LUẬN VĂN: Thực trạng và giải pháp về cân bằng sinh thái với tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Thực trạng và giải pháp về cân bằng
sinh thái với tăng trưởng và phát triển
kinh tế bền vững
Lời mở đầu

Phát triển là quy luật của cuộc sống, là quy luật tất yếu của tiến hoá đã và đang diễn
ra trên hành tinh của chúng ta từ khi nó được hình thành . Vấn đề đang được quan tâm
nghiên cứu là phải phát triển như thế nào để con người của thế hệ hiện nay cũng như
trong tương lai có được cuộc sống hạnh phúc về vật chất cũng như về tinh thần đó là
vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Mối quan hệ giữa cân bằng sinh thái
và tăng trưởng phát triển kinh tế bền vững là một vấn đề có tính cấp thiết liên quan đến
nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và xuyên suốt nhiều thời đại. Quản lý môi tr−ờng, bảo vệ,
c

Với ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, tôi quyết định chọn đề tài này để nghiên
cứu, tìm hiểu và góp phần nói lên thực trạng của vấn đề, đồng thời đề xuất một số giải
pháp cho vấn đề này.
Với khả năng và trình độ hiện tại, và đặc biệt là những lý luận tích luỹ được từ môn
kinh tế chính trị học của tôi, bản đề án này được tôi nghiên cứu dưới góc độ và quan
điểm của môn kinh tế chính trị học.
Do đề án này được nghiên th cứu dưới góc độ và quan điểm của môn kinh tế chính
trị học nên phương pháp được sử dụng để nghiên cứu,cũng giống như các lĩnh vực khác
của môn kinh tế chính trị, đều là phương pháp sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá, phương pháp logic kết hợp với
lịch sử…
Đề tài: “Thực trạng và giải pháp về cân bằng sinh thái với tăng trưởng và phát triển
kinh tế bền vững”

Phần I

Quan hệ giữa cân bằng sinh thái với tăng trưởng và phát triển kinh tế kinh tế bền
vững

1 – Thực trạng và giải pháp về cân bằng sinh thái :
1.1- Khái niệm về cân bằng sinh thái :

Cân bằng sinh thái hay còn gọi là cân bằng thiên nhiên tức là trạng thái các quần
xã sinh vật , các hệ sinh thái ở tình trạng cân bằng khi số lượng tương đối của các cá thể
, của các quần thể sinh vật vẫn giữ được ở thế ổn định tương đối. Điều đó đã làm cho
tổng lượng toàn hệ có mối liên hệ ổn định. Nói ổn “ định tương đối “ là vì trong thực tế
tự nhiên của toàn hệ không có sự ổn định tuyệt đối mà luôn có sự thay đổi , phát triển
hoặc chết .Các cá thể sinh vật luôn luôn đáp ứng với sự tác động của các điều kiện môi
nhiên - xã hội . Môi trường sinh thái là môi trường có liên quan trực tiếp đến sự sống
của con người và xã hội do vậy, vấn đề cân bằng sinh thái mà ngày nay con người đang
tập trung nghiên cứu để tìm ra phương án tối ưu giải quyết thực chất là vấn đề mối quan
hệ giữa con người , xã hội và tự nhiên .
Mối quan hệ giữa con người , xã hội và tự nhiên là đối tượng nghiên cứu của
một môn khoa học mới sinh thái học-xã hội . Vấn đề môi trường sinh thái mang tính
toàn cầu và thời đại, trước hết là nhu cầu khách quan và tất yếu của việc nghiên cứu và
giải quyết các vấn đề bảo vệ môi trường sống trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa
học-kỹ thuật trước đây và hiện nay là trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ để
đảm bảo sự tiếp tục phát triển và lâu dài của xã hội nhu cầu xem xét và định đoạt số
phận của con người và xã hội trong những điều kiện phát triển mới ; nhu vầu nắm bắt
và vận dụng một cách hợp lý các quy luật tự nhiên vào hoạt động thực tiễn nhằm mang
lại hiệu qủa sinh thái cao.
Cần phân tích về mặt triết học các vấn đề sinh thái học hiện đại, xem xét tính tất
yếu và những tiền đề cần mở rộng đối tượng nghiên cứu của sinh thái học và những
phương hướng tiếp tục phát triển của nó , đặc biệt là việc nghiên cứu để nắm bắt những
quy luật sinh thái học và tận dụng chúng vào hoạt động thực tiễn của con người nhằm
đảm bảo những điều kiện tự nhiên cho sự tồn tại và phát triển của xã hội , ngày nay
đang trở thành một vấn đề cấp thiết nhất . Trong lịch sử khoa học mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên về mặt truyền thống được quy về hoặc chỉ là sự tác động của con
người lên tự nhiên hoặc là tác động của các nguồn tài nguyên thiên nhiên lên con người
.
Nhiệm vụ của sinh thái học hiện đại là tổng hợp các khuynh hướng cơ bản đó và
làm rõ mối quan hệ ngược giữa tài nguyên và con người sự biến đổi của tự nhiên bởi
tác động của con người ảnh hưởng của môi trường tự nhiên lên con người và khả năng
thích nghi của con người khi môi trường biến đổi. Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường
sống với tư cách môi trường dinh dưỡng của con người và sử dụng hợp lý môi trường

