Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
LỜI NÓI ĐẦU
Nông nghiệp là ngành sản xuất hiện chiếm trên 23% GDP trong toàn bộ
nền kinh tế quốc dân Việt Nam. Đối với nhiều địa phương giá trị gia tăng của
ngành nông nghiệp tạo ra chiếm trên 50% GDP tính theo lãnh thổ. Lực lượng
lao động trong nông nghiệp ở nước ta chiếm trên 2/3 trong tổn số. Những con
số đã nêu phần nào nói lên vai trò của ngành nông nghiệp. Vì vậy nông
nghiệp nông thôn dược Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng. Nông nghiệp
nông thôn là mặt trận kinh tế trọng yếu, là cơ sở để phát triển công nghiệp,
dịch vụ, là thị trường rộng lớn của công nghiệp, nguồn cung cấp nguyên liệu,
lao động cho công nghiệp và các nghành nghề khác.
Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
Việt Nam từ trước đến nay là tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chuẩn bị
các điều kiện cần thiết để bước vào thế kỷ XXI một cách thuận lợi. Đặc biệt
trong lần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X chúng ta đã đưa ra mục tiêu:
Đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp. Nước ta với nền kinh tế kém phát triển, chủ yếu dựa vào nông nghiệp
thì việc thực hiện mục tiêu đề ra là khó khăn nhưng không phải là không thực
hiện được. Đó là trong nền kinh tế chúng ta cần phải có được các yếu tố nội
sinh bởi vì các yếu tố này quyết định đến quá trình tăng trưởng kinh tế. Các
yếu tố nội sinh trên được hình thành từ các loại hình đầu tư bổ trợ mà đặc biệt
là đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Một hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển mạnh sẽ tạo
cơ sở vật chất cho việc thực hiện đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã
hội của Đảng và Chính phủ.
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển châu thổ sông Hồng, có
diện tích đất nông nghiệp lớn, địa hình bằng phẳng thuận lợi cho việc phát
triển sản xuất nông nghiệp. Hơn nữa TháI Bình là tỉnh có truyền thống về
sản xuất nông nghiệp, người dân nơI đây có kinh nghiệm về thâm canh lúa
nước từ lâu đời. Vì vậy việc đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn
được Đảng bộ và các cơ quan, ban ngành của tỉnh hết sức coi trọng. Đặc
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VỐN CHO CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP NÔNG
THÔN
1. Khái niệm về đầu tư
Trong lĩnh vực sản xuất vật chất nói chung, hoạt động kinh tế bao giờ cũng
gắn liền với việc sử dụng tiền vốn và các nguồn tài nguyên khác nhằm đem
lại lợi ích kinh tế xã hội nhất định. Trong nền kinh tế quốc dân, phạm vi một
địa phương, một vùng kinh tế, đầu tư là một lĩnh vực hoạt động để tạo ra hoặc
đổi mới và duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc các ngành
kinh tế quốc dân nhằm khai thác đầy đủ và hiệu quả các nguồn tài nguyên của
đất nước.
Theo nghĩa chung nhất thì đầu tư được hiểu là sự bỏ ra, sự hy sinh các
nguồn lực ở hiện tại nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư
trong tương lai.
2 Khái niệm, đặc điểm của đầu tư vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kỹ
thuật
2.1 Khái niệm
Như ta đã biết muốn tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất nào, thì
chúng ta phải có đầy đủ các yếu tố đầu vào hay còn gọi là tư liệu sản xuất.
Nếu thiếu một trong các yếu tố đó thì quá trình sản xuất là không thể diễn ra
được, các yếu tố đều được lượng hoá giá trị bằng tiền, tổng số tiền được ,
lượng hoá này người ta gọi là vốn. Như vậy, vốn là biểu hiện bằng tiền của tư
liệu sản xuất của nghành, của doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh ,...
