏng kém và rủi ro lớn. Vì vậy, trong quản
lý hoạt động cho vay cần xây dựng một chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp
với điều kiện của ngân hàng, tuân thủ các nguyên tắc quản lý cho vay, quy trình
nghiệp vụ tín dụng và triệt để tuân theo các quy định của pháp luật và của Ngân
hàng Nhà nớc về chất lợng tín dụng cũng nh các quy định kiểm soát khác.
-Ba là, hoạt động đầu t: Đây là nguồn thu lớn quan trọng thứ hai, sau
hoạt động cho vay. NHTM đầu t vào chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản
cao (đợc coi nh là một khoản dự trữ thứ cấp của NHTM) hoặc đầu t vào chứng
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
5
khoán có tính lu hoạt thấp nhng có kỳ hạn dài hơn để bù lại lợi ích đem lại cao
hơn khoản mục trên bảng cân đối tài sản thể hiện kết quả hoạt động này. Trong
hoạt động đầu t, ngân hàng chủ động lựa chọn từ một loạt chứng khoán hiện có.
Các NHTM thực hiện hoạt động này nhằm mục tiêu đa dạng lợi tức, lợi ích về
kiện nh vậy, các NHTM phải chủ động quan tâm tới việc tìm ra nhu cầu và mong
muốn đó. Việc sử dụng marketing đã và đang là một điều kiện tất yếu trong cơ
chế thị trờng. Trong nền kinh tế hiện đại, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật, ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, vận dụng marketing, chuyên môn
hoá kết hợp với kinh doanh đa năng đợc xem là xu hớng phát triển kinh doanh
chính và cũng là để thắng trong môi trờng cạnh tranh gay gắt của NHTM.
3.Vai trò của Ngân hàng đối với nền kinh tế
Ngân hàng không chỉ đóng vai trò trong nền kinh tế-nhận tiền gửi và cho
vay - trên thực tế ngân hàng đã thực hiện nhiều vai trò để có thể duy trì khả năng
cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xã hội, các ngân hàng ngày nay có những vai trò
cơ bản sau:
- Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu tự hộ gia đình,
thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để
đầu t vào nhà cửa thiết bị và các tài sản khác.
- Vai trò thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán việc mua
bán hàng hoá và dịch vụ (nh bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng
lới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiền đúc).
- Vai trò ngời bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng
mất khả năng thanh toán (chẳng hạn phát hành th tín dụng).
- Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ,
phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán (thờng đợc thực hiện tại văn phòng uỷ
thác).
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
7
- Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện các chính sách kinh tế của Chính
phủ, góp phần điều tiết sự tăng trởng kinh tế và theo đuổi mục tiêu xã hội.
II. Khái quát về cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng
1. Cạnh tranh là gì?
Cạnh tranh là hành động của một cá nhân
hay tổ chức cố gắng để chiến thắng hoặc giành đợc
vốn), biểu phí dịch vụ có tính cạnh tranh lành mạnh, hấp dẫn nhằm duy trì và
mở rộng quan hệ với khách hàng cũng nh việc chủ động tìm đến khách hàng,
chủ động tìm kiếm dự án...
Mục tiêu quan trọng của NHTM là lợi nhuận, và việc cạnh tranh cũng
làm tăng thêm hoặc ổn định thu nhập của ngân hàng. Vấn đề này buộc các
NHTM phải chú ý nghiên cứu, thực hiện những biện pháp để tiết kiệm chi phí,
nâng cao năng suất và hiệu quả lao động, mở rộng và phát triển các dịch vụ...
Điều đó sẽ mang lại lợi ích cao cho bản thân các doanh nghiệp, dân chúng và xã
hội, đồng thời tăng sức cạnh tranh cho các NHTM.
Cạnh tranh thúc đẩy các NHTM luôn đánh giá đợc đúng thực lực của
mình, thấy đợc điểm mạnh, yếu của đối thủ cạnh tranh để tìm đợc biện pháp
cạnh tranh hữu hiệu và chiến thắng trong môi trờng cạnh tranh.
