Giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Chi nhánh Thăng Long - Pdf 11

A: ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoạt động ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt trong số các loại
hình kinh doanh trong nền kinh tế thị trường; đó là loại hình kinh doanh tiền
tệ và các dịch vụ tài chính có liên quan.
Đối với nền kinh tế, cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng là một động lực
phát triển kinh tế - xã hội, bởi vì hoạt động ngân hàng là một trong số các
loại hình hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mà cạnh tranh
là một đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường.
Trong xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá, sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, cạnh tranh trong hoạt động
NH trên thế giới đang diễn ra gay gắt, sôi động với tốc độ nhanh.
Thực hiện công cuộc đổi mới hoạt động NH, trong hơn 10 năm qua, hệ
thống NH ở Việt Nam đã phát triển rất nhanh, với đa thành phần sở hữu, đa
dạng mô hình, đa dạng hoạt động và nghiệp vụ, …
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể đứng vững và phát triển, các NH đã
luôn tìm mọi cách để có thể thu hút được khách hàng nhằm tăng lợi nhuận.
Do vậy, sự cạnh tranh trong lĩnh vực NH đang diễn ra hết sực sôi động và
quyết liệt.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010, Đại hội lần thứ IX
của Đảng ta đã khẳng định: “Hình thành đồng bộ và tiếp tục phát triển, hoàn
thiện các loại thị trường đi đôi với việc xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể
chế, để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương
trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và
kiểm soát độc quyền kinh doanh.”
Trong bài viết của em, thông qua quá trình thực tập tại Ngân hàng Đầu tư
và phát triển Chi nhánh Thăng Long (NHĐT & PTTL), em xin được đề cập
tới vấn đề cạnh tranh giữa các ngân hàng với đề tài là : “Giải pháp nhằm
nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Chi
nhánh Thăng Long”.
Bài viết của em được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình trực tiếp của thấy
giáo Trương Đăng Khoa và các cán bộ của NHĐT & PTTL.

tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp. Cạnh tranh có thể được hiểu là
sự ganh đua nhau giữa các nhà doanh nghiệp trong việc dành một nhân tố
sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị trế của mình trên thị trường để
đạt được mục tiêu kinh doanh, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hay thị phần.
Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua: ganh
đua về giá cả, số lượng, dịch vụ hoặc kết hợp các yếu tố này và các nhân tố
khác để tác động đến khách hàng. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh,
các tín hiệu giá cả, lợi nhuận tạo ra sự kích thích để các doanh nghiệp
chuyển nguồn lực từ nơi tạo ra giá cả thấp sang nơi tạo ra giá cả cao hơn.
Việc phân cấp quá trình ra quyết định cho doanh nghiệp sẽ thúc đẩy phân bổ
hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội, tăng phúc lợi cho người tiêu
dùng và tăng hiệu quả các hoạt động thông qua đổi mới, thay đổi kỹ thuật và
tiến bộ của toàn bộ nền kinh tế.
2. Khái niệm cạnh tranh Ngân hàng.
Trong cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước tham gia điều tiết và can thiệp
bằng các chính sách kinh tế vĩ mô vào nền kinh tế, thể hiện vai trò điều hành
-3-
của Nhà nước đối với sự vận hành của các chủ thể kinh tế, thúc đẩy những
mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của cạnh tranh.
Hoạt động Ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt trong số các loại
hình kinh doanh trong nền kinh tế thị trường; đó là hoạt động kinh doanh
tiền tệ và các dịch vụ tài chính có liên quan. Do đó cạnh tranh trong Ngân
hàng được hiểu là chủ thể Ngân hàng với nghệ thuật sử dụng tổng hợp các
phương thức, yếu tố, … nhằm giành được phần thắng trên thị trường, với lợi
nhuận cao nhất, nâng cao vai trò và vị thế của mình trên thị trường.
Đối với nền kinh tế, cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng là một động lực
phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vì hoạt động Ngân hàng là một trong số các
loại hình hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mà cạnh tranh
là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường.
3. Cơ sở và vai trò của cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng.