Xuất phát từ đặc điểm kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của nông thôn đó
là : kết cấu hạ tầng được hình thành, được sử dụng vì mục đích phát triển kinh
tế – xã hội ở nông thôn, giúp cho các hoạt động kinh tế – xã hội nhanh hơn.
Kết cấu hạ tầng là công ttình mang tính chất công cộng vì vậy nó phục vụ tất
3
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
3
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
kém. Vì vậy, nguồn vốn đầu tư qua ngân sách, nguồn vốn tín dụng có ý nghĩa
hết sức to lớn .
- Vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng có khả năng sinh lời thấp và có độ rủi
ro cao, thời gian thu hồi vốn lâu. Thực tế cho thấy kết cấu hạ tầng là lĩnh vực
mà sản phẩm của nó mang tính công ích mà giá cả của nó thường bị nhà nước
điều tiết, khống chế : phạm vi tiêu dùng của nó rất rộng, chi phối nhiều hoạt
động của nền kinh tế – xã hội. Do đó đây là lĩnh vực có khả năng sinh lời
thấp, không có khả năng thu hồi vốn, hay nói cách khác là độ rủi ro cao
- Hiệu quả vốn đàu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật được thể hiện
qua kết quả phục vụ của nó đối với các ngành, các lĩnh vực
Các công trình đầu tư trong lĩnh vực thuỷ lợi những năm trước đây, nhất
là thời kỳ 1996 – 2000 và 2001 - 2005 đã cơ bản hệ thống thuỷ lợi. Nó góp
phần nâng cao và ổn định năng suất cây trồng tạo điều kiện cho 11 năm liền
tỉnh ta liên tiếp được mùa.
10 năm qua, bộ mặt của nông thôn ngày càng được đổi mới, các công
trình hạ tầng cơ sở và nhà ở nhân dân ngày càng được khang trang, đường xá
sạch sẽ hơn nhiều so với những năm trước đây.
Khu vực đô thị, thị xã, thị trấn đã có bước phát triển nhanh về cơ sở hạ
tầng và công trình phúc lợi công cộng, vệ sinh nước sạch môi trường ngày
càng được quan tâm.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được về đầu tư nói trên, tình hình đầu tư
phát triển nông nghiệp nông thôn tại Thái Bình vẫn còn những vướng mắc,
khó khăn còn tồn tại. Nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp phát triển
kinh tế tỉnh.
3. Các loại vốn và khả năng khai thác cho đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn
3.1. Vốn ngân sách nhà nước
CHO XD CƠ SỞ HẠ TẦNG
(Đơn vị :triệu đồng)
1992 1993 1994 1995 1996 1997
1.Làm đường - 266 481 10.347 11.322 8.476
2.trường học 415 345 626 4.114 3.833 2.500
3.Trạm xá - 70 50 211 65 124
4.Điện 20 380 - 314 1.208 800
5.Nghĩa trang LS - - 413 750 1.500 1.800
6
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
6.Nhà trẻ - - - - - 800
Tổng số 435 1.061 1.269 15.73
6
17.240 14.500
Xét tổng thể thì nguồn vốn huy động trong dân trong thời qua để phát
triển hạ tầng nông thôn là nằm trong khuôn khổ nguồn lực tài chính của nền
kinh tế và xã hội chậm phát triển.Đây là một nguồn vốn tại chỗ để xây dựng
các cơ sở hạ tầng tại chỗ. Tuy nhiên, nguồn vốn này hiện nay giảm đi đáng kể
trong đó chiếm 30% ở một đôi xã, đạt khoảng 50% tổng kinh phí đầu tư. Hơn
thế nữa nguồn vốn này chỉ được huy động có hiệu quả đối với những xã có
năng lực kinh tế của xã là trung bình hoặc khá, năng lực cộng đồng, năng lực
quản lý của cấp xã là khá. Điều này đã được chứng minh qua thực tế một số
huyện như Hải Hậu – Nam Định, với vốn đầu tư xây dựng thời kỳ 1992-1997
có tới 93,1% là vốn huy động từ các nguồn lực trong dân. thế nhưng nguồn
vốn này chỉ chủ yếu đối với những công trình hạ tầng ở cấp độ thấp, quy mô