Cạnh tranh không chỉ đơn thuần là đối đầu nhau, chiến thắng tuyệt đối
đối thủ của mình mà còn bao hàm vấn đề hợp tác giữa các NHTM với nhau,
cạnh tranh trong xu thế hợp tác. Bởi lẽ để tồn tại và phát triển đợc các NHTM
dựa vào sức mình là chính. Nhng đôi khi cũng cần có sự hợp tác với nhau để
cùng giải quyết những vấn đề chung của ngành, của hệ thống, cùng hợp tác
trong hoạt động kinh doanh. Cụ thể là đối với những dự án hay hợp đồng tín
dụng lớn một NHTM không thể thực hiện đợc, mà cần phải có sự chung sức của
các NHTM, cùng nhau cho vay theo quy chế, đồng tài trợ, hoặc vấn đề điều hoà
vốn nội bộ trong hệ thống liên ngân hàng, tham gia là thành viên của Hiệp hội
ngân hàng, tham gia thanh toán bù trừ, thông tin tín dụng...
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
9
Tuy nhiên cạnh tranh giữa các Ngân hàng diễn ra rất gay gắt và khốc liệt,
đôi khi dẫn tới sự thiếu bình tĩnh trong hoạt động giữa các ngân hàng làm cho
môi trờng cạnh tranh không lành mạnh. Tạo ra nhiều khe hở cho các biểu hiện
tiêu cực về kinh tế dẫn đến tình trạng cá lớn nuốt cá bé cũng nh các yếu tố
làm cho thị trờng tài chính dễ biến động. Có nguy cơ làm giảm tiềm lực sức
mạnh của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
hiệu trong việc khẳng định vị trí của ngân hàng trên thị trờng.
4. Biểu hiện khả năng cạnh tranh của NHTM
4.1 Ưu thế cạnh tranh và sự vận dụng vào hoạt động của NHTM
- Trớc hết, u thế cạnh tranh do địa điểm, vị trí hoạt động có nhiều thuận
lợi. Tất cả các nhà quản lý ngân hàng đều nhận thức những vấn đề này, Tuy nhiên,
việc lựa chọn đợc một địa điểm kinh doanh tốt không phải là việc dễ dàng. Nếu
một ngân hàng thơng mại đặt trụ sở ở gần một ngân hàng thơng mại khác có nhiều
u thế hơn, hoặc nơi đặt trụ sở không phù hợp sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh
doanh.Việc lựa chọn vị trí đặt trụ sở phải phù hợp với quy mô hoạt động kinh
doanh, nếu ngân hàng có vốn ít mà chi phí xây dựng trụ sở lại tốn kém làm tăng chi
phí ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh.
- Hai là, bề dày hoạt động
Bề dầy lịch sử là u thế khá quan trọng. Khách hàng thờng chọn những nơi quen
biết, có bề dầy hoạt động để gửi tiền hoặc vay tiền.
- Ba là, Quy mô, địa bàn hoạt động
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
11
Ngân hàng thơng mại có quy mô lớn và địa bàn hoạt động rộng tạo nên u
thế về tâm lý đối với khách hàng. khách hàng thơng quan niệm khi gửi tiền vào các
NHTM lớn thì sẽ yên tâm hơn. Mạng lới chân dết của NHTM cũng có tác dụng
tăng cờng quy mô hoạt động của NHTM với phơng châm góp gió thành bão
- Bốn là, Tính chất sở hữu của loại hình NHTM
Ngân hàng thơng mại thuộc sở hữu Nhà nớc hay cổ phần, t nhân là một u
thế tâm lý. Khách hàng rất tin tởng đối với ngân hàng thơng mại quốc doanh, khi
gửi tiền vào họ không sợ bị mất, nhất là sau khi hàng loạt các tổ chức tín dụng đổ
vỡ. Đối với NHTM cổ phần đa số là khách hàng lớn và họ gửi tiền nh là một giải
pháp tạm thời vì lãi suất hấp dẫn hơn. Các NHTM quốc doanh vẫn là nơi để các
khách hàng lớn chọn mặt gửi vàng.
