BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ HÒA
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ ĐIỀU KIỆN
SINH THÁI TRONG CÁC TRƯỜNG HỌC Ở
THỊ XÃ TÂY NINH
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH THÁI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. CHẾ ĐÌNH LÝ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2010
THƯ
VIỆN
LỜI CAM ĐOANTôi là tác giả của bản luận văn này. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, tất cả
các số liệu nghiên cứu trong luận văn là số liệu thực và chưa được ai công bố.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ
THCS……………………………………………….Trung học cơ sở
THPT…………………………………………………Trung học phổ thông
PCGD …………………………………………………Phổ cập giáo dục
TCVN…………………………………………………Tiêu chuẩn Việt Nam
TXTN…………………………………………………Thị xã Tây Ninh
GS.TSKH…………………………………………… Giáo sư-Tiến sỹ khoa học
HS…………………………………………………… Học sinh
TP.HCM………………………………………………Thành phố Hồ Chí Minh
GD – ĐT………………………………………………Giáo dục - đào tạo
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển đất nước thì sự nghiệp giáo dục và
đào tạo luôn được coi trọng và được đưa lên hàng đầu. Giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ được coi là quốc
sách, là nền tảng cho công cuộc phát triển bền vững.
trường học trọng điểm, dụ kiến sẽ dần dần được thực hiện tại tất cả các trường học trong nước ta.
Tây Ninh là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, phía Tây và Tây Bắc giáp vương quốc Campuchia,
phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, phía Nam giáp TP.Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, là
tỉnh chuyển tiếp giữa vùng núi và cao nguyên Trung bộ xuống đồng bằng sông Cửu Long. Toàn tỉnh
hiện có 31 trường THPT, 9 phòng giáo dục trực tiếp phụ trách các trường mầm non, tiểu học và trung
học cơ sở. Thị xã Tây Ninh là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, hành chính của tỉnh, có vị trí chiến
lược, là đầu mối giao thông thuỷ bộ của tỉnh Tây Ninh: có rạch Tây Ninh chảy vào sông Vàm Cỏ
Đông, có đường quốc lộ 22A, 22B nối liền với thành phố Hồ Chí Minh ở phía Đông Nam, có các quốc
lộ, tỉnh lộ đi về các huyện lỵ và cửa khẩu Mộc Bài và cửa khẩu Sa Mát. Thị xã Tây Ninh còn là trung
tâm công nghiệp của tỉnh, có nhà máy điện với công suất thấp chủ yếu phục vụ cho thắp sáng, một nhà
máy nước công suất 1000m
3
ngày, nhà máy xay xát, xưởng cưa, đóng ghe và xưởng sửa chữa thiết bị
vận tải.
Vấn đề sức khỏe của học sinh trong trường học cũng rất được nhân dân Tây Ninh quan tâm từ
lâu, tuy nhiên từ trước đến nay chưa có một nghiên cứu đồng bộ nào về các điều kiện trong trường học
có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của học sinh. Xuất phát từ những yêu cầu đó, chúng tôi tiến hành
đề tài: Thực trạng và giải pháp về điều kiện sinh thái trong các trường học ở thị xã Tây Ninh.
Nghiên cứu này nhằm cung cấp những dữ liệu về thực trạng mảng xanh và các điều kiện vệ sinh môi
trường, từ đó làm cơ sở cho việc cải thiện, nâng cao điều kiện học tập trong các trường học của thị xã
Tây Ninh. Chương 1: TỔNG QUAN
Các nhà khoa học ở trong nước cũng như trên thế giới đang từng bước nghiên cứu để tìm ra các giải
pháp cho việc xây dựng một môi trường trường học thân thiện, an toàn, lành mạnh. Điển hình có các
công trình sau:
thị Thu Hiền đã đánh giá về hiện trạng vệ sinh môi trường trường học, thái độ và hành vi đối với môi
trường ở các trường thuộc quận Bình Thạnh, TP.HCM và đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao chất
lượng vệ sinh môi trường trường hoc.
Đề tài” Điều tra một vài chỉ tiêu vệ sinh môi trường trường học ở một số trường THCS quận Bình
Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh” năm 2008 của Nguyễn Thị Mai Cô đã đánh giá hiện trạng vệ sinh môi
trường ở các trường thuộc quận Bình Thạnh, TP.HCM và đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao chất
lượng vệ sinh môi trường trường học.