nhỏ và kinh phí ít, xây dựng chủ yếu bằng lao động thủ công và vật liệu tại
chỗ. Có thể nói, trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta hiện
thể có được hệ tầng như đã thấy. Nói khác đi, thông qua hệ quan hệ thị
trường, vốn từ quỹ đất công đã trở thành một nguồn lực tài chính quyết định
đối với sự phát triển hạ tầng ở cấp xã. Nhờ nguồn vốn này mà chính quyền xã
đã có nguồn tài chính để vận hành bộ máy của mình và thực hiện chức năng
phát triển hạ tầng nông thôn. tuy nhiên có một thực tế, ở những vùng có quỹ
đất công ích, thông qua cách sử dụng theo quy định của luật đất đai, đã không
tạo ra được một nguồn lực tài chính công cho các xã cho xây dựng hạ tầng. Số
tiền thu được từ việc cho thuê đất công vào sản xuất nông nghiệp như quy
định của luật đất đai, trên thực tế các xã dùng vào việc chi tiêu cho các mục
đích thường xuyên. nói cách khác, nguồn vốn này trên thực tế là chưa thể hiện
được vai trò đặc biệt của mình đối với phát triển hạ tầng ở nông thôn thời gian
vừa qua. Và câu hỏi đặt ra là. trong thời gian tới đóng góp của nguồn vốn này
đối với hạ tầng nông thôn ở mức độ nào.
8
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
Thứ nhất xét về mặt pháp lý, việc bán đất công là trái với luật ruộng đất, là
phạm pháp. về nguyên tắc việc bán đất như vậy là không thể chấp nhận được.
Tuy nhiên cũng phải đặt ra một câu hỏi là : nếu không có nguồn vốn từ quỹ
đất công thì tình hình cơ sở hạ tầng nông thôn sẽ ra sao? Đỉều rõ ràng sẽ là
không có được một trạng thái phát triển hạ tầng ở cấp xã mà chúng ta thấy.
Các xã sẽ lâm vào tình trạng khó khăn, không có nguồn vốn cần thiết để phát
triển hạ tầng. Suy cho cùng, đây là một giải pháp đã có hiệu quả nhất định
trong thời gian qua nhưng nó không phù hợp với nền kinh tế thị trường. Do
vậy, khả năng khai thác nguồn vốn từ quỹ đất công là không nhiều.
Thứ hai, xét về quy mô của quỹ đất công ích. Quỹ đất ngày càng giảm đi
do dân cư nông thôn tăng tuyệt đối còn khá cao kèm theo việc tách hộ còn
khá mạnh. Sự gia tăng dân số và hình thành hộ mới đã tạo ra nhu cầu lớn về
không có nguồn kinh phí để tu bổ, sữa chữa tái tạo lại.
Nguồn vốn này có vai trò vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay
nguồn vốn này chưa phổ biến đối với phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn.
một số nơi đã có chủ tư nhân đầu tư làm hệ thống đường điện vào xóm.
Nhưng bên cạnh đó còn có những hệ thống điện chắp vá, làm không đúng quy
trình, kỹ thuật nên chất lượng rất kém, gây tổn thất điện lớn, không an toàn,
có sự cố, và nhất là không phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất, phát triển
kinh doanh. Có thực tế như vậy là do lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng nông
thôn là chưa thực sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Những nhà đầu tư có khả
năng kinh tế cũng như khả năng chuyên môn thì không muốn đầu tư vào lĩnh
vực này do mức sinh lợi thấp. Thực tế hiện nay đầu tư vào lĩnh vực này chủ
yếu là những nhà đầu tư có nguồn vốn không lớn cũng như khả năng về
chuyên môn hạn chế. Chính vì vậy dẫn đến hiện trạng đầu tư như trên. Hơn
thế nữa, nguồn vốn này chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực, những loại sản phẩm
hàng hoá dịch vụ như điện, nước sạch, y tế, khám chữa bệnh, và ở một chừng
mực nhất định là giáo dục...
