Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ, hình vẽ
Mở đầu
Chương 1:Vai trò của làng nghề trong quá trình CNH-HĐH huyện Sóc Sơn.
1.1. Tổng quan về làng nghề.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của làng nghề.
1.1.1.1. Khái niệm.
1.1.1.2. Đặc điểm.
1.1.2. Phân loại làng nghề.
1.1.2.1. Làng nghề truyền thống (LNTT)
1.1.2.2. Làng nghề mới.
1.1.3. Một số tiêu chí xác định làng nghề.
1.2. Vai trò của LNTT trong quá trình CNH-HĐH nông thôn.
1.2.1. Khôi phục và phát triển LNTT đã thu hút nhân lực, tạo thêm nhiều việc
làm cho người lao động, thúc đẩy quá trình phân công lao động ở nông
thôn.
1.2.2. Khôi phục và phát triển LNTT đã thực sự tăng thu nhập cho lao động,
cải thiện đời sống dân cư nông thôn.
1.2.3. Sự phát triển của các LNTT đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn, góp phần tăng trưởng , tạo ra khối lượng hàng hoá
đa dạng, phong phú, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
1.2.4. Phát triển nghề truyền thống đã góp phần bảo tồn truyền thống văn hoá
dân tộc.
1.3. Kinh nghiệm phát triển LNTT ở một số nước.
1.3.1. Tình hình phát triển LNTT ở một số nước.
1.3.2. Kinh nghiệm rút ra từ tình hình phát triển LNTT ở một số nước.
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
tố sau:
Một là, đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta hoặc là
một nghề mới từ địa phương khác mang đến song được các nghệ nhân ở nơi
cũ truyền đạt lại kinh nghiệm và kỹ sảo kinh nghiệm.
Hai là, sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề.
Ba là, có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề.
Bốn là, kỹ thuật sản xuất tinh vi, chứa nhiều yếu tố kinh nghiệm từ đời
sang đời khác và công nghệ khá ổn định.
Năm là, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn hoặc chủ
yếu nhất. Nhìn chung nghề truyền thống được hình thành gắn liền với điều
kiện tự nhiên của vùng (đất đai, khí hậu, môi trường…) và như vậy nó gắn bó
với vùng nguyên liệu có tình đặc thù cho sản xuất.
3
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
Sáu là, sản phẩm sản xuất ra mang tính chất độc đáo vừa là hàng hoá,
vừa là sản phẩm văn hoá văn nghệ kỹ thuật mỹ thuật mang bản sắc văn hoá
dân tộc, có giá trị chất lượng cao và có vị trí cạnh tranh trên thị trường trong
nước và quốc tế.
Bảy là, là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng,
có đóng góp đáng kể về kinh tế và ngân sách nhà nước, dồng thời nó còn sử
dụng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn và lao dộng thành thị.
Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công, ở
đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ
thủ công cũng đồng thời là người làm nghề nông. Làng nghề là trung tâm sản
xuất ra hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên
làm nghề mang tính chất truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ nhau trong
sản xuất, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ và bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu
doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn có ý thức
mô sản xuất, hiện đại hoá trong thiết bị sản xuất, tìm và nghiên cứu thị
trường, tiêu thụ sản phẩm ở các làng nghề còn hạn chế.
Thứ năm, các loại sản phẩm thường có một số sản phẩm mang tính
nghệ thuật cao. Mặt khác, sản phẩm thường không phải do sản xuất hàng loạt
mà có tính đơn chiếc nên có tính độc đáo và khác biệt cao. Các sản phẩm của
làng nghề truyền thống là sự kết tinh, sự bảo lưu và phát triển của các giá trị
văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc.
1.1.2. Phân loại làng nghề.
Có rất nhiều tiêu chí có thể được sử dụng để phân loại làng nghề. Căn
cứ vào thời gian tồn tại và phát triển có thể chia làng nghề thành hai loại.
1.1.2.1. Làng nghề truyền thống (cổ truyền).
Làng nghề truyền thống (LNTT) hình thành do các nghệ nhân truyền
nghề. Những nghệ nhân này thường được suy tôn là tổ nghề. Các làng nghề
nổi tiếng nhất ở đồng bằng Bắc Bộ đều được hình thành như vậy và có tuổi
5
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
nghề rất cao, từ một vài trăm năm đến hàng nghìn năm. Lụa Hà Đông, với
làng dệt lụa Vạn Phúc lừng danh đã từng xuất hiện từ thế kỷ thứ 3 sau công
nguyên, do bà Lã Thị Nga - tổ nghề - truyền dạy cho dân làng. Tính đến nay
đã tồn tại và phát triển khoảng 1700 năm. Làng Gốm Bát Tràng có lịch sử
hình thành, phát triển đã 500 năm nay.