cạnh tranh trên thương trường. Muốn vậy ngoài việc phải đáp ứng được các
yêu cầu cần về các tiêu chuẩn chất lượng với khách hàng, phải còn có các
điều kiện đủ khác, đó là quảng bá, khuyến mại, tiếp thị và làm tốt có hiệu
quả các khâu quản trị - điều hành khác nữa.
4. Đặc điểm cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng.
So với các hoạt động kinh doanh chung trong nền kinh tế, cạnh tranh trong
hoạt động Ngân hàng có các đặc điểm riêng biệt sau:
a, Đối với khách hàng.
Không giống với các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế thị
trường, hoạt động Ngân hàng là một loại hình kinh doanh tiền tệ. Cũng
chính vì vậy mà các khách hàng của nó cũng quan tâm rất khác đến sản
phẩm dịch vụ của Ngân hàng cung cấp với các sản phẩm dịch vụ mà các
doanh nghiệp cung cấp. Các động cơ chủ yếu thúc đẩy khách hàng mua các
hoạt động dịch vụ của Ngân hàng là:
+ Lơi nhuận hoặc tiết kiệm. Tìm kiếm lợi nhuận là động cơ quan trọng tìm
tới các dịch vụ Ngân hàng của các chủ thể thị trường bán lẻ. Với các chủ thể
này thì lãi suất có ý nghĩa to lớn.
+ Tính linh hoạt của dịch vụ. Khách hàng rất chú ý tới tính linh hoạt của
dịnh vụ đó, là dịch vụ có thể thích nghi với những nhu cầu thay đổi.
+ Chất lượng dịch vụ. Khách hàng quan tâm đến chất lượng dịch vụ, đó
cũng là cơ sở cho sự cạnh tranh phi giá. Song cũng cần chú ý rằng nhiều khi
giá rẻ nhưng chất lượng dịch vụ không tốt cũng không thu hút được khách
hàng.
+ Tốc độ. Đây cũng là điều quan tâm của khách hàng bởi vì tốc độ dịch vụ
nhanh cũng có nghĩa là chu chuyển vốn nhanh, do đó giảm được chi phí sử
dụng vốn hơn nữa, nhiêu khi đảm bảo được kịp thời, thời cơ cho việc sử
dụng vốn của khách hàng.
+ An toàn. Nơi bảo quản vững chắc tiền vốn của mình, nều như người gửi
tiền chọn được Ngân hàng gửi tiền tốt.
-5-

nhất và chất lượng ngày càng cao.
b, Đối với Ngân hàng.
Là tổ chức, là pháp nhân, được cơ quan chức năng: Chính phủ, Ngân hàng
Trung ương hoặc Bộ tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động với các
điều kiện cụ thể, được hoạt động Ngân hàng ở một khu vực, trong cả nước
-6-
hay cả phạm vi quốc tế. Có nhiều loại Ngân hàng và tổ chức trung gian tài
chính, bao gồm:
- Ngân hàng thương mại
- Ngân hàng tiết kiệm
- Ngân hàng đầu tư và phát triển
- Ngân hàng chuyên ngành: giao thông, bưu điện, …
- Ngân hàng chính sách
- Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính
- Quỹ tín dụng, hợp tác xã tín dụng, ….
Ngân hàng có trụ sở giao dịch cố định gắn liền với các khu dân cư, khu vực
kinh doanh, đầu mối giao thông, … Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ
của công nghệ thông tin còn có Ngân hàng ảo, Ngân hàng tại nhà (Home
Banking), Ngân hàng trên mạng Internet (Banking Internet), …
c, Đối với mỗi thị trường, nền kinh tế và cơ quan quản lý.
Đặc điểm, tính chất và nội dung cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng của
mỗi quốc gia tuỳ thuộc vào: thể chế chính trị, môi trường pháp lý, trình độ
phát triển kinh tế, đường lối chính sách trong từng thời kỳ và phong tục tập
quán. Đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển hoạt động Ngân
hàng cũng phát triển và cạnh tranh rất sôi động, các cơ chế quản lý phần
nhiều là sử dụng công cụ gián tiếp, hoặc các chế tài quy định trong luật
chuyên ngành. Còn đối với các nước chậm phát triển hay đang trong quá
trình chuyển đổi thì các công cụ quản lý trực tiếp, các biện pháp hành chính
được sử dụng nhiều hơn.
d, Yêu cầu về quản lý và cơ chế điều hành cạnh tranh trong hoạt động Ngân