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên. trong thời gian tới đây là một nguồn
vốn sẽ giữ vai trò chủ chốt và quan trọng. chỉ có điều khả năng khai thác
nguồn vốn này vẫn còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Vì vậy, để
10
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
kết cấu hạ tầng nông thôn thực sự là một lĩnh vực hấp dẫn đối với các nhà đầu
tư, chúng ta cần có những chính sách, giải pháp để tạo động lực phát triển mới
cho nông thôn, bằng cách nâng cao đời sống của người dân nông thôn từ đó
nâng cao mức hưởng thụ các dịch vụ hàng hoá mà kết cấu hạ tầng mang lại.
3.5 Nguồn vốn tín dụng.
Trong thời gian vừa qua, nguồn vốn tín dụng đã xuất hiện khá phổ biến.
Thực tế hiện nay, việc sử dụng nguồn vốn này để phát triển hạ tầng cũng
nảy sinh những tiêu cực không nhỏ, gây bê bối và góp phần tạo ra những bức
xúc ở nông thôn. Cụ thể lãi suất vốn vay còn khá cao, trong quan hệ vay
mượn nảy sinh quan hệ lợi dụng nhau, có những móc ngoặc, ăn chia, gây thất
thoát vốn, chất lượng công trình kém. Thiết nghĩ, để khai thác có hiệu quả khả
năng nguồn vốn này trong thời gian tới phải có những điều kiện cho hạ tầng
nông thôn phát triển đúng tầm quan trọng của nó, đồng thời cũng có những ưu
đãi từ phía ngân hàng cho vốn vay xây dựng hạ tầng. Chẳng hạn với thời hạn
5 năm và mức lãi suất thấp từ 0,8-1%/ tháng . Đặc biệt phải coi phát triển hạ
tầng như một lĩnh vực của hoạt động KT-XH của nền kinh tế.
3.6 Nguồn vốn từ các chủ thể kinh tế, xã hội khác.
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà phương thức nhà nước và nhân dân cùng
làm và giải pháp huy động nguồn lực trong dân còn tác dụng và còn phải vận
dụng trên thực tế, khi sự phát triển hạ tầng nông thôn mặc dù được đặt trong
một tổng thể, và trong một chương trình chung, vẫn còn là những công việc
của địa phương, thì nguồn vốn này cũng đóng góp không nhỏ cho phát triển
kết cấu hạ tầng nông thôn. Trong thực tế, các loại doanh nghiệp, các loại chủ
thể kinh tế hoạt động ở địa phương là những người hưởng thụ các loại hạ tầng
và dịch vụ công cộng ở địa phương đó lớn hơn rất nhiều so với mức hưởng
thụ của người dân bình thường. Bởi vì, việc sinh lời từ hoạt động kinh doanh
không chỉ bắt nguồn từ bản thân hoạt động kinh doanh, mà còn phụ thuộc vào
trình độ phát triển hạ tầng và dịch vụ công cộng. Do vậy, nguồn vốn này là
hoàn toàn phù hợp với tiến trình phát triển kinht tế xã hội. Trong thời gian vừa
qua, sự đóng góp của giới kinh doanh lớn, nhỏ có tác dụng khá lớn đối với sự
phát triển hạ tầng. Thường nguồn vốn này hình thành thông qua hình thức
12
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
toán đúng thời hạn, rất nghiêm ngặt, nhiều khi sử dụng không có hiệu quả dẫn
đến khủng hoảng cho đất nước. Vì vậy, trong thời gian tới chúng ta cần có sự
tính toán cân nhắc trong việc sử dụng nguồn vốn này, cần có đội ngũ cán bộ
có năng lực quản lý thực sự để sử dụng nguồn vốn này. Hơn thế nữa phải ưu
tiên nguồn vốn này cho những công trình trọng điểm như : hệ thống thuỷ lợi,
hệ thống cầu cảng, hệ thống giao thông,...Và những vùng đặc biệt khó khăn
mà không có khả năng xây dựng cơ sở hạ tầng bằng các nguồn vốn khác.