- Năm là, Trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng
Trình độ cán bộ nhân viên không chỉ là trình độ chuyên môn mà còn là thái
giải pháp u đãi đối với khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng về mình trong việc
khỏi tăng nguồn vốn, cho vay và làm dịch vụ khép kín cho khách hàng.
Quá trình cạnh tranh giữa các NHTM đã làm tăng thêm nhu cầu tìm kiếm và
chọn lựa khách hàng, đồng thời nâng cao chất lợng phục vụ khách hàng theo hớng
nhanh nhạy, kịp thời, chi phí phục vụ thấp nhất và bảo đảm an toàn nhất.
- Thứ hai là: cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ
Các NHTM đều có chiến lợc sản phẩm. Việc tung các sản phẩm và dịch vụ
ra thị trờng đợc các nhà hoạch định tính toán kỹ lỡng các ích lợi vật chất và phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ cũng nh các công nghệ truyền thống. Những ý tởng
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
13
về sản phẩm dịch vụ mới là những vấn đề phức tạp liên quan đến hiệu quả kinh tế,
tiện dụng và an tâm cho cả khách hàng và Ngân hàng. Đây là khía cạnh của cạnh
tranh mà các NHTM rất chú trọng, luôn luôn nâng cao và đổi mới.
- Thứ ba là, Cạnh tranh về công nghệ và phong cách làm việc
Việc giao dịch với khách hàng một cửa, vừa đảm bảo nhanh chóng, chính
xác và kịp thời, vừa đảm bảo văn minh, lịch sự đối với khách hàng, phù hợp với xu
hớng mở cửa, hội nhập khu vực cũng nh quốc tế.
Giao dịch một cửa (nhng không nhiều khoá), nhiều tổ chức tín dụng đã gắn
liền với việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại; kết nối mạng vi tính thông
suốt đảm bảo chế độ thờng xuyên có ngời trực máy giao dịch với khách hàng;
nhanh chóng khắc phục và xử lý kịp thời sự cố do máy móc, hoặc quy trình tác
nghiệp ùn tắc gây nên; việc đổi mới các quy trình, quy phạm về nghiệp vừa tiếp thu
công nghệ hiện đại, vừa kế thừa công nghệ truyền thống. Đồng thời không ngừng
bồi dỡng, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ công nhân viên, cũng nh tuyển mới
làm cho đội ngũ ngời lao động đạt trình độ chuyên môn cao, phong cách giao dịch
tốt, đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển đảm bảo cạnh tranh theo nhu cầu ngày
càng phát trình đảm bảo cạnh tranh theo luật pháp thắng lợi.
- Cuối cùng là, Cạnh tranh về mạng lới giao dịch
Việc mở rộng mạng lới kinh doanh, tiếp thị trong và ngoài nớc, các NHTM
sản hợp lý. NHTM có sự điều chỉnh linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản có
trớc những biến động của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu ROA quá lớn nhà phân
tích sẽ lo lắng vì rủi ro luôn song hành với lợi nhuận. Vì vậy việc so sánh ROA
giữa các kỳ hạch toán là rất cần thiết, giúp nhà phân tích có thể sự báo thành
công cũng nh thất bại của ngân hàng thơng mại.
Lợi nhuận sau thuế
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
15
(2). Chỉ số ROE = *100
Vốn chủ sở hữu
ROE là chỉ số đo lờng hiệu quả sử dụng của một đồng vốn tự có. Nó cho
biết lợi nhuận ròng mà các cổ đông có thể nhận đợc từ việc đầu t vốn của mình.