trị điều hành trong chiến lược cạnh tranh Ngân hàng.
c, Phí dịch vụ.
Phí dịch vụ là số tiền mà khách hàng phải trả cho Ngân hàng về một loại
dịch vụ nào đó, hay Ngân hàng phải trả cho người cung cấp dịch vụ.
Hoạt động Ngân hàng ngày càng phát triển, các loại dịch vụ Ngân hàng
ngày càng phát triển và đa dạng. Có thể kể đến một số loại phí dịch vụ chính
của một Ngân hàng như sau:
- Phí bảo lãnh
- Phí thanh toán, chuyển tiền
- Phí tư vấn, cung cấp thông tin.
- Phí giữ hộ (ngân quỹ), …
-8-
Trong quản trị điều hành về kĩnh vực này, ngoài việc đưa ra mức phí hấp
dẫn cho khách hàng thì vấn đề quan trọng tiếp theo là chất lượng dịch vụ
ngày càng hoàn hảo và tiện lợi.
2. Sử dụng các ngiệp vụ và đưa các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng.
- Tiền gửi, huy động vốn: Mục tiêu cạnh tranh của mỗi Ngân hàng là làm
sao huy động được khối lượng vốn đủ lớn phục vụ cho kinh doanh với lãi
suất thấp nhất. Nghệ thuật cạnh tranh là đa dạng hoá các hình thức gửi tiền
và huy động vốn với việc tổ chức giao dịch tiện lợi.
- Cho vay, bảo lãnh, cho thuê, đầu tư, … lĩnh vực này có thể được gọi là sử
dụng vốn. Mục tiêu là làm sao sử dụng tối đa guồn vốn trong phạm vi cho
phép bảo đảm an toàn, chất lượng cao, thu được nhiều lãi. Nghệ thuật cạnh
tranh cũng là đa dạng hoá các hình thức, linh hoạt lãi suất, làm tốt công tác
tiếp thị, …
- Chiết khấu, tái chiết khấu, … mục tiêu cũng là có mức chiết khấu hợp lý,
khối lượng chiết khấu đủ lớn, khách hàng đông đảo, … nhằm thu được lợi
nhuận từ nghiệp vụ ngày càng cao.
- Kinh doanh hối đoái, thu đổi ngoại tệ, … mục tiêu cũng là thu được lợi
nhuận ngày càng cao. Phương pháp là luôn đưa ra mức tỷ giá và dự đoán

- Hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng: đó là việc ứng dụng những thành tựu
mới nhất của tiến bộ khoa học vào các khâu trong hoạt động Ngân hàng, tập
trung đó là thanh toán, thẩm định dự án, thu thập thông tin, khách hàng,
chuyển tiền, kinh doanh hối đoái, …
- Mở rộng màng lưới giao dịch: với việc thiết lập chi nhánh, phòng giao
dịch, văn phòng giao dịch, … tại các khu vực mới, có tiềm năng về phát
triển thị trường.
- Đa dạng hoá nghiệp vụ: bao gồm đa dạng hình thức thu hút tiền gửi và
huy động vốn, đa dạng hình thức cho vay, mở ra nhiều loại hình dịch vụ
Ngân hàng. Xu hướng là luôn đưa ra các loại sản phẩm và dịch vụ mới với
chất lượng hoàn hảo. Hoặc là thiên về Ngân hàng bán buôn, hoặc là thiên về
nghiệp vụ Ngân hàng bán lẻ.
- Tiếp thị, khuyến mại, quảng cáo: đây là khâu rất quan trọng trong nghệ
thuật cạnh tranh nhằm làm cho khách hàng biết đến các sản phẩm dịch vụ
mới của Ngân hàng, tăng uy tín và đông đảo mọi người biết đến Ngân hàng.
Chủ động tìm đến với khách hàng, săn lùng tìm kiếm dự án lớn và khả thi,
thu hút đông đảo khách hàng, nhất là khách hàng lớn, có uy tín.
- Quản lý tài chính: mục tiêu là tiết kiệm tới mức thấp nhất chi phí bỏ ra,
đầu tư hợp lý và có hiệu quả cho các hoạt động, giảm chi phí, tăng lợi
nhuận. Mức phí và lãi suất có sức hấp dẫn khách hàng.
- Quản trị, điều hành: tổng hợp các biện pháp, phương pháp nghệ thuật
trong tổ chức hoạt động Ngân hàng sao cho đạt được mục tiêu cạnh tranh.
Nó còn bao gồm cả nghệ thuật xử lý các tình huống kinh doanh, cũng như
đưa ra các chiến lược ngắn hạn, trung dài hạn, luôn luôn thích ứng với mọi
tình hình.
-10-
- Nhân sự: có thể nói yếu tố con người có tính chất quyết định trong cạnh
tranh, nó bao gồm trình độ, năng lực cán bộ, nhân viên, nghệ thuật và
phương pháp làm việc, nghệ thuật và thái độ giao dịch, tiếp xúc với khách
hàng. Trong môi trường cạnh tranh, đòi hỏi trình độ cán bộ ngày càng cao,