gia của WB cho rằng: Tăng trưởng chưa phải là phát triển, song tăng trưởng lại là một
cách để có phát triển và không thể nói phát triển kinh tế mà trong đó lại không có tăng
trưởng kinh tế .
2.2- Những yếu tố biện pháp để tăng trưởng kinh tế bền vững :
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sư tăng trưởng kinh tế , song tăng trưởng kinh tế
phụ thuộcc vào những yếu tố cơ bản như sau :
Một là vốn : Đây là yếu tố rất quan trọng trọng tăng trưởng kinh tế. Nói đến yếu
tố vốn ở đây bao gồm cả tăng lượng vốn và đặc biệt là tăng hiệu quả sử dụng vốn.
Hai là con người : yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững .Đó phải là
con người có sức khoẻ , có trí tuệ , có tay nghề cao , có động lực và nhiệt tình lao động
được tổ chức chặt chẽ.
Ba là kĩ thuật và công nghệ : kỹ thuật tiên tiến , công nghệ hiện đại là nhân tố
quyết định chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế ,vì nó tạo ra năng suất lao động cao,
do đó tích luỹ đầu tư lớn .
Bốn là cơ cấu kinh tế : Xây dựng được cơ cấu kinh tế càng hiện đại thì tăng
trưởng kinh tế càng nhanh và bền vững .
Năm là thể chế chính trị và quản lý nhà nước : Thể chế chính trị càng ổn định,
tiến bộ thì tăng trưởng kinh tế càng nhanh . Nhà nước càng đề ra được đường lối , chính
sách phát triển kinh tế đúng đắn thì tăng trưởng kinh tế càng nhanh .
Phát triển kinh tế phụ thuộc vào các yêu tố cơ bản sau:
Một là lực lượng sản xuất : Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất càng cao
tức công nghệ càng hiện đại và trình độ con người càng cao thì thúc đẩy kinh tế càng
nhanh .
Hai là quan hệ sản xuất : Quan hệ sản xuất mà phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất thì thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững và
ngược lại kìm hãm sự phát tiển kinh tế .
Ba là kiến trúc thượng tầng: Tuy là quan hệ phát sinh , nhưng kiến trúc có tác