LNTT ra đời và phát triển nhằm đáp ứng một nhu cầu của xã hội. Ví dụ
như ở Thăng Long có làng nghề Nghĩa Đô chuyên làm giấy sắc rồng vì các
triều vua có nhu cầu viết giấy chiếu sắc, hay La Khê có nghề dệt the phục vụ
cho nhu cầu may mặc.
Ngày nay, sự biến động của thị trường có tác động mạnh mẽ tới các
làng nghề, các LNTT phát triển theo các xu thế:
Nhóm các làng nghề dần bị mai một do sản phẩm không đáp ứng
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản
xuất cho ai, đều do thị trường quyết định. Hay nói cách khác, là sản xuất và
bán cái mà người ta cần chứ không phải sản xuất và bán cái mà mình có.Vậy
cái chính ở đây là sản phẩm của làng nghề phải đáp ứng được nhu cầu của thị
trường về kiểu dáng, chất lượng, giá cả thì mới có cơ hội phát triển được.
1.1.2.2. Làng nghê mới.
Làng nghề mới được hình thành bằng nhiều con đường, nhưng chủ yếu
do sức ép về kinh tế, đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự hình thành làng
nghề mới ra đời. Các làng nghề mới thường có vị trí địa lý, nằm ở nơi có đất
chật, người đông, chất đất hoặc khí hậu không phù hợp nên nghề nông khó có
điều kiện phát triển, không đảm bảo thu nhập cho người nông dân. Với tốc độ
đô thị hoá như hiện nay, các làng nghề ven đô, làng ven thị trường bị mất đất
sản xuất để xây dựng các khu đô thị, nhà máy, xí nghiệp, đường giao thông và
các công trình khác. Cần phải tạo ra công ăn việc làm cho những người nông
dân bị thất nghiệp này để họ ổn định cuộc sống và không trở thành gánh nặng
7
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
cho xã hội. Nghề thủ công truyền thống (TCTT) là một trong những lựa chọn
phù hợp nhất vì nghề này có nhiều công đoạn cần sử dụng nhiều lao động,
thời gian đào tạo để biết làm nghề về cơ bản là ngắn và thích hợp với mọi đối
tượng, mọi lứa tuổi lao động. Mặt khác, đặc điểm của nghề nông là sau khi
trồng trọt, chăm bón cần một khoảng thời gian cho cây hấp thụ tăng trưởng,
đó chính là những lúc người nông dân rỗi rãi, nông nhàn. Tận dụng thời gian
này để làm nghề thủ công tăng thu nhập thì thật là thích hợp. Các con đường
hình thành nghề mới:
Một số làng nghề hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một số
LNTT, tạo thành một số làng nghề ở vùng lân cận LNTT.
Một số làng nghề gần dây mới hình thành một cách có chủ ý do chủ
những thành tố cơ bản để liên kết bên trong ở các làng nghề, đồng thời dựa
vào đặc điểm các làng nghề CN-TTCN, cho phép chúng ta nhận thấy rằng
trong các làng nghề gồm sáu thành tố gắn kết chặt chẽ với nhau để tạo thành
những tiềm năng vững chắc cho sự phát triển mỗi làng nghề.
Một là, biên độ dao động số hộ làm nghề TTCN các làng nghề trên
chiếm 60%-80% số hộ trong làng.
Hai là, biên độ dao động số hộ làm một nghề chính ở làng chiếm từ
65%-90% so với tổng số hộ làm nghề TTCN. Tên của làng nghề được gọi
bằng chính tên của nghề chính đó.
Ba là, có ý kiến cho rằng cần xem xét tỷ trọng giá trị doanh thu của
TTCN trong tổng doanh thu của làng trong năm, coi đó là một tiêu chuẩn xem
xét công nhận một làng nghề. Thực tiễn cho thấy, xác định tỷ trọng TTCN ở
làng trong tổng giá trị kinhh tế trong một năm là rất khó, bởi lẽ sản phẩm của
làng nghề luôn luôn biến động theo mùa vụ, những con số đưa ra chỉ là ước
tính.