Từ sự phân tích các nguồn vốn nói trên ta thấy tất cả các nguồn vốn đều có
vai trò hết sức quan trọng.tuy nhiên trong thời gían tới có khả năng tăng
nhưng không nhiều. Do dó, nhân tố thị trường và nhà nước là những nhân tố
mới và đặc biệt quan trọng của gian đoạn phát triển mới trong nông thôn nói
chung và hạ tầng nói riêng. Chính sự năng động của các cấp, của cộng đồng
trong việc hoạch định phương hướng, dự án phát triển hạ tầng, trong việc tìm
kiếm các nguồn vốn và đầu tư phát triển hạ tầng là một nhân tố tích cực quyết
định thành công của sự phát triển hạ tầng nông thôn vừa qua. Hơn thế nữa,
cần phải xem xét thận trọng các nguồn vốn trong việc phát triển hạ tầng ở
nông thôn bởi lẽ, việc sử dụng tổng lực các nguồn vốn và các quan hệ thị
trường đã bắt đầu phát huy tác dụng làm cơ sở động lực thúc đẩy sự phát triển
của lực lượng sản xuất nói chung và của hạ tầng nông thôn nói riêng.
4. Sử dụng vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn.
Để sử dụng vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn ta tiến hành
những bước công việc sau.
4.1 Xác định tổng vốn đầu tư
Như ta đã biết để tiến hành bất kỳ một hoạt động nào như hoạt động đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng chẳng hạn, vấn đề quan trọng là xác định tổng vốn
đầu tư của dự án. tổng vốn đầu tư của dự án bao gồm: vốn cố định, vốn lưu
động, lãi vay trong thời gian xây dựng nếu có.Đặc biệt dự án đầu tư phát triển
là có hạn, trong khi đó nhu cầu của các nguồn vốn là rất lớn. Địa phương nào
cũng muốn có nhiều vốn để xây dựng hạ tầng, đặc biệt là các loại vốn như :
ngân sách, vốn viện trợ,... Các địa phương không muốn phải đi vay, phải bán
15
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
đất, huy động của dân để phát triển cơ sở hạ tầng, ngay cả khi họ có khả năng
huy động các loại nguồn vốn này. Chính thực tế này yêu cầu khi lập dự án
phải căn cứ vào năng lực tài chính của địa phương
Thứ nhất đối với những địa phương yếu kém trong phát triển kinh tế,
đồng thời có cả sự yếu kém về năng lực công đồng, năng lực quản lý. Họ
không có khả năng huy động các nguồn lực trong dân vào phát triển hạ tầng
và nếu có thì không đáng kể. Trong những trường hợp như thế này, nhà nước
cần có giải pháp phù hợp để hỗ trợ vốn cho họ tiến hành xây dựng, còn những
đóng góp của họ có được chủ yếu để duy trì, bảo dưỡng, nâng cấp hạ tầng cũ.
Thứ hai những địa phương có năng lực kinh tế khá, cũng như năng lực
cộng đồng và lãnh đạo mạnh, tiếp cận được với quan hệ thị trường, có một
quỹ đất công có giá trị cao. Khi đó vốn cho phát triển hạ tầng chủ yếu là của
địa phương như : vốn huy động trong dân, vốn vay, vốn từ bán đất công ích.