người , tàn phá huỷ diệt hàng nghìn đô thị , làng mạc và những tài nguyên thiên nhiên ,
tài sản vô giá của nhân loại .
Phát triển được xem như là phương thuốc để phòng chống các nguy cơ nói trên .
Có thể nói rằng phát triển bền vững là niềm hy vọng của nhân loại đang bước vào thế
kỷ 21 , ở từng quốc gia ,với những mức độ khác nhau đã có các chương trình, kế hoạch
hành động nhằm bảo vệ môi trường , xúc tiến phát triển bền vững. Trên quy mô toàn
thế giới các tổ chức của liên hợp quốc đã xây dựng “ Chương trình nghị sự 21 của quốc
gia “. Nhiều công ước , thoả ước quốc tế nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên , bảo vệ
các giá trị môi trường chung của thế giới , nhằm giải quyết một cách có hiệu quả các
vấn đề nêu trên đã được cộng đồng quốc tế ký kết và thực hiện.
Sự bền vững của phát triển kinh tế xã hội có thể đánh giá được bằng các chỉ tiêu
nhất định về kinh tế tài nguyên thiên nhiên , chất lượng môi trường và tình trạng xã hội
là về kinh tế trong xã hội bền vững việc đầu tư và phát triển nói chung phải mang lại lợi
nhuận nâng tổng sản phẩm trong nước.
Về tài nguyên thiên : trong xã hội bền vững các tài nguyên tái tạo được phải
được sử dụng trong phạm vi khôi phục được về số lượng và chất lượng , bằng các con
đường tự nhiên hoặc nhân tạo . Trong xã hội bền vững tài nguyên tái tạo được phải
được sử dụng một cách tiết kiệm hạn chế và được bổ xung thường xuyên bằng các tài
nguyên thay thế thiên hoặc nhân tạo.
Về chất lượng môi trường trong xã hội bền vững môi trường không khí nước,
đất, cảnh quan liên quan đến súc khỏe của con người .
Những chỉ tiêu trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự bền vững trong
phát triển kinh tế. Nếu thiếu một trong các điều kiện trên thì sự phát triển sẽ dừng trước
nguy cơ mất bền vững.
3-Mối quan hệ giữa cân bằng sinh thái với tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững:
Tài nguyên và môi trường có vị trí đặc biệt quan trọng đối với con người và phát
triển. Tạo hoá đó sinh ra chỳng ta và hành tinh bộ nhỏ để nuôi dưỡng chúng ta từ bao

thành sa mạc. Diện tích đất canh tác trên đầu người giảm từ 0,5 ha/ người xuống còn
0,2 ha/ người và dự báo trong vòng 50 năm tới chỉ còn 0,14 ha/ người.
Nước là nguồn tài nguyên không thể thay thế cũng đang đứng trước nguy cơ suy
thoái mạnh trên phạm vi toàn cầu , trong đó nước thải là nguyên nhân chính .Theo số
liệu thống kê hàng năm có khoảng 500 tỷ m3 nước thải trong đó phần lớn là nước thải
công nghiệp ) thải vào các nguồn nước tự nhiên và cứ sau 10 năm thì chỉ số này tăng
gấp đôi. Khối lượng nước thải đã làm ô nhiễm hơn 40% lưu lượng nước ổn định của
các dòng sông trên trái đất, ở nước ta hàng năm có hơn một tỷ m3 khối nước thải hầu
hết chưa được sử lý thải ra môi trường.
Rừng là chiếc nôi sinh ra loài người và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với
con người cũng đang phải đối mặt với sự suy giảm nhanh về số lượng và chất lượng
cùng với rừng đa dạng sinh học cũng đóng vai trò hết sức quan trọngđối với con người
và thiên nhiên . Từ nhiều thập kỷ nay hoạt động của con người đã tác động mạnh tới thế
giới sinh vật , được xem là tương đương thậm chí là lớn hơn nhiều so với các đợt tiệt
chủng lớn nhất trong thời tiền sử. Việt nam là nước có độ đa dạng sinh học đứng thứ 10
thế giới nhưng tốc độ suy giảm thì vào loại nhanh nhất. Nhiều hệ sinh thái tự nhiên bị
xâm phạm, suy giảm diện tích.
Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững :
Học thuyết Mác đã có quan điểm rất biện chứng về mối quan hệ giữa con người
và giới tự nhiên ,con người là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên. Chính
Ănghen đã cảnh báo về “ sự trả thù của giới tự nhiên ” khi bị tổn thương.
Từ khái niệm phát triển bền vững , thực chất là một sự phát triển có tính tổng
hợp cho phép hai nhà môi trường học Canada là Jacobs và Sadler trình bày mối quan hệ
biện chứng giữa phát triển và môi trường .
+ Cực môi trường : Cũng giống như sự phát triển của sinh vật , sự phát triển xã
hội phải giải đáp được bài toán do môi trường đặt ra .Trong bất kỳ phương án quy
hoạch phát triển nào theo hướng bền vững cũng đều phải tính toán kỹ mối tác động qua