chung, chưa có nước nào ban hành đạo luật riêng về cạnh tranh trong hoạt
động Ngân hàng.
-11-
2. Ngân hàng Trung ương thanh tra, giám sát, kiểm soát.
Nhìn chung, chức năng của Ngân hàng Trung ương ở tất cả các nước là xây
dựng và điều hành thực hiện chính sách tiền tệ, thực hiện các nghiệp vụ
Ngân hàng Trung ương. Còn chức năng thanh tra, giám sát hoạt động Ngân
hàng, có nước thì thuộc về Ngân hàng Trung ương, có nước thì thuộc về Bộ
tài chính.
- Điều hành chính sách tiền tệ và thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng Trung
ương là công cụ gián tiếp điều chỉnh hoạt động cạnh tranh của Ngân hàng
theo mục tiêu đề ra.
- Thanh tra, giám sát là biện pháp trực tiếp mà Ngân hàng Trung ương hay
Bộ tài chính thực hiện quản lý hoạt động Ngân hàng.
- Các công cụ trực tiếp và gián tiếp thực hiện đồng thời, kết hợp với nhau.
Đối với các nước có hoạt động Ngân hàng phát triển, công cụ gián tiếp được
sử dụng nhiều hơn, ngược lại, các nước có hoạt động Ngân hàng đang trong
quá trình chuyển đổi, công cụ trực tiếp được chú trọng sử dụng hơn.
3. Kiểm toán.
Ở hầu hết các nước, luật định yêu cầu có kiểm toán bắt buộc đối với hoạt
động Ngân hàng. Có 3 loại kiểm toán: kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc
lập và kiểm toán nội bộ. Thông qua công tác kiểm toán, xác định sự trung
thực, tính chính xác của các báo cáo tài chính, từ đó phát hiện, uốn nắn
những hoạt động cạnh tranh không đúng từ những vấn đề hạch toán, những
vấn đề thể hiện trên báo cáo tài chính.
4. Tự giám sát.
Cần được nhận thức rằng, luật pháp, hoạt động của cơ quan quản lý, các
công cụ trực tiếp, gián tiếp điều chỉnh hoạt động Ngân hàng, tất cả là yếu tố
bên ngoài, còn vấn đề quan trọng, có tính chất quyết định, là tự bản thân các
Ngân hàng phải tự bảo vệ mình, bảo vệ lợi ích của mình trong các hoạt động

Tiếp nhận và giải quyết các khiếu nai, kiến nghị và tranh chấp giữa khách
hàng và người bán hàng nói chung hay Ngân hàng cung cấp các sản phẩm
dịch vụ ngân hàng nói riêng.
IV. Khái quát tình hình cạnh tranh trong hoạt động Ngân
hàng ở Việt Nam hiện nay.
1. Hệ thống tổ chức và quản lý.
Thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, cuối thập kỷ 80, ở nước
ta, hệ thống Ngân hàng từ I cấp chuyển thành II cấp. Ngân hàng Nhà nước
làm chức năng quản lý, còn các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng
thực hiện chức năng kinh doanh. Tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng có
hiệu lực thi hành, hệ thống Ngân hàng đã được phát triển mạnh mẽ về nhiều
mặt. Tháng 10/1998, luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và luật các Tổ
chức tín dụng có hiệu lực thi hành. Đến nay, sau hơn 10 năm đổi mới và
phát triển, hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam đã phát triển phong phú về hình
thức: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách, hợp tác xã tín dụng,
quỹ tín dụng nhân dân; đa dạng về loại hình sở hữu: nhà nước, tập thể, cổ
-13-
phần, liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài; đông đảo về số lượng. Cụ
thể:
Tên Ngân hàng Vốn điều lệ
(tỷ đồng)
Số chi
nhánh
Cán bộ
(người)
Ngân hàng
đại lý
I.Khối NHTM Quốc doanh
1. NH No&PTNT 2.200 1.468 22.797 450
2. NHĐT&PT VN 1.100 102 4.786 565