Bốn là, ở những LNTT, những người cùng làm nghề có mối quan hệ
gắn kết chặt chẽ với nhau trong tình cảm cộng đồng, làng xóm. Một số làng
9
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
xã đã tổ chức ra hội ngành nghề giữ vai trò liên kết những người làm nghề
dịch vụ liên quan đến nghề, làng nghề. Đồng thời quy tụ những người cùng
nghề, tổ chức sinh hoạt văn hoá nghề ở nhà thờ tổ, hoặc đình làng, đền.
Năm là, thực tiễn cho thấy ở các làng nghề, quá trình lao động, làm ra
sản phẩm, lực lượng lao động đã tự phân công thành các lớp thợ với trình độ
tay nghề khác nhau. Lớp thợ giỏi được người thợ tôn vinh là thợ cả, có nơi
tôn vinh là nghệ nhân. Dưới thời bao cấp, nhà nước đã phong tặng một số các
nghệ nhân danh hiệu “bàn tay vàng”. Số thợ giỏi của các làng nghề chiếm từ
5%-20% lao động chính. Số thợ cả, nghệ nhân ở các làng nghề đóng vai trò
để các cấp chính quyền căn cứ vào đó lập hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền
công nhận danh hiệu làng nghề.
Về tiêu chí nghề truyền thống, LNTT thì cho đến nay chưa có những
tiêu chí được quy định một cách chính thức để xác định thế nào là nghề
truyền thống, LNTT, song cách hiểu phổ biến hiện nay là:
Nghề truyền thống: bao gồm những nghề tiểu thủ công có từ trước
thời Pháp thuộc, còn đến nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử
dụng máy móc hiện đại trong sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền
thống.
LNTT: là những làng có 50 hộ hoặc có từ 1/3 số hộ hoặc lao động
cùng làm một nghề truyền thống.
Xã nghề truyền thống: là một xã mà ở đó không chỉ có một làng mà
có nhiều làng cùng làm một nghề truyền thống.
Phố nghề truyền thống: là những LNTT được đô thị hoá hoặc do
nhiều lao động từ LNTT ra đô thị lập nghiệp tập trung lại thành phố nghề. Xã
nghề truyền thống, phố nghề truyền thống thường được gọi chung là LNTT.
11
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
LNTT là một vấn đề lớn, cần nghiên cứu để có các chủ trương, chính
sách thích hợp, thúc đẩy hình thành các làng nghề phù hợp với tính chất của
ngành nghề thủ công và tập quán của nhân dân ta.
Từ những phân tích ở trên có thể hiểu rằng, ngành nghề truyền thống là
những ngành nghề TTCN đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế
của nước ta còn tồn tại đến ngày nay. Bao gồm cả ngành nghề mà phương
pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ
sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống.
Do sự phát triển của khoa học công nghệ nên nhiều sản phẩm mới ra
đời ưu thế hơn những sản phẩm truyền thống. Vì thế mà ngành nghề truyền
nông thôn.
Giải quyết việc làm cho lao động là vấn đề bức xúc số một hiện nay,
bởi dân số và lao động gia tăng nhanh, diện tích đất canh tác trên đầu người
thấp và ngày càng thu hẹp, khả năng thu hút lao động hiện rất thấp, tỷ lệ thất
nghiệp và bán thất nghiệp cao.
Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở
nông thôn.
Đơn vị : %
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tỷ lệ thất nghiệp ở
thành thị
6.4 6.3 6 5.8 5.6 5.3
Tỷ lệ sử dụng thời gian
lao động ở nông thôn
74.2 74.3 75.3 77.7 79.4 80.6
Nguồn: TCTK.
Trong thời gian qua, ngoài kết quả tích cực nổi bật về mặt sử dụng số
lượng lao động ở thành thị: tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ
tuổi khu vực thành thị đã liên tục giảm xuống thì chúng ta đã đạt được một số
kết quả tích cực khác về mặt sử dụng số lượng lao động và tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động trong tuổi lao động ở nông thôn đã liên tục tăng lên.
13
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
Kết quả này càng có ý nghĩa khi đạt được trong điều kiện dân số và số
người đến tuổi lao động thời gian qua vẫn còn rất lớn. Mặc dù tốc độ tăng dân
số giảm từ 1.86% năm 1991 xuống còn 1.65% năm 1995, còn 1.36% (2000),
1.33% (2005), nhưng quy mô dân số năm 2005 đã lên tới 83.127 nghìn người,
tăng 15.879,3 nghìn người so với năm 1991. Bình quân một năm tăng 1.058,6
Như vậy, với sự phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn, thu
nhập của người dân ngày càng được nâng cao từ sản xuất hàng hoá phi nông
nghiệp thu hút một bộ phận lớn nông dân chuyển hẳn sang hoạt động ngành
nghề phi nông nghiệp theo phương châm “ly nông bất ly hương”. Và cũng có
tác động lớn trong việc tạo việc làm cho nông dân vào các tháng nông nhàn.