loại bị ô nhiễm nhất thế giới . Sự tập trung bao trùm khắp nơi của hầu hết các chất gây
ô nhiễm vượt quá nhiều lần tiêu chuẩn quốc tế đã nhiều lần khiến Trung Quốc phải trá
giá cao cả về nhân lực lẫn kinh tế. Có thể có tới 298.000 người được cứu sống một năm
nếu như chỉ cần giảm mức ô nhiễm không khí xuống bằng mức tiêu chuẩn mà Trung
Quốc đã đề ra xét về tổng thể chi phí về ô nhiễm không khí và nước ở Trung Quốc ước
tính chiếm 3% GDP/năm.
Có hai nhân tố chính gây ra tình trạng xuống cấp môi trường ở Trung Quốc và
vẫn sẽ tồn tại trong thế kỷ mới .Thứ nhất là sự phụ thuộc quá mức của Trung Quốc vào
than. Hiện nay than đáp ứng 80% nhu cầu năng lượng của Trung Quốc ,biến Trung
Quốc trở thành nước tiêu thụ than lớn nhất thế giới .
Trữ lượng than khổng lồ cộng với sự do dự dễ hiểu của Trung Quốc trong việc
dựa vào nhập dầu và khí tự nhiên sạch hơn cho thấy rằng than chắc chắn vẫn là nguồn
nguồn nguyên liệu chính trong những năm tới, nhân tố thứ hai là sự bùng nổ của các đô
thị ở Trung Quốc. Từ năm 1978 đến năm 1995, dân số thành thị đã tăng thêm 180 triệu
người không kể 50 triệu người di dân tự do từ vùng nông thôn . Quá trình đô thị hoá
nhanh chóng không chỉ đi kèm với lượng ô tô sử dụng , tăng lượng chất thải đô thị chưa
được sử lý mà còn làm tăng cả tỷ lệ dân số phải chịu tình trạng ô nhiễm trầm trọng hơn
ở các đô thị .
Nhà nước đã nhận thức được những thách về môi trường đặt ra cho Trung Quốc
trong thập kỷ trước và đã đưa khuôn khổ pháp luật toàn diện về bảo vệ môi trường .
Những nỗ lực này đã đưa đến một số thành công: ví dụ nồng độ ô nhiễm lượng chất
thải trên một đơn vị sản phẩm đã giảm trong vài năm gần đây. Tuy nhiên vẫn còn nhiều
việc phải làm theo lời của Thủ tướng Lý Bằng: ”Chúng ta hiểu thực trạng môi trường ở
nước ta rất nghiêm trọng . Nạn ô nhiễm môi trường ở các thành phố đang trở nên
nghiêm trọng và lan dần sang các vùng nông thôn , quy mô của nạn huỷ hoại môi sinh
đang ngày cằng tăng “ .
Việc phá huỷ các điều kiện môi trường:

độ lái xe trung bình rất thấp và do các tiêu chuẩn về khí thải rất thấp . Do vậy mặc dù số
lượnhg xe hơi ở Bắc Kinh chỉ bằng 1/10 số lượng xe hơi ở Los Angeles , song lượng
khí thải từ hai thành phố này gần như bằng nhau.
Ô nhiễm không khí rất có hại cho sức khỏe .Tỷ lệ tử vong do bệnh phổi mãn tính
, căn bệnh nguy hiểm gây tử vong nhiều nhất ở Trung Quốc cao hơn và điều kiện y tế
kém hơn . Những nghiên cứu dịch tễ cho thấy sự chênh lệch trong hàm lượng khí thải
ở Bắc Kinh và New York liên quan đến tỷ lệ tử vong ở Trung Quốc cao hơn ở New
york . Nếu ô nhiễm ngoài trời được giảm xuống mức chỉ tiêu mà chính phủ Trung Quốc
đặt ra thì trung bình mỗi năm có tới 178.000 ngươi được cứu sống. Nhưng chi phí do ô
nhiễm không khí còn lớn hơn nhiều so với con số tổn hại về người . Ước tính có
khoảng 560.000 ca nằm viện và gần 11 triệu ca cấp cứu trực tiếp do ô nhiễm không khí
gánh nặng bổ xung này đè nặng lên hệ thống y tế của Trung Quốc đã làm tổn thất lượng
giờ làm việc tương đương với 7,4 triệu lao động một năm . Rất nhiều nghiên cứu ở
Trung Quốc và rất nhiều nơi khác cho thấy trẻ em có hàm lượng chì trong máu có nguy
bị suy dinh dưỡng rối loạn chức năng và giảm chỉ số thông minh .
Mưa axit là một số sản phẩm phụ nguy hại nữa của ô nhiễm không khí ở Trung
Quốc . Khí sunfua đi ôxit nitơrat thải ra sẽ tạo phản ứng với nước vào trong không khí
thành axit sunfuric và axit nitơric có thể rơi xuống những vùng lân cận hoặc những
vùng cách xa nơi gây ô nhiễm hàng ngàn dặm . Mưa axit phá huỷ mùa màng , tàn phá
những cánh rừng , phá hoại cấu trúc các toà nhà và gây thiệt hại cho sức khoẻ con
người . Những hậu quả này đặc biệt mghiêm trọng ở miền nam Trung Quốc, nơi hàng
ngày có khối lượng lớn than và hàm lượnh sunfat cao . Một nghiên cứu của cơ quan
bảo vệ môi trường Trùng Khánh cho thấy trong năm 1993 có gần 1/4 vụ thu hoạch rau
ở đây bị mưa axit tàn phá.
Ô nhiễm nước :
Chất thải công nghiệp , chất thải đô thị , nước thải ra từ các cánh đồng bón phân
hoá học phân hữu cơ là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm nước ở Trung Quốc . Theo

động mạnh tới môi trường Trung Quốc trong 25 năm tới.
Trước tình hình này có thể xem xét hai phương án thay thế sau:
Giải pháp thứ nhất không tính tới sự thay đổi lớn trong chính sách môi trường hiện
hành và việc thi hành chúng. Đây không phải là phương án hợp lý nhất . Những bước
tiến của Trung Quốc trước đây trong việc vạch ra và tiến hành các cuộc cải cách chính
sách môi trường đã hình thành nên một phương án mà trong đó không có bất kì một sự
cải tiến nào là chắc chắn cả . Nhưng nó cũng nhấn mạnh đến chi phí rất lớn có thể phát
sinh ra nếu động lực của các cuộc cải cách môi trường chững lại, theo giải pháp này cả
hàm lượng năng lượng lẫn hàm lượng khí thải tính theo GDP đều sẽ giảm .Và cho dù
không có những khuyến khích mới , thì tăng trưởng nhanh cũng đảm bảo rằng các công
nghệ lạc hậu và gây ô nhiễm sẽ nhanh chóng được thay thế . Đến năm 2020 chưa đầy
10% máy công cụ hiện nay của Trung Quốc sẽ còn tiếp tục hoạt động . Tuy nhiên mặc
dù hàm lượng khí thải có giảm song tổng ô nhiễm lại tăng mạnh. Do vậy lượng khí thải
vào không khí sẽ tăng 30% gây ra những hậu quả nghiêm trọng làm giảm chất lượng
không khí và gây ra mưa axit. Số người chết do ô nhiễm không khí ngoài trời sẽ tăng
mạnh . Tuy nhiên những cải thiện chất lượng tư liệu sản xuất sẽ giúp làm giảm lượng
chất thải gây ô nhiễm nguồn nước theo nghĩa tuyệt đối .
Phương án thứ hai đề xuất việc cải cách mạnh công cuộc cải cách dần dần ,
nhiều chính sách có thể giúp nâng cao hiệu xuất sử dụng năng lượng và giảm lượng
chất thải xuống bằng mức của Mỹ hay Châu âu vào những năm 80 . Trung Quốc có thể
tăng trưởng đồng thời trở nên sạch đẹp hơn .Theo phương án” đẩy mạnh cải cách ” này
lượng khí thải sẽ giảm một nửa, làm giảm tỷ lệ tử vong do ô nhiễm .
Hoạch định các chính sách về một ngày mai tươi đẹp hơn :
Ta đã thấy rõ những thách thức môi trường to lớn ở Trung Quốc . Hơn nữa chi
phí cho chính sách môi trường rất lớn . Nhưng Trung Quốc đang là nước phát triển
nghèo với vô vàn yêu cầu cấp bách đối với nguồn lực công cộng và tư nhân . Điều hoà
những yêu cầu này và dành ưu tiên cho các chính sách môi trường cần phân tích cẩn