nhánh NH nước ngoài đứng đầu, NHTM quốc doanh tụt xuống hàng thứ hai.
Điều này là do một số vốn khá lớn của các NHTM quốc doanh nằm trong
giá trị nhà trụ sở, văn phòng, trang thiết bị làm việc nên khả năng sinh lời
thấp. Tiếp đến là số vốn điều lệ, vốn pháp định tính bình quân một cán bộ,
nhân viên, của khối NH liên doanh và chi nhánh NH nước ngoài cao gấp
nhiều lần so với khối NH trong nước.
Như vậy, khối chi nhánh NH nước ngoài và NH liên doanh có năng lực
cạnh tranh cao nhất, tiếp đến là khối NHTM quốc doanh và NH chính sách,
NHTM cổ phần đứng thứ ba và cuối cùng là quỹ tín dụng nhân dân.
b, Về cán bộ.
Khối NHTM quốc doanh kể cả NH chính sách có số lượng cán bộ đông
nhất, nhìn chung đã qua đào tạo, có kinh nghiệm, đã trải qua thực tiễn. Một
số NH có trình độ cán bộ khá, được đào tạo ở nước ngoài, có kiến thức nhất
định về đối ngoại, nhất là Vietcombank. Song nhìn chung chưa đáp ứng
được yêu cầu cạnh tranh trong xu thế hội nhập.
Khối NH liên doanh, chi nhánh NH nước ngoài, công ty cho thuê tài chính
100% vốn nước ngoài hay công ty cho thuê tài chính liên doanh, đội ngũ cán
bộ có trình độ khá hơn cả. Đó là các nhà điều hành, quản lý, tác nghiệp
người nước ngoài được đào tạo theo mặt hàng trình độ quốc tế và kinh
nghiệm hoạt động tài chính - NH quốc tế. Đội ngũ cán bộ được tuyển chọn ở
Việt Nam theo các tiêu chí chặt chẽ, khách quan, đảm bảo về ngoại ngữ, vi
tính, chuyên môn, phong cách làm việc.
Khối NHTM cổ phần đô thị và khối TCTD có đội ngũ cán bộ rất yếu, bộ
máy quản trị điều hành phần lớn là những người cao tuổi. Mặt khác, đội ngũ
cán bộ nhân viên có tỷ lệ đông là con ông, cháu cha, tuyển chọn theo tình
cảm, nể nang. Do vậy, đây là hai khối cần được tăng cường về nhiều mặt,
trước hết là kiến thức nghiệp vụ kinh doanh NH, đặc biệt là cán bộ của hệ
thống quỹ tín dụng nhân dân.
-15-
c, Trình độ công nghệ.