Ngày 12-13/10/2009, Đoàn công tác của Uỷ ban Dân tộc do đồng chí Chu Tuấn Thanh đến Bắc Giang
tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng vệ sinh môi trường ở trường phổ thông Dân tộc Nội trú. Trong hai
ngày làm việc, đoàn khảo sát đã đến thăm và làm việc tại Trường Dân tộc Nội trú tỉnh, Trường Dân tộc
Nội trú huyện Lục Nam. Tại đây, Đoàn tiến hành kiểm tra các công trình vệ sinh công cộng, nhà ăn,
bếp ăn, khu ở nội trú của học sinh; khảo sát, phỏng vấn giáo viên và học sinh về công tác vệ sinh môi
trường; trao đổi, toạ đàm với các trường về công tác vệ sinh môi trường học đường.
Về cảnh quan, có các công trình nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu tác động của cây xanh đấn khí hậu đô thị ( Federer, C.A. 1976)
- Ảnh hưởng của thực vật đến sự phản ứng của con người đối với âm thanh (Anderson, L., M., B., E.,
Mulligan and L., S., 1984)
- Chọn lọc cây để ngăn bụi ô nhiễm ( Linsay, B.E, 1972 ), ngăn tiếng ồn và che chắn tầm nhìn (
Reethof, G. and G.M.Hiesle, 1976)
- Nghiên cứu thiết kế cảnh quan đô thị ( Harg, 1969; Nelson, 1979; Hannebaun, 1986…)
- Kỹ thuật trồng, tạo hình, chăm sóc, bảo quản, thay thế cây già cỗi, có các công trình: Chadwick (
1970 ), Fernow ( 1911 ), Black, W. M. ( 1981 ).
Công trình nghiên cứu “Cây cảnh và hoa Việt Nam” năm 2003 của PGS.TS Trần Hợp đã thống kê,
mô tả về đặc điểm cấu tạo và nêu lên công dụng của các loại cây trồng làm cảnh và cây có hoa của Việt
nam.
Công trình nghiên cứu “Cây xanh và cây cảnh thành phố Hồ Chí Minh” năm 1998 của PGS.TS Trần
Hợp đã mô tả, phân loại các loài cây có ở thành phố Hồ Chí Minh.
Công trình nghiên cứu “Cây cỏ Việt Nam” tập I, II, III năm 1991-1993 của Phạm Hoàng Hộ đã thống
kê, mô tả và phân loại cây cỏ ở Việt nam.
Võ Văn Chi, Trần Hợp, Trịnh Minh Tân đã thống kê và mô tả các cây Bonsai của Việt Nam.
- Cụm trường tiểu học trung tâm:
+Tiểu học Kim Đồng: Số 02, Nguyễn Thái Học, KP3, Phường 2.
+ Tiểu học Võ Thị Sáu: Số 25, Võ Thị Sáu, KP3, Phường 3 .
+ Tiểu học Lê Văn Tám: Số 37,Tua Hai, KP3, Phường 1 .
- Cụm trường tiểu học vùng ven:
+ Tiểu học Nguyễn Khuyến: Ấp TânTrung, xã Tân Bình.
+ Tiểu học Lê Ngọc Hân: Tổ 4, ấp Thạnh Trung, xã Thạnh Tân.
+ Tiểu học Duy Tân: ấp Ninh Hòa, xã Ninh Thạnh.
* Khối THCS:
- Cụm trường THCS trung tâm:
+ THCS Chu Văn An Số 138 Nguyễn Trãi, Phường 3.
+ THCS Phan Bội Châu: Khu phố 5, Phường 1.
+ THCS Trần Hưng Đạo: Đường 30-4, KP4 ,Phường 2.
- Cụm trường THCS vùng ven:
+THCS Nguyễn Văn Trỗi: Ấp Tân Trung, xã Tân Bình.
+THCS Nguyễn Viết Xuân: Ấp Thạnh Hiệp, xã Thạnh Tân.
+THCS Nguyễn Thái Học: Ấp Ninh Hòa, xã Ninh Thạnh.
* Khối THPT:
+ THPT Lê Quý Đôn: KP4, Phường 4.
+ THPT Trần Đại Nghĩa: 66, Nguyễn Chí Thanh, Phường 3.
+ THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm: Phường 3.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau đây:
Khảo sát hiện trạng mảng xanh trong các trường học:
- Thống kê thành phần cây xanh đang được trồng trong trường: cây bóng mát và cây hoa cảnh.
- Xác định tỉ lệ che phủ của cây xanh so với khuôn viên trường.
- Xác định các loài cây độc hại, các loài cây không phù hợp trồng trong trường học.