Thứ ba đối với vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn, người dân ở đó
không có khả năng xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong khi yêu cầu về cơ sở hạ
tầng lại rất cần thiết để giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, tạo điều kiện
cho người dân cải thiện điều kiện sống, cũng như nằm trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của đất nước. Khi đó sẽ có những ưu tiên của nhà nước về
đầu tư, vốn đầu tư từ ngân sách chiếm hầu như toàn bộ trong cơ cấu vốn đầu
tư.
Tuy vậy trong thực tế xác định cơ cấu vốn ở nước ta hiện nay nảy sinh
một số vấn đề. Việc xây dựng hạ tầng chưa thể hiện được sự chủ động, mang
hàng.
+Về tổ chức quỹ ; hiện nay quỹ đầu tư phát triển nông thôn được thành
lập ở một số cấp hành chính như sau :
- Quỹ đầu tư phát triển nông thôn cấp tỉnh : quỹ này dùng để điều hoà
nông thôn vùng, tiếp nhận nguồn vốn đầu tư từ ngân sách; một phần của 45%
khoản thu thuế sử dụng đất;thu xổ số kiến thiết; số tiết kiệm của các tổ chức
thuộc tỉnh quản lý; hỗ trợ các chương trình đầu tư nông thôn của trung ương
17
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
cho tỉnh, đóng góp của ngân sách cấp huyện, cấp xã cho mức chi ngân sách
bình quân dân số cao ở địa phương; vận động đóng góp 2-3% quỹ phúc lợi
của các tổ chức kinh tế – xã hội; trích 20% các khoản phụ thu trên giá lệ phí,
phí của tỉnh thu được. Quỹ phân phối sử dụng hỗ trợ cân đối quỹ đầu tư xã
miền núi, vùng sâu, vùng xa, xã nghèo có khó khăn;hỗ trợ 10 – 40% giá trị
công trình đầu tư bằng vốn góp của huyện, xã; cho các xã vay đầu tư công
trình công ích phát triển nguồn thu.
- Quỹ đầu tư xã: quỹ của chính quyền cơ sở ở nông thôn tiếp nhận
nguồn đầu tư từ ngân sách xã; một phần của 45% số thu thuế sử dụng đất; các
khoản huy động đóng góp của hội đồng nhân dân xã để đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng theo quy định của điều 36 luật ngân sách nhà nước; các khoản phụ thu
trên giá, phí, thuế do uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thu vào đầu tư xã;
khoản đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng do hội đồng nhân dân xã quyết định
đối với các tổ chức cá nhân đến ở hoặc nhập hộ khẩu, hộ tịch trên địa bàn; hỗ
trợ cân đối của quỹ đầu tư nông thôn tỉnh; quyên góp giúp các địa phương
khác; hỗ trợ đầu tư của các nghành, đơn vị theo dự án; hỗ trợ của các cá nhân
tổ chức ở nước ngoài trực tiếp cho quỹ ... Quỹ phân phối sử dụng cho:đầu tư
mới, nâng cấp, sửa chữa các công trình: giao thông, trường học, trạm y tế, nhà
hiện nay, chủ thể đứng ra quản lý vốn là ban quản lý công trình. Đây là một tổ
chức do UBND tổ chức, trong đó trưởng ban quản lý thường là chủ tịch xã,
huyện, tỉnh,... tương ứng với kết cấu hạ tầng ở cấp xã, huyện, tỉnh... Các thành
viên là một số trưởng ban, ngành, uỷ viên thường trực và uỷ viên tài chính.
Nhiệm vụ chính của uỷ ban này là:
Lập dự toán chi phí cho dự án, bao gồm lập kế hoạch nguồn lực, xác
định số lượng từng nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án, ước lượng các chi
phí của từng nguồn lực để hoàn thành các hoạt động của dự án, phân bổ các
chi phí chung đã được ước lượng cho từng hoạt động.