Nếu ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có của ngân hàng chiếm tỉ trọng
nhỏ so với tổng nguồn vốn. Vốn kinh doanh vì vậy sẽ chủ yếu từ nguồn huy
động và nh vậy có thể ảnh hởng tới mức độ lành mạnh trong kinh doanh của
NHTM.
Tổng chi phí
(3). Chỉ số COI = *100
Tổng thu nhập
Chỉ số COI tính toán khả năng bù đắp chi phí từ nguồn thu nhập của
NHTM. Đây cũng là chỉ số đo lờng hiệu quả kinh doanh của NHTM. Thông th-
ờng chỉ số này phải nhỏ hơn 1. Nếu lớn hơn 1 chứng tỏ NHTM hoạt động kém
hiệu quả và đang có nguy cơ phá sản trong tơng lai.
Thông qua bảng tổng kết tài sản và báo cáo thu nhập-chi phí đợc các NHTM
công bố trong các bản báo cáo thờng niên đợc phát hành rộng rãi, các nhà phân
tích sẽ dễ dàng có đợc chỉ số trên.
2. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh chất lợng dịch vụ của NHTM
Chất lợng dịch vụ luôn là vấn đề quan tâm của NHTM. Vì chất lợng dịch
vụ ngày càng trở nên lợi thế cạnh tranh, mang ý nghĩa sống còn đối với hoạt
động của NHTM.
Tốc độ xử lý giao dịch: thời gian giao dịch cần thiết đối với các loại dịch vụ
khác nhau sẽ rất khác nhau. Ví dụ thời gian giao dịch cho một khoản vay ngắn hạn
có thể là 2 ngày trong khi thời gian cần thiết để hoàn tất một khoản vay trung và dài
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
17
hạn tối thiểu là 30 ngày, thậm chí là một năm vì vậy cũng nên so sánh theo từng
loại hình dịch vụ, không thể so sánh cùng lúc giữa các loại dịch vụ khác nhau.
3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự hài lòng của khách hàng
Đây là chỉ tiêu mang tính tổng hợp nhất và có thể nói là quan trọng nhất
theo quan điểm Marketing, vì suy cho cùng các NHTM cạnh tranh với nhau là
thu hút đợc nhiều khách hàng thông qua việc thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của
họ. Nh trên đã trình bày, sự hài lòng của khách hàng mang đậm tính chủ quan
của chính họ. Vì vậy, việc hình thành một nhóm chỉ tiêu cụ thể để đánh giá gặp
nhiều khó khăn. Song, nhìn chung, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng khi họ nhận
đợc dịch vụ đúng (đáp ứng đúng mục đích giao dịch), chất lợng đúng (nh họ
mong đợi), giá cả đúng (họ cho rằng hợp lý) và thời gian đúng (không quá lâu).
Do hầu hết các tiêu chuẩn yêu cầu của khách hàng về dịch vụ đã đợc thể
hiện qua hai nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lợng và chỉ tiêu phản ánh sự đổi mới
nên tại nhóm chỉ tiêu này chủ yếu sẽ đợc đánh giá theo khía cạnh kết quả vấn
đề, cụ thể nh sau: Tốc độ tăng trởng (suy giảm) số lợng khách hàng, tốc độ tăng
trởng (suy giảm) thị phần.
Phơng pháp tính toán hai chỉ tiêu trên chủ yếu là thống kê thông tin từ
trong nội bộ ngân hàng và thông tin từ bên ngoài ngân hàng. Do mức sinh lợi
của các nhóm khách hàng/dịch vụ khác nhau sẽ khác nhau. Vì vậy hai chỉ tiêu
nói trên cần đợc thống kê theo từng loại hình dịch vụ cụ thể.