Khảo sát các điều kiện vệ sinh môi trường trong các trường học thông qua một số chỉ tiêu vệ sinh môi
trường trường học như:
- Qui mô trường học.
Đợt 2: tháng 2 – tháng 4
Ánh sáng nhân tạo: Tương tự như đo ánh sáng tự nhiên nhưng mở tất cả các đèn và thời gian đo, đợt đo
như trên.
- Nhiệt độ: Đo bằng nhiệt kế vào các giờ và vào hai đợt như trên.
- Tiếng ồn:
+ Dụng cụ: Máy đo tiếng ồn.
+ Cách đo: Đo ở các dãy khác nhau và các phòng khác nhau, đo vào đầu giờ học và cuối giờ học.
- Chỉ số chiếu sáng:
+ Cách tính: Đo diện tích các cửa sổ trong phòng và đo diện tích chấn song. Chỉ số chiếu sáng được
tính bằng:
( Tổng diện tích cửua sổ - tổng diện tích chấn song )/ Tổng diện tích phòng học.
+ Thời gian đo: Đo 1 đợt ( tháng 2 – tháng 4 )
- Lượng bụi:
+ Dụng cụ: Đo bằng máy đo lượng bụi, đặt ở vị trí gần bảng.
+ Thời gian đo: Đo trong 5 phút ở một vị trí, lặp lại 3 lần ở một vị trí đo.
Đo 1 đợt ( tháng 2 – tháng 4 ).
Đo đuờng kính thân cây:
Đo đường kính thân cây tại vị trí 1,3m từ gốc cây. Dùng thước dây đo vòng thân cây ở tại vị trí này ta
thu được chu vi thân cây (P). Từ đó suy ra đường kính thân cây (d).
Ta có: P =
*d
d =
P
- Đo chiều cao cây:
+ Dụng cụ: Thước đo chiều cao cây.
+ Cách đo: Đo chiều cao của từng cây.
- Diện tích : 137,37 km
2
, gồm 5 phường và 5 xã.
- Thị xã Tây Ninh nằm ở vị trí trung tâm tỉnh, cách TP.HCM 99 km theo đường Xuyên Á (Quốc lộ 22
A). Cách biên giới Camphuchia 40 km về phía Tây Bắc.
3.1.2. Khí hậu thời tiết
- Thị xã Tây Ninh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa. Có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5
đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Khí hậu nóng ẩm nhưng ôn hòa, ít khi
có bão lụt.
3.1.3. Địa hình
Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận tiện cho việc xây dựng các loại công trình. Độ cao trung bình 8-
10 m (trừ núi Bà Đen), cao nhất 16m, thấp nhất 2m.
3.2. Điều kiện xã hội
3.2.1. Dân số
-Dân số trung bình năm 2003: 125218 người.
- Mật độ dân số năm 2003: 911,54 người /Km
2
- Tốc độ tăng dân số bình quân năm 2001 – 2002 : 1,61%.
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2002: 1,01%.
- Tỷ lệ tăng dân số cơ học năm 2002: 0,61%.
3.2.2. Lao động
Năm 2002 số lao động là 59309 người chiếm 74,2% được chia ra:
- Lao động nông - lâm – ngư nghiệp: 33,7%.
- Lao động công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng: 27,9%.
- Lao động thương mại – dịch vụ: 38,4%.
3.2.3. Thu nhập và đời sống dân cư
- Năm 2009, GDP bình quân đầu người đạt 24,6 triệu đồng, tương đương 1433 USD/người/năm.
- Đời sống dân cư được cải thiện, kết cấu hạ tầng phát triển, văn hóa – xã hội có nhiều chuyển biến tốt.
3.3. Thực trạng phát triển kinh tế trên địa bàn thị xã Tây Ninh
1372, Phòng Giáo dục và Đào tạo: 13). Trong đó, giáo viên trực tiếp giảng dạy là 981, chiếm 71,5%.
3.4.1.2. Công tác phát triển trường, lớp
*Mầm non: Có 13 trường, 103 lớp mẫu giáo, 42 nhóm trẻ. Tổng số học sinh: 4717/6582 trẻ trong độ
tuổi, đạt tỷ lệ 71,66%.
*Tiểu học: 26 trường với 327 lớp
Tổng số học sinh đầu năm: 9763 học sinh, cuối năm: 9705 học sinh.
*Trung học cơ sở: 11 trường, 183 lớp, so với năm trước giảm 4 lớp.
Tổng số học sinh đầu năm: 7586 học sinh, cuối năm: 7342 học sinh.