Điều này có tác động lớn hạn chế dòng người ồ ạt tự phát kéo ra các thành
phố, thị xã gây ra hậu quả khó lường.
1.2.2. Khôi phục và phát triển LNTT đã thực sự tăng thu nhập cho người lao
động, cải thiện đời sống dân cư nông thôn.
Ở những địa phương, ngành nghê truyền thống được mở mang cùng
với sự chuyển dịch rõ rệt về cơ cấu lao động, và từ kinh tế hộ thu nhập của
các hộ nông dân cũng đang có những chuyển biến tích cực theo hướng: thu
nhập từ hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và tiền công làm thuê ngày càng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập trong tổng thu nhập từ hoạt động kinh
tế nói chung củ hộ nông đân. Đặc biệt là những nơi biết khai thác các tiềm
năng và thế mạnh về ngành nghề truyền thống về đội ngũ nghệ nhân, thợ
lành nghề; nắm bắt được nhu cầu thị trường , có khả năng tiếp thị và liên
doanh, liên kết để mở rộng thị trường thì sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo
hướng CNH rõ nét. Các hoạt động ngành nghề thực sự đã được xem như động
lực của sự tăng trưởng, tạo việc làm mới, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá
tinh thần cho bản thân người lao động cũng như mỗi gia đìnhvà cả cộng đồng.
15
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
Mặc dù ngành nghề nông thôn còn đang gặp nhiều khó khăn trên con
đường phát triển nhưng qua kết quả và bước đầu đã đạt được ở không ít
những địa phương, người nông dân nông thôn đã hiểu rằng: nếu chỉ làm thuần
nông, độc canh cây lúa thì giỏi nhất cũng chỉ đủ ăn, còn muốn làm giàu lên thì
phải kết hợp hoặc chuyển hẳn sang các hoạt động ngành nghề phi nông
Đơn vị: %
Năm
Tỷ trọng
1993 1997 1998 2000 2003 2005
NN 29.69 25.77 25.98 24.3 22.5 20.9
CN-XD 28.63 32.07 32.7 36.6 39.5 41
DV 42.28 42.15 41.32 39.1 38 38.1
Nguồn: TCTK.
Cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam năm 2005 chỉ tương đương với cơ
cấu ngành kinh tế của những nước trong khu vực Đông Nam Á vào những
năm 80 của thế kỷ trước và hiện vẫn lạc hậu hơn cơ cấu kinh tế của những
nước này.
Bảng 3: Số lao động và cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế.
2000 2001 2002 2003 2004 2005
1. Tổng số lao
động (nghìn người)
37609.
6
38562.
7
39507.
7
40573.
8 41590 42710
NN-LN-TS 24481
24468.
4
24455.
8
24443.
nghiệp phi tập trung, làm tiền đề để xây dựng công nghiệp lớn, hiện đại, là
bước trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công
nghiệp lớn, hiện đại, đô thị hoá. Làng nghề sẽ là điểm thực hiện tốt phân công
lao động tại chỗ, là nơi tạo ra sự kết hợp nông-công nghiệp có hiệu quả. Sự
phát triển của các làng nghề là một trong những hướng rất quan trọng để thực
hiện việc chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới theo
hướng CNH-HĐH.
Tỷ trọng GDP của CN-TTCN, DV tăng lên trong tổng GDP được tạo
ra ở nông thôn. Tỷ trọng nông nghiệp giảm trong khi sản lượng lương thực
vẫn tăng lên. Thu nhập của các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng thu nhập từ hoạt động kinh tế của người dân nông thôn.
Trên cơ sở tạo thêm được việc làm, tăng thu nhập các hoạt động ngành
nghề được coi như là một động lực trực tiếp làm chuyển dịch cơ cấu KT-XH
18
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
nông thôn theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, xoá hộ đói, nâng cao
phúc lợi và ổn định xã hội.