kinh doanh ngoại tệ. NH No&PTNT có thê mạnh nhất là vươn ra thị trường
rộng lớn trong toàn quốc, đặc biệt là thị trường nông thôn. Khối NHTM cổ
phần có ưu thế thị trường là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ kinh doanh
buôn bán.
-16-
3. Các biện pháp mà các NH sử dụng trong cạnh tranh.
a, Nâng cao trình độ công nghệ NH.
Phù hợp với xu hướng và thông lệ quốc tế, các TCTD ở Việt Nam đã tập
trung đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ NH, đây là biện pháp quan
trọng nhất để nâng cao sức mạnh cạnh tranh.
Từ tháng 5/1999, Citi Banhk, một NH lớn của Mỹ có chi nhánh chính tại
Hà Nội và chi nhánh phụ tại Thành phố HCM đã công bố và quảng cáo rộng
rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa dịch vụ NH điện tử: Citi
Service vào thực hiện ở tất cả 61 tỉnh thành của Việt Nam. Dịch vụ tiền tệ
mới này của Citi Bank gồm chi trả và thu nhận nội địa Paylink, Expreepay
và Speed collect, giúp khách hàng nhận và chuyển tiền trong ngày ở 61 tỉnh
thành trong cả nước. Citi Bank cũng cung cấp dịch vụ NH qua điện thoại
miễn phí cho khách hàng.
ANZ Bank cũng có chi nhánh tại HN và chi nhánh phụ tại Thành phố
HCM đã mở dịch vụ Internet Bank. Dịch vụ này cung cấp cho khách hàng
một loạt tiện ích trong giao dịch cũng như nhu cầu của khách hàng về số dư
tiền gửi, tỷ giá, lãi suất và thanh toán chuyển khoản.
Tháng 11/1999, HongKong and Shanghai Bank – chi nhánh Thành phố
HCM đã đưa ra dịch vụ mới cho khách hàng cá nhân tại Việt Nam, đó là
dịch vụ NH qua điện thoại. Dịch vụ này cho phép khách hàng truy cập bất
kỳ lúc nào vào tải khoản (24/24 giờ) qua điện thoại.
Tháng 6/1995, hệ thống NH Công thương Việt Nam đã triển khai thí điểm
dự án thanh toán điện tử, đến nay thành công và đạt kết quả tốt.
Sau 3 năm chuẩn bị, ngày 2/8/1999, Vietcombank đã đưa hệ thống NH bán
lẻ VCB-Silverlake-2010 vào hoạt động tại hội sử Trung ương. Hệ thống NH

HongKong, Paris và Newyork; NH Công thương Việt Nam mở thêm chi
nhánh ở Lạng Sơn, Bình Dương, Buôn Mê Thuột, nhiều phòng giao dịch
mới của hai NH này cũng đã được thiết lập.
Một số NHTM cổ phần có thê mạnh như: Hàng Hải, Quân đội, Á Châu, Sài
Gòn Công thương, … cũng thiết lập thêm chi nhánh ở các khu vực kinh tế
trọng điểm.
c, Hoạt động NH đa năng.
Vươn lên trong cạnh tranh phù hợp với thông lệ quốc tế, các NH ở Việt
Nam gồm các NHTM trong nước, chi nhánh NH nước ngoài và NH liên
doanh đã bắt đầu chuyển sang hoạt động đa năng theo hình thức thành lập
các công ty con hoặc liên doanh thành lập các công ty, cụ thể:
- Thành lập công ty cho thuê tài chính 100% vốn của NHTM quốc doanh,
liên doanh giữa NHTM trong nước với đối tác nước ngoài. Tổng số đã có 9
công ty loại này.
- Thành lập công ty liên doanh bảo hiểm, giữa NHTM quốc doanh với đối
tác nước ngoài, giữa NHTM quốc doanh với các đối tác trong nước. Đã có
hai công ty loại này đang hoạt động là BIDV-QBI, PJICO.
-18-
- Thành lập công ty chứng khoán hay làm nghiệp vụ lưu ký chứng khoán:
đến hết tháng 8/2000 đã có ba công ty chứng khoán của các NHTM đang
hoạt động đó là của NHĐT & PT Việt Nam, NHTM cổ phần Quân đội,
NHTM cổ phần Á Châu. Hai NH đã được cấp giấy phép làm nhiệm vụ lưu
ký chứng khoán đó là NHĐT & PT Việt Nam và chi nhánh NH nước ngoài:
Standard chertered Bank.
- Thành lập trung tâm giao dịch mua, bán nhà: đã có hai trung tâm hoạt
động của NH Á Châu và NHTM cổ phần phát triển Thành phố HCM.
d, Đào tạo và nâng cao trình độ cán bộ.
Yếu tố con người được tất cả các khối NH cà tất cả các TCTD đều trú
trọng, coi đây là sự quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Khối NH nước ngoài và NH liên doanh với các chức danh quản lý, điều