3.4.1.3. Chất lượng giảng dạy, học tập
*Giáo dục mầm non:
Các trường mầm non, mẫu giáo trong thị xã tiếp tục thực hiện chương trình giáo dục mầm non
mới theo hướng tích hợp các nội dung chăm sóc – giáo dục, chú ý các hoạt động vui chơi phù hợp với
sự phát triển tâm sinh lí lứa tuổi và yêu cầu nội dung theo từng chủ điểm, đảm bảo tốt các mục tiêu
giáo dục mầm non; Các trường tiếp tục ứng dụng và đưa công nghệ thông tin vào hoạt động giáo dục
mầm non, cụ thể đã có 15 tiết dự thi hội giảng vòng tỉnh có sử dụng công nghệ thông tin vào việc giảng
dạy.
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho các cháu, tổ chức tốt việc phòng tránh tai nạn, thương tích cho
trẻ; tổ chức khám sức khỏe cháu 2 lần/ năm; tổ chức tột các chuyên đề xây dựng các tiết dạy lộng, ghép
các nội dung giáo dục an toàn giao thông, giáo dục dinh dưỡng, giáo dục lễ giáo…
Các nhóm, lớp mầm non tư thục đã thực hiện tốt các quy định về chuyên môn và tham gia các
hội thi, chuyên đề của ngành tổ chức.
*Giáo dục tiểu học:
Trong năm học 2008 – 2009, tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức chuyên đề sử
dụng giáo án điện tử nhắm nâng cao chất lượng giảng dạy.
Cuối năm học, học sinh lên lớp thẳng đạt 9 560/9 705 em, chiếm tỷ lệ 98,5%, trong đó loại giỏi
46,2%, loại yếu 1,5%. Chất lượng học lực của học sinh dân tộc đạt 175/202 em, tỷ lệ 86,63%, duy trì sĩ
số học sinh dân tộc đạt 202/202 em, tỷ lệ 100%. Tổng số học sinh được công nhận hoàn thành chương
trình tiểu học: 1787/1787 đạt 100%.
Thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” đánh giá, xếp loại học sinh chính xác đúng thực chất;
giáo viên tích cực tham gia học tập, nâng cao trình độ và nâng cao tay nghề.
3.4.1.6. Công tác xây dựng trường, lớp:
Tiến hành sửa chữa và xây dựng phòng học theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa được 55 phòng,
trong đó xây mới 25 phòng lầu và sữa chữa 30 phòng (lầu: 8, trệt: 22).
Trong năm học, có 3 trường đạt chuẩn quốc gia ( TH Trần Phú, TH Nguyễn Du và mầm non
Rạng Đông). Tính đến nay, số trường đạt chuẩn quốc gia trong thị xã là 15/50 đơn vị, tỷ lệ 30%, trong
đó mầm non: 5 trường, tiểu học : 7 trường, THCS: 3 trường. Hiện nay đang tiếp tục đầu tư xây dựng
thêm 2 trường đạt chuẩn quốc gia vào cối năm 2009 là: tiểu học Duy Tân ( xã Ninh Thạnh ) và tiểu học
Nguyễn Khuyến ( xã Tân Bình ).
3.4.2. Hiện trạng giáo dục bậc trung học phổ thông:
Thị xã hiện nay có 5 trường THPT đều nằm ở khu vực trung tâm thị xã, tổng đội ngũ cán bộ -
giáo viên – nhân viên hiện có là 335, trong đó có 294 giáo viên trực tiếp giảng dạy. Tất cả các giáo viên
đều đạt chuẩn trình độ đại học. Tổng số học sinh là 5913, với 140 lớp học.
Chất lượng giảng dạy ở bậc trung học phổ thông ở thị xã được đánh giá là tốt nhất so với các
huyện khác trong tỉnh.
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Hiện trạng cây xanh và cây cảnh tại một số trường học trong thị xã Tây
Ninh
4.1.2. Thành phần loài
Kết quả điều tra cây xanh ở một số trường học thuộc thị xã Tây Ninh, chúng tôi ghi nhận có 132 loài
cây thuộc 63 họ, 36 bộ, 3 ngành. Chúng tôi sắp xếp các loài theo hệ thống phân loại thực vật của A.
Takhtajan (1987). Trong đó chủ yếu là các loài cây thuộc ngành Ngọc lan.
Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 1 loài
Ngành Thông (Pinophyta) có 5 loài
Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) có 126 loài gồm 2 lớp:
Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida ) có 86 có loài
Lớp Hành (Liliopsida) có 40 loài.