IV.Các công cụ cạnh tranh của NHTM
1. Cạnh tranh bằng lãi suất
L
ãi suất là giá cả của việc sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà ng-
ời sử dụng phải trả cho ngời sở hữu nó
Những sự lựa chọn trên cho phép khách hàng mua hàng giữa các ngân
hàng và các tổ chức tài chính khác để có đợc những điều kiện tốt nhất. Nếu điều
này xảy ra ở quy mô lớn, sự khác biệt về lãi suất của mỗi ngân hàng đối với các
khoản cho vay sẽ có xu hớng thu hẹp lại và sẽ chỉ có một sự khác biệt không đáng
kể về lãi suất giữa các ngân hàng trên cùng một thị trờng. Nói cách khác, quyền lực
của độc quyền bán quan hệ nghịch đảo với khả năng lựa chọn của khách hàng.
Tóm lại, đối với ngành ngân hàng, cạnh tranh bằng lãi suất không phải là
một công cụ đem lại lợi ích mong muốn. Một minh chứng dễ thấy nhất là tại các
nớc phát triển, lãi suất không phải là một công cụ đợc a thích và trên thị trờng liên
ngân hàng, lãi suất LIBOR và SIBOR không cách biệt nhau bao nhiêu. Để có thể sử
dụng công cụ này có hiệu quả trong cạnh tranh là một điều vô cùng khó khăn,
trong những trờng hợp cụ thể thì biện pháp an toàn và thực tế nhất là bám theo lãi
suất cơ bản của ngân hàng trung ơng. Đây cũng chính là cách thức mà các ngân
hàng trên thế giới đang sử dụng trong cho vay trung và dài hạn nhằm bảo đảm đợc
kết quả hoạt động kinh doanh nhng cũng không vợt quá khỏi ngỡng của lãi suất
cạnh tranh.
2. Cạnh tranh bằng sự phân biệt
Nh trên đã khẳng định, một ngân hàng muốn tạo đợc sự khác biệt với các
ngân hàng khác thì phải có những vũ khí chiến lợc riêng thật hiệu quả nhằm đạt đ-
ợc sự tán thởng và ủng hộ cao nhất của khách hàng, từ đó mới có thể hy vọng sẽ tạo
đợc chỗ đứng trên thị trờng và hoạt động có chất lợng, vợt lên hẳn các đối thủ cạnh
tranh trớc đó. Loại bỏ yếu tố lãi suất không hiệu quả, chúng ta có thể xem xét một
số công cụ chủ yếu của ngân hàng trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn nh
sau: uy tín của ngân hàng, năng lực của bộ máy lãnh đạo, nguồn vốn tự có và huy
động , hệ thống thu thập và xử lý thông tin, khả năng phân tích rủi ro, chất lợng
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
20
nguồn nhân lực, công nghệ ngân hàng và đổi mới công nghệ và công tác quản trị
chiến lợc.
- Uy tín của ngân hàng
mạnh của bộ máy này là biết đánh giá, kết hợp một cách tài tình tất cả mọi nguồn
lực có trong tổ chức và phát huy tối đa khả năng của từng bộ phận vào kết quả tổng
hợp chung của ngân hàng. Để có thể thành công trong môi trờng cạnh tranh hiện
nay, các nhà quản trị ngân hàng cần có những tố chất sau đây:
+ Khả năng chuyên môn:
tuy có ý kiến cho rằng ngời quản lý ngày nay
không cần thiết phải có những hiểu biết chuyên sâu nhng thực chất, muốn có một
sự sắp xếp cho cơ chế hoạt động của bất cứ một bộ máy thì ngời quản lý phải có
những hiểu biết nhất định, nhờ thế mới có thể phát huy đợc khả năng của từng bộ
phận trong tổ chức. Khi mỗi cá nhân và bộ phận đợc đặt vào đúng vị trí và năng lực
hoạt động của mình, họ mới có thể phát huy hết khả năng phục vụ cho lợi ích của
ngân hàng cũng nh là lợi ích của chính họ.
+ Khả năng phán đoán: ban lãnh đạo ngân hàng cần phải có tầm nhìn xa
chiến lợc, nhờ đó có thể phán đoán tơng đối chính xác các xu hớng của thị trờng,
có khả năng phân tích và dự đoán tác động của các biến đổi hiện tại, từ đó đa ra các
chiến lợc ở tầm vĩ mô nhằm trang bị cho ngân hàng những vũ khí hiệu quả nhất giữ
vững vị trí trên thị trờng.