làm sạch than bởi vì chúng chỉ kinh tế khi áp dụng mức giá cao hơn .
Mặc dù khuyếnkhích dựa trên giá cả có thể rất hiệu quả song chúng lại không mang
tính lựa chọn: chúng không thấy rằng chi phí cho việc bảo tồn và giảm ô nhiễm giữa
các công ty là khác nhau . Chi phí cận biên cho việc giảm bớt khí thải ở các công ty nhỏ
lớn gấp 20 lần so với ở các công ty lớn .
Những mâu thuẫn này các nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của các biện pháp có chủ
đích như đánh thuế đối với chất thải. Bên cạnh việc đưa ra các khuyến khích có sức
thuyết phục , thuế được ấn định sao cho có thể phản ánh được sự khác biệt giữa các
ngành , các công ty , các vùng và điều quan trọng là tốc độ giảm ô nhiễm .
Giữ vững nguyên tắc” người gây ô nhiễm phải trả giá “ có thể đưa ra những lợi
ích rất lớn .
Hậu quả tiềm tàng của các khuyên khích đựa trên giá cả phụ thuộc vào thành
công của nhà nước trong việc đẩy mạnh công cuộc cải cách thị trường . Tự do hoá
thương mại và cải cách doanh nghiệp nhà nước đặc biệt thích hợp. Xoá bỏ các trở ngại
đối với thương mại trong nước và quốc tế sẽ thúc đẩy việc chuyên môn hoá , cho phép
đạt tới tính kinh tế nhờ quy mô trong sản xuất lẫn trong ô nhiễm môi trường . Tự do hoá
thương mại quốc tế còn mở của cho việc nhập khẩu tư liệu sản xuất loại tốt có hiệu suất
sử dụng năng lượng và tiêu chuẩn đối với việc gây ô nhiễm cao hơn so với loại sản
phẩm sản xuất trong nội địa . Cuối cùng , thúc đẩy cải cách làm cho các khuyên khích
dựa trên thị trường trở nên có hiệu lực hơn . Nếu không hạn chế ngân sách thì các
doanh nghiệp này sẽ ít để đến các khuyên khích có lợi cho môi trường mà để ý đến các
dấu hiệu giá cả khác.
Đầu tư vào những giả pháp thay thế :
Đầu tư vào những nguồn năng lượng thay thế cũng là một yếu tố bổ xung quan
trọng cho hệ thống ấn định giá cả trong việc phản ánh chi phi xã hội do ô nhiễm . Thiếu
sự đầu tư như vậy , người tiêu dùng sẽ bị kẹt giữa điều tồi tệ nhất của cả hai mặt giá cao
và ô nhiễm nặng nề . Đương nhiên tự các chính sách dựa trên giá cả sẽ tạo ra những