Tổ chức cấp phát vốn phải bám sát tiến độ thi công và nghiệm thu hạng
mục, tuân thủ nghiêm ngặt thủ tục cấp phát, thanh toán, ngăn ngừa sử dụng
vốn không đúng mục đích, thanh toán không kịp thời, cấp vượt vốn không thu
19
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
hồi được; tổ chức nghiệm thu toàn công trình được tổng hợp từ các biên bản
nghiệm thu từng hạng mục của công trình. Việc thanh toán toàn bộ công trình
căn cứ vào dự toán được duyệt, biên bản của hội đồng nghiệm thu, quyết toán
công trình được duyệt.
Có thể nói trong giai đoạn vừa qua, hạ tầng nông thôn đang trong quá
trình chuyển đổi sang phương thức thị trường và do nhà nước ( cấp xã ) thực
hiện. Tuy nhiên trong công tác quản lý sử dụng vốn chưa hình thành quan hệ
tài chính và toàn bộ sự tuần hoàn vốn lại chưa hình thành. Điều quan trọng ở
đây là chưa xác định chủ đầu tư, chủ sở hữu và khi đi vào sử dụng, chưa xác
định phương thức cung cấp dịch vụ công cộng trên quan hệ thị trường. Vì vậy,
việc quản lý vốn đầu tư trong lĩnh vực hạ tầng ở nông thôn vừa qua đã được
thực hiện với khuôn mẫu của phương thức phát triênr hạ tầng cộng đồng. Sự
không thích ứng này là một trong nguồn gốc căn bản gây bê bối trong quản lý
cho cuộc sống vật chất, tinh thần ở nông thôn được nâng cao, tạo đà cho các
doanh nghiệp, các hộ kinh tế gia đình đầu tư phát triển nông nghiệp, công
nghiệp chế biến nông sản thực phẩm thành hàng hoá, phục vụ trao đổi và xuất
khẩu. Có thể nói cơ sở hạ tầng nông thôn là nhân tố quan trọng quyết định sự
tăng trưởng của ngành nông nghiệp và biến đổi kinh tế vùng nông thôn. Vậy
vấn đề đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là chiến lược quan trọng, cần
thiết, bức xúc trong giai đoạn hiện nay.
7.2 Sự cần thiết phải đầu tư và sử dụng vốn cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật
nông nghiệp nông thôn
Như đã phân tích ở trên, cơ sở hạ tầng đóng vai trò đặc biệt trong sự
nghiệp CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng và sự nghiệp CNH-
HĐH cả nước nói chung. Tuy nhiên có được cơ sở hạ tầng và làm sao để nó
phát huy hiệu qủa thì lại không phải là dễ dàng. Đầu tư là yếu tố quan trọng
có khả năng thúc đẩy nền kinh té phát triển chính vì vậy nhu cầu đầu tư trong
từng vùng, từng ngành càng trở nên cần thiết hơn và trở thành một nhu cầu
cấp bách nhất thiết phải được đáp ứng để phát triển ngành, phát triển vùng.
Thực tế hiện nay, vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn còn bị
hạn chế, nguồn vốn huy động để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ
21
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
sở hạ tầng nông thôn còn gặp nhiều khó khăn. Thực trạng cơ sở hạ tầng nông
thôn Việt Nam còn yếu kém, nghèo nàn lạc hậu, không có kinh phí để xây
dựng mới và bảo dưỡng tu sửa, cơ sở hạ tầng phát triển không đồng đều giữa
các vùng.
Với thực trạng trên, để thực hiện CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn
thì việc cung ứng vốn cho việc phát triển nông nghiệp nói chung và cho cơ sở
hạ tầng nông thôn nói riêng là vấn đề hàng đầu. Lượng vốn cung ứng này rất
Tây sang Đông dài 54 km, từ Bắc xuống Nam dài 49 km. Thái Bình ở trong
vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Hạ
Long và được bao bọc bởi hệ thống sông biển khép kín, có 5 cửa sông lớn
(Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân) có các sông lớn của miền Bắc như:
Sông Hồng 67 km, Sông Luộc 53 km, Sông Hoá 35 km, và phía Đông tiếp
giáp vịnh Bắc bộ với chiều dài bờ biển trên 49 km (Thái Thuỵ 21.5 km, Tiền
Hải 27.7 km) và tổng số chiều dài đê sông, đê biển là 366 km.