+ Khả năng, nghệ thuật đối nhân xử thế:
khả năng này không những thể
hiện trong phơng pháp bố trí nhân lực, khuyến khích cố gắng của nhân viên trong
ngân hàng để thu đợc hiệu quả làm việc xuất sắc nhất mà còn đợc áp dụng trong
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
22
giao tiếp đối với khách hàng và các cấp có thẩm quyền. Hoạt động ngân hàng diễn
ra ở trung tâm của xã hội, mối quan hệ của ngân hàng với các thành phần kinh tế
khác lại dày đặc cũng nh chịu ảnh hởng tác động của các bộ ngành khác nhau
trong nền kinh tế nên sự khéo léo và uyển chuyển trong giao tiếp của cán bộ lãnh
đạo ngân hàng sẽ mang lại cho ngân hàng những u thế đặc biệt trong mối quan hệ
với khách hàng và bộ máy chính quyền trung ơng và địa phơng. Điều này cho thấy
ngân hàng không chỉ đơn thuần thực hiện công việc kinh doanh mà ngân hàng phải
phân tích kém hơn sẽ rơi vào khó khăn khi họ bắt buộc phải trả một khoản phí cao
hơn những ngân hàng khác để tự tài trợ cho mình trên thị trờng liên ngân hàng, vì
tình trạng yếu kém về chất lợng tín dụng của họ bị phản ánh thông qua khoản phí
này do các ngân hàng khác đặt ra.
Nh vậy trong tơng lai, khả năng phân tích tài chính sẽ là một vũ khí quan
trọng giúp cho ngân hàng đợc đánh giá chất lợng tín dụng cao hơn. Đồng thời nó
cũng cung cấp cho ngân hàng những thông tin cần thiết trong hoạt động đầu t của
mình, nâng cao khả năng an toàn và giảm bớt những biến động về nguồn vốn huy
động của ngân hàng trong lĩnh vực cho vay. Một nguồn vốn ổn định cho phép ngân
hàng phục vụ khách hàng tốt hơn và khẳng định mạnh mẽ hơn uy tín của ngân
hàng.
- Hệ thống thu thập thông tin
Nếu tiền là thông tin vận động thì các dịch vụ tài chính chính là lĩnh vực
cần thông tin nhất trong nền kinh tế. Nhiều dịch vụ tài chính (ví dụ nh: dịch vụ t
vấn tài chính) có bản chất hoàn toàn là thông tin, và sự vận động của các tổ chức tài
chính để thoát ra khỏi các hoạt động có hình thức trao đổi hàng hoá trở thành các
Lớp Tài chính Doanh nghiệp 41A
24
hoạt động kinh doanh có giá trị gia tăng cao hơn đang tăng cờng tầm quan trọng
của các sản phẩm đòi hỏi có nhiều thông tin, cả về khối lợng và chất lợng. Các dịch
vụ không có bản chất thông tin cũng vẫn có xu hớng phụ thuộc ngày càng nhiều
vào chất lợng thông tin vì giá trị của mình. Hơn thế nữa, thông tin không đối xứng
giữa các đối thủ cạnh tranh và khách hàng của họ góp phần rất lớn vào việc giải
thích những khác biệt trong hoạt động cạnh tranh.
Một trong những chức năng quan trọng nhất của các tổ chức tài chính là
đánh giá rủi ro lại phụ thuộc rất nhiều vào chất lợng thông tin. Tất cả các hình thức
cho vay và các hoạt động liên quan đến tín dụng phụ thuộc vào việc thu thập, xử lý
và đánh giá một khối lợng thông tin rất lớn. Tơng tự, sự đồng hoá thông tin về các
nhu cầu của khách hàng rất quan trọng trong quá trình phát triển và đáp ứng nhu
cầu của các dịch vụ.