Khối NHTM quốc doanh, bộ máy quản trị, điều hành được đề bạt, bổ
nhiệm theo quy trình đã được quy định, đó là những người có trình độ, năng
lực, phẩm chất, trưởng thành trong thực tiễn và có trình độ đào tạo, … Tuy
nhiên không phải là tuyệt đối
Đội ngũ cán bộ tác nghiệp, nghiệp vụ trong những năm gần đây cũng được
tuyển chọn theo hình thức sát hạch, thi tuyển, được đào tạo chính quy, …
nhiều người giữ chức danh nhất định, có từ 2-3 bằng cấp. một số người được
gửi đi và cử đi đào tạo các khoá ngắn ngày, hội thảo, thậm chí là dài ngày ở
nước ngoài. Tuy nhiên một tỷ lệ cán bộ nhất định, cán bộ được nhận vào làm
việc hay bổ nhiệm chức theo quy trình chặt chẽ.
e, Đối với công tác quản trị điều hành.
Với khối NH nước ngoài vag NH liên doanh, bộ máy của họ gọn nhẹ và
hiệu quả, được tổ chức vận hành theo NH mẹ và hệ thống quốc tế.
Khối NHTM quốc doanh: đã tiến hành sửa đổi và bổ sung Điều lệ hoạt
động, được Thống đốc NHNN chấp thuận phê duyệt, trong đó đã tách chức
năng quản trị ra khỏi chức năng điều hành và nghiệp vụ. Hội đồng quản trị
có bộ phận thường trực, giúp việc và chức năng riêng, Tổng giám đốc cũng
có bộ máy, chức năng và quy trình làm việc cụ thể. Dưới đó là bộ phận
nghiệp vụ, đó là hội sở hay sở giao dịch tại các khu vực và chi nhánh, đơn vị
trực thuộc. Hầu hết các NHTM quốc doanh thành lập thêm sở giao dịch,
chuyển một số chi nhánh thành đơn vị trực thuộc trực tiếp, hình thành một
số công ty con. Các văn bản hướng dẫn chế độ, nghiệp vụ, thể lệ, cơ chế uỷ
nhiệm, uỷ quyền, phân cấp, … được ban hành chỉnh sửa, đảm bảo chặt chẽ
và rõ ràng hơn.
Khối tổ chức tín dụng cổ phần: Thống đốc NHNN Việt Nam đã ban hành
quy chế cổ đông, cổ phần, Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc điều hành
và kiểm soát của các TCTD cor phần. Hoạt động thanh tra, giám sát của
NHNN đã khá sát sao vấn đề này. Trong quá trình củng cố, sắp xếp, chấn
chỉnh lại các TCTD cổ phần, công tác này lại càng được quan tâm. Cũng
chính do lợi ích thiết thực, do bài học được rút ra nên bản thân các TCTD cổ

cáo do chi nhánh thực hiện và phạm vi do hệ thống làm (Hội sở chính).
g, Một số biện pháp khác.
Một số NHTM đã tranh thủ sự hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của
các NH nước ngoài trong quan hẹ NH đại lý về chuyển giao công nghệ, đào
tạo cán bộ, đa dạng hoá dịch vụ NH, mở rộng quan hệ NH đại lý.
Thiết lập các quan hệ NH bán buôn và bán lẻ. Trong đó, một số chi nhánh
NH nước ngoài bán buôn vốn cho NHTM trong nước, một số NHTM quốc
doanh và NHTM cổ phần đô thị bán buôn vốn cho một số NHTM cổ phần
nông thôn.
Ở một số tỉnh, với vai trò NHNN trên địa bàn đã đứng ra làm đầu mối tập
hợp các chi nhánh NHTM hay TCTD trên địa bàn, thống nhất một số hoạt
-21-
động nhất định, như giới hạn thấp nhất về lãi suất cho vay, thoả thuận hạn
mức cho vay một số lĩnh vực quan trọng. Ở tỉnh Daklak, chi nhánh NHNN
đứng ra thành lập Câu lạc bộ NH, trong đó các chi nhánh NHTM trên địa
bàn thoả thuận thống nhất hạn mức tín dụng đối với một số doanh nghiệp
kinh doanh cà phê trên địa bàn.
-22-
PHẦN II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHĐT&PTTL
I. Tình hình hoạt động chung của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển (BIDV) trong 6 tháng đầu năm 2003.
1. Mục tiêu, vị trí, vai trò của hai vùng kinh tế trọng điểm và của BIVD
Với vị trí, tiềm năng tiềm lực đang phát triển về kinh tế xã hội của hai
vùng, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 747/TTg ngày 11/9/1997 và
số 44/1998.QĐ-TTg ngày 23/2/1998, phê duyệt quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế xã hội.
+ Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên.
+ Vùng kinh tế trọng điểm phia Nam gồm các tỉnh, thành phố: Hồ Chí