Các họ có số loài nhiều là: họ Thầu dầu Euphorbiaceae (8 loài), họ Vang Caesalpiniaceae (5 loài), họ
Dâu tằm Moraceae (5 loài), họ Trúc đào Apocynaceae (7 loài), họ Bồng bồng Dracaenaceae (8 loài), họ
cau (15 loài), họ Ráy Araceae (5 loài).
Trong 132 loài cây có 89 loài thuộc cây làm cảnh (67,42%) và 43 loài cây bóng mát ( 32,58% ).
Các trường tiểu học khu vực trung tâm
Lê Văn Tám 14 11 3 0
Võ Thị Sáu 41 5 19 17
Kim Đồng 63 12 20 31
Tổng số 118 28 42 48
Tỷ lệ % 100% 23,73% 35,59% 40,68%
Các trường tiểu học khu vực vùng ven
Nguyễn Khuyến 34 19 14 1
Lê Ngọc Hân 119 32 63 24
Duy Tân 48 28 18 2
Tổng số 201 79 95 27
Tỷ lệ % 100% 39,3% 47,26% 13,43%
Bảng 4. 2: Số lượng cây bóng mát ở một số trường THCS (theo chiều cao)
Tên trường Số cây
Loại cây
Loại 1:<6m Loại 2:6-12m Loại 3:>12m
Các trường THCS khu vực trung tâm
Phan Bội Châu 31 10 16 5
Trần Hưng Đạo 60 9 17 34
Chu Văn An 68 35 26 7
Tổng số 159 54 59 46
Tỷ lệ % 100% 33,96% 37,11% 28,93%
Các trường THCS khu vực vùng ven
Nguyễn Văn Trỗi 72 13 25 34
Nguyễn Viết Xuân 49 3 30 16
Nguyễn Thái Học 121 24 26 71
Tổng số 242 40 81 121
Tỷ lệ % 100% 16,53% 33,47% 50%
Bảng 4. 3: Số lượng cây bóng mát ở một số trường THPT (theo chiều cao)
loài cây này thuộc cây gỗ vừa và lớn, điều này chứng tỏ đây là những cây mới được trồng gần đây.
Những loài cao trên 12 m là: Bàng (Terminalia catappa L.), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa (Kurz.) Graib.),
Dầu con rái (Dipterocarpus alatus Roxb), Sao đen (Hopea odorata Roxb.), Phượng vĩ (Delonix regia
(Boj. ex Hook.) Raf. ), Xoài (Mangifera indica L.), Keo tai tượng (Acacia mangium Wild.), Xà cừ
(Khaya senegalensis A.Juss.), Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn.), Tràm bông vàng
(Acacia auriculaeformis A. Cunn.).
Ở các một số trường như trường THCS Nguyễn Thái Học có các cây bóng mát cao trên 20 m như: Xà
cừ (Khaya senegalensis A.Juss.), Sao đen (Hopea odorata Roxb.), Keo tai tượng (Acacia mangium
Wild.) ,tràm bông vàng (Acacia auriculaeformis A. Cunn.); trường tiểu học Duy Tân cũng có cây sao
đen cao trên 20m; trường THPT Trần Đại Nghĩa có những cây dầu con rái (Dipterocarpus alatus
Roxb.) cao trên 20 m; trường THCS Chu Văn An có cây gõ đỏ (Afzelia xylocarpa (Kurz.) Graib.),
THCS Nguyễn văn Trỗi có cây xà cừ cao trên 20m. Đây là những cây được trồng lâu năm.
Trường có cây bóng mát rất ít là trường tiểu học LêVăn Tám ( 14 cây ).
Những trường mới được thành lập như: Tiểu học Nguyễn Khuyến, tiểu học Duy Tân thì chủ yếu là các
cây mới đựoc trồng cách đây 2 – 3 năm.
Cây xanh được trồng trong các trường không có sự phân biệt theo cấp học nhưng có sự phân biệt theo
khu vực. Các trường học ở khu vực trung tâm thường có diện tích nhỏ nên số lượng cây bóng mát được
trồng ít hơn, các trường ở khu vực vùng ven thì có diện tích rộng nên số lượng cây bóng mát được
trồng nhiều hơn.
0
50
100
150
200
250
300
350
400
Loại 1: <6m Loại 2: 6-12m Loại 3: >12m
Số cây
Lê Ngọc Hân 119 30 81 8
Duy Tân 48 41 7
Tổng số 201 102 91 8
Tĩ lệ % 100% 50,75%
45,27%
3,98%