có xu hướng đầu tư vào các nhà máy năng lượng nhỏ kém hiệu quả . Khoảng 805 nhà
máy năng lượng ở Trung Quốc có công suất dưới 100MW mà hiệu suất sử dụng nhiên
liệu của các nhà máy nhỏ luôn thấp hơn còm chi phí giảm ô nhiễm lại cao hơn so với ở
các nhà máy lớn.
Sự tham gia của cộng đồng cũng giúp cải thiện quá trình điều tiết và giảm bớt ô
nhiễm . Kinh nghiệm quốc tế cho thấy áp dụng cộng đồng có thể có tác động mạnh tới
vấn đề giảm ô nhiễm , kể cả khi thiếu sự điều tiết môi trường chính thức . Tuy nhiên ,
sự tham gia của cộng đồng cũng có hai điểm yếu . Sức ép của cộng đồng có xu hướng
tăng theo chiều tăng của thu nhập , điều này có thể thúc đẩy các ngành gây ô nhiễm
chuyển dịch đến các vùng nghèo và có ít sự phản đối . Sức ép của cộng đồng có xu
hướng tập trung vào các trường hợp gây ô nhiễm tõ nét ,dễ thấy và có thể bỏ qua các
trường hợp gây ô nhiễm ít thấy hơn nhưng có tác hại không kém.
Tóm lại , một tương lai sạch đẹp hơn nằm trong tầm với của Trung Quốc .Các
chíng sách được hoạch định tốt nhằm thúc đẩy các lực lượng thị trường , khuyến khích
đầu tư vào các giải pháp thay thế và tận dụng năng lực hành chính , điều tiết mạnh của
Trung Quốc sẽ mang lại một tương lai sạch đẹp hơn cho các thế hệ sau. Cũng như tất cả
các cuộc cải cách trước mắt , những lỗ lực này sẽ kéo theo chi phí điều chỉnh của cả
nhà nước lẫn tư nhân . Song những chi phí này thật mờ nhạt so với cả chi phí phải bỏ ra
do thờ ơ lẫn so với những cải thiện trong chất lượng cuộc sống nhờ một môi trường
sạch hơn.


Đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển bị suy giảm:
Địa bàn cư trú của các loài động thực vật hoang dã bị thu hẹp và chia cắt . Nhiều
loại động vật quý hiếm bị săn bắt .Nhiều loài đã có nguy cơ bị tiệt chủng . Nguồn gien
quý hiếm bị suy giảm.
Suy giảm chất lượng nguồn nước:
Nước thải sinh hoạt thành phố , đô thị các khu công nghiệp xả trực tiếp vào
kênh, mương, sông, hồ dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước ở
một số nơi như Hà Nội thành phố Hồ Chi Minh ,HảI Phòng Việt Trì ,Biên Hòa. Chất
lượng nước một số khu vực các sông SàI Gòn Cửu Long ,ĐồngLai, Cầu đã bị suy
giảm. Nguy cơ thiếu nước vào những thập kỷ tới có khả năng xảy ra.
Nước biển ven bờ đã bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm . Hàm lượng các chất hữu cơ ,
chất dinh dưỡng kim loại nặng , vi sinh hoá chất bảo vệ thực vật ở một số nơi vượt tiêu
chuẩn cho phép 2-5 lần . Hàm lượng dầu ở một số vùng biển vượt quá tiêu chuẩn và
đang có xu hướng tăng dần.
Nước ngầm đang bị cạn kiệt về lượng , bị ô nhiễm và suy giảm về chất. Những
năm gần đây đã xảy ra trường hợp suy giảm mức nước ngầm về mùa hè ở Tây Nguyên
và các tỉnh miền núi phía Bắc.
Ô nhiễm môi trường đô thị và khu công nghiệp:
Môi trường ở nhiều đô thị nước ta bị ô nhiễm do chất thải rắn và chất thải lỏng
chưa được thu gom và xử lý theo đúng quy định . Trong đó khí thải tiếng ồn bụi …của
nguồn giao thông nội thị và mạng lưới sản xuất quy mô vừa và nhỏ cùng với cơ sở hạ
tầng yếu kém càng làm cho điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều đô thị đang thực sự
lâm vào tình trạng báo động . Đặc biệt hệ thống cấp thoát nước lạc hậu , xuống cấp
không đáp ứng được yêu cầu . Mức ô nhiễm không khí về bụi và cáckhí thải độc hại
nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phếp nhiều lần , đặc biệt tại một số thành phố lớn như Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh vượt tiêu chuẩn cho phép 2-5 lần.
Môi trường các khu công nghiệp , đặc biệt các khu công nghiệp cũ , các ngành