+ Các chi nhánh trên 2 địa bàn đạt mức tăng trưởng cao, bình quân trên
26%/năm. Trong đó riêng năm 2002, hoạt động tín dụng tăng 28% (tốc độ
tăng toàn ngành là 25%), huy động vốn tăng 35% (toàn ngành là 24%). Giữ
vững tốc độ tăng trưởng, 6 tháng đầu năm 2003, các Chi nhánh tăng huy
động vốn 12%, tín dụng 9%.
+ Đồng thời hoạt động BIDV trên 2 địa bàn vùng kinh tế trọng điểm cũng
thể hiện là một trong các Ngân hàng chủ lực trên địa bàn. Trong hoạt động
dịch vụ Ngân hàng, đặc biệt hoạt động đầu tư tín dụng, BIDV luôn được sự
tin tưởng và tín nhiệm của lãnh đạo các tỉnh, bạn hàng, là đầu mối chính
trong thẩm định, đầu tư dự án. Với uy tín, mạng lưới hoạt động ngày càng
được mở rộng thị phần hoạt động của BIDV trên hai địa bàn trọng điểm
được giữ vững trong môi trường gay gắt.
+ Tiếp tục triển khai có hiệu quả đề án tái cơ cấu, thực hiện chuyển dịch cơ
cấu hoạt động theo hướng đa dạng hoá hoạt động, nâng cao hiệu quả, đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động. Đặc biệt thời gian qua
mạng lưới hoạt động của BIDV nói chung và từng Chi nhánh trên địa bàn 2
vùng kinh tế trọng điểm đang được phát triển nhanh, góp phần đắc lực cùng
toàn hệ thống giữ vũng và mở rộng thị phần, thị trường nguồn vốn, tín dụng,
dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu khách hàng theo hướng tăng đối tượng phục vụ
là các khách hàng ngoài quốc doanh và dân cư.
b, Kết quả cụ thể trên từng mặt nghiệp vụ.
* Công tác huy động vốn và sử dụng vốn.
Hai vùng kinh tế trọng điểm là khu vực cung ứng vốn chủ yếu của toàn hệ
thống BIDV với tỷ trọng hơn 60% nguồn vốn toàn ngành. Tuy nhiên đây
cũng là địa bàn có cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng. Nhận thức rõ tầm
quan trọng công tác nguồn vốn trong hoạt động Ngân hàng, đặc biệt có thể
hỗ trợ rất nỗ lực phấn đấu đưa ra nhiều giải pháp đẩy mạnh huy động vốn:
tiết kiệm có thưởng, tiết kiệm tĩch luỹ, phát hành giấy tờ có giá, chứng chỉ
tiền gửi, … Đến 30/6/2003, tổng huy động vốn trên hai vùng đã đạt31.440 tỷ
tăng 12% (hơn 3.400 tỷ) so với đầu năm, cao hơn mức toàn ngành, chiếm

yêu cầu, chưa khai thác được tiềm năng về huy động vốn trên địa bàn, nhất
là khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
Việc tuân thủ kỷ cương điều hành trong huy động vốn và sử dụng vốn đã
có nhiều tiến bộ nhưng tại một số chi nhánh đôi lúc còn chưa chấp hành
nghiêm, vẫn còn hiện tượng vay gửi trong cùng hệ thống, vay ngắn hạn (1-2
tháng) bên ngoài để cân đối cho nhu cầu tín dụng, còn tư tưởng cục bộ trong
kinh doanh.
* Công tác tín dụng.
-25-

Trích đoạn Những khó khăn và những mặt chưa được. Khái quát về NHĐT & PTTL. Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh trong vài năm gần đây. Những biện pháp mà chi nhánh đã sử dụng nhằm nâng cao khả năng khả năng cạnh tranh. Mục tiêu chỉ tiêu và nhiệm vụ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status