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, bức xạ mặt trời lớn, tạo nên nhiệt
độ cao. Nhiệt độ trung bình trong năm là 23 - 24
o
C, nhiệt độ thấp nhất ở 4
o
C
và cao nhất tới 38 - 39
o
C. Số giờ nắng trong năm từ 1600 - 1800 giờ. Lượng
mưa trung bình hàng năm 1500 - 1900 mm, cao nhất là 2528 mm thấp nhất là
1173mm. Có trận mưa trong vòng 1 - 2 ngày từ 300 - 500 mm nên công tác
phòng chống bão lụt được các cấp các ngành trong tỉnh hết sức quan tâm chỉ
đạo.
2. Địa hình và đất đai
Thái Bình có 105.5 ngàn ha đất nông - lâm nghiệp, thuỷ sản trong đó:
diện tích đất nông nghiệp 96.382 ha chiếm 62.67% so với tổng diện tích đất
tự nhiên, diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 6.652 ha và diện tích đất lâm
nghiệp 2259 ha.
23
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Vũ Tiến
Quỳnh
Quỳnh
sản xuất, mở rộng ngành nghề...Những chính sách và biện pháp trên đã góp
phần giải quyết việc làm và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân.
4. Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình 1991 - 2005.
Cơ cấu kinh tế và tình hình phát triển các ngành các lĩnh vực chủ yếu.
Từ năm 1991 - 2005 là thời kỳ tiếp tục phát huy hiệu quả của công cuộc đổi
mới được khởi xướng từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. cơ sở vật chất của
nền kinh tế của tỉnh được tăng cường và ngày càng hoàn thiện, nền kinh tế đã
đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao. Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh năm
2004 gấp hơn 2 lần năm 1998, bình quân hàng năm tăng 7%. Tuy nhiên, trong
giai đoạn này thì thời kỳ 1998 - 2002 có kết quả đạt được cao nhất, bình quân
hàng năm tăng10,25%, trong đó sc nông nghiệp tăng 5,8%, công nghiệp xây
dựng tăng 21%, các ngành dịch vụ tăng 22,8%.m Thời kỳ 2002 - 2006 với
nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện định hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá
nhưng lại có nhiều khó khăn mới xuât hiện như cuộc khủng hoảng kinh tế tài
chính trong khu vực, thị trường tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, sự mất ổn định ở
nông thôn kéo dài... Tình hình trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ này chỉ
đạt 4,5% hàng năm, trong đó sản xuất nông nghiệp tăng 2,6%, công nghiệp
xây dựng tăng 3,3%, và khu vực dịch vụ tăng 9,4%
Như vậy mặc dù có những khó khăn xuất hiện trong những năm gần
đây, nhưng nền kinh tế của tỉnh vẫn tăng trưởng liên tục dù mức độ có khác
nhau giữa các thời kỳ, giữa các ngành nghề...
- Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản: Tổng giá trị sản xuất
ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản năm 2004 đạt 3.893 tỷ đồng (giá so sánh
năm 1996) tăng 52,1%so với năm 1996. Giá trị tổng sản phẩm GDP của khu
vực này dự kiến đạt 2.677 tỷ đồng so với năm 1996 tăng 51,49%, bình quân
mỗi năm tăng 4,2%. Cả hai ngành trồng trọt và chăn nuôi đều có sự tăng
25
Khoa: Kinh Tế Nông Nghiệp & PTNT Lớp :Nông Nghiệp 44