Hậu qủa của chất độc hoá học trong chiến tranh để lại còn nặng nề
hàng vạn trẻ em bị dị tật bẩm sinh , hàng triệu héc ta rừng bị suy thoái .
Ngộ độc thực phẩm có chiều hướng gia tăng và gây hậu quả nghiêm trọng cho
hàng vạn người.
1.2-Tác động của môi trường toàn cầu:
Môi trường là vấn đề có tính chất liên ngành , liên vùng và toàn cầu .Vì vậy , môi
trường nước ta cũng chịu tác động bởi môi trường toàn cầu và môi trường xuyên biên
giới vói các quốc gia láng giềng . Những tác động chính dưới đây cũng là những thách
thức cần quan tâm và giải quyết .
a)Vấn đề môi trường của các lưu vực sông Cửu Long và sông Hồng
Châu thổ sông Cửu Long là hạ lưu của 5 nước khác . Châu thổ sông Cửu Long tạo ra
40% yều cầu lương thực của nước ta , cho nên bất kỳ hoạt động nào trên thượng lưu ,
đều tác trực tiếp đến môi trường và tình hình kinh tế –xã hội của đất nước . Sông Hồng
là con sông chung với Trung Quốc và những hoạt động thượng nguồn của sông Hồng
đều có các mối liên quan với vùng đông dân nhất ở nước ta.
b)Vấn đề bảo vệ môi trường của các vùng rừng xuyên biên giới các cánh rừng
cũng là hệ thống cùng chia xẻ chung và các tài nguyên đa dạng sinh học quan trọng càng
được bảo vệ vì quyền lợi chung . Khai thác gỗ bất hợp pháp , buôn bán săn bắn độngvật
hoang dã trong các vùng có chung biên giới với Trung Quốc , Lào và Campuchia , đang
gây ra hủy hoại môi trường có ý nghĩa toàn cầu .
c)Vấn đề mưa axit : mưa axit là do SO2 và NOx do các ngành công nghiệp thải
ra không khí ,sau đó kết hợp với nước tạo thành các axit sulfuric và nitric . Axit theo
mưa tuyết xương rơi trở lại mặt đất . Mưa axit có thể tạo ra ô nhiễm xuyên biên giới ,
khi di chuyển cùng gió và mây từ vùng này sang vùng khác .
Những báo cáo của mạng lưới của hệ thống quan trắc quốc gia cho thấy , mưa
axit từ nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên . Các hậu qủa tiềm tàng của mưa axit
bao gồm phá huỷ cây trồng , rừng và làm giảm sản lượng nông nghiệp , ô nhiễm các
dòng sông , các hồ ảnh hưởng đến nuôi trồng thuỷ sản và các sinh vật khác , phá huỷ
các công trình kiến trúc .

−ợc 11.373 loài thực vật bậc cao có

mạch ( Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật ), khoảng 1.030 loài rêu, 2.500
loài tảo và 826 loài nấm. Theo dự đoán của các nhà thực vật học số loài thực
vật bậc cao có mạch ít nhất sẽ lên đến 15.000 loài, trong đó có khoảng trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status