Hiện nay, sản phẩm của ngành nghề nông thôn đang có triển vọng phát
triển rất rộng lớn:
- Thị trường trong nước với 83.1217 triệu dân (2005) tiếp tục là thị trường
quan trọng nhất của công nghiệp nông thôn. Nhiều sản phẩm tiêu thụ tại chỗ
(vật liệu xây dựng, công cụ cầm tay phục vụ sản xuất nông nghiệp, một số
sản phẩm chế biến lương thực, thực phẩm, hàng gia dụng). Nhiều sản phẩm
có nhu cầu ngày càng tăng trong sự tăng trưởng kinh tế va đời sống nhân dân
được nâng cao.
- Thị trường du lịch có tiềm năng lớn đối với ngành nghề thủ công nghiệp. Số
khách nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng, số người Việt Nam đi du lịch
trong nước và nước ngoài cũng tăng nhanh, do đó sản phẩm quà lưu niệm của công
đậm của dân tộc Việt Nam. Lịch sử nông thôn Việt Nam đã ghi nhận, sự hình
thành và phát triển của các LNTT là một trong những thành tố quan trọng tạo
nên những nét đặc sắc của văn hoá làng. Mỗi làng nghề đều thờ cúng một
thành hoàng làng, hoặc một ông tổ nghề riêng, với những lễ hội, phong tục,
tập quán và những luật lệ riêng. Có nhiều nghề, LNTT ở nước ta đã nổi bật
lên trong lịch sử văn hoá, văn minh Việt Nam.
Nhiều sản phẩm của các làng nghề sản xuất ra mang tính nghệ thuật
cao, mang tính riêng có của làng nghề, và những sản phẩm đó đã vượt qua giá
trị hàng hoá đơn thuần, trở thành sản phẩm văn hoá, là những bảo vật được
coi là biểu tượng đẹp đẽ của truyền thống dân tộc Việt Nam. Ngành nghề
truyền thống, đặc biệt là các nghề thủ công mỹ nghệ, chính là di sản quý giá
mà ông cha ta đã tạo lập và để lại cho các thế hệ sau. Làng nghề là cả một môi
trường kinh tế, xã hội, văn hoá. Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ
thuật truyền từ đời này sang đời khác, hun đúc ở các thế hệ nghệ nhân tài ba
và những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng. Nhiều người nước ngoài biết
đến Việt Nam thông qua những mặt hàng TCTT đặc sắc. Bởi vậy, bảo tồn và
phát triển các làng nghề góp phần đắc lực vào việc giữ gìn các giá trị văn hoá
của dân tộc Việt Nam trong quá trình CNH-HĐH.
20
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
LNTT là một cụm dân cư sinh sống tạo thành làng quê hay phường
hội. Đó chính là cộng đồng nhỏ về văn hoá. Những phong tục, tập quán, đền
thờ, miếu mạo,., của mỗi làng, xã vừa có nét chung của văn hoá dân tộc Việt
Nam, vừa có nét riêng của mỗi làng quê, làng nghề. Các sản phẩm của LNTT
làm ra là sự kết tinh, sự giao lưu giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc.
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm nét văn hoá dân tộc thể hiện khá đậm
nét qua các bức hoạ điêu khắc trạm trổ. Những sản phẩm đó làm cho sản
phẩm làng nghề vừa mang nét đặc sắc riêng biệt, vừa mang những nét tương
đá quý, đồ trang sức được duy trì và phát triển. Kim ngạch xuất khẩu sản
phẩm mỹ nghệ, vàng bạc, đá quý năm 1990 đạt gần 2 tỷ USD. Nghề gốm cổ
truyền những năm gần đây phát triển, sản phẩm có chất lượng cao, cạnh tranh
trên thị trường thế giới và trở thành mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ lớn.
Vùng gốm Chiềng Mai được xây dựng thành trung tâm quốc gia với ba mặt
hàng truyền thống: gốm công nghiệp, gốm mới được sản xuất trong 2 xí
nghiệp chính và 72 xí nghiệp lân cận. Để nâng cao chất lượng sản phẩm,
chính phủ Thái Lan đã tích cực xúc tiến các chương trình nâng cao tay nghề
cho công nhân của 93 xí nghiệp, Gốm Chiềng Mai và Lam Dang. Bên cạnh
đó, nghề kim hoàn, chế tác ngọc,, chế tác đồ gỗ tiếp tục được phát triển, tạo
việc làm và nâng cao thu nhập cho dân cư nông thôn. Từ kế hoạch 5 năm lần
thứ IV (1977-1981), chính phủ Thái Lan đã chuyển chính sách CNH tập trung
sang thực hiện chính sách phân tán hoá không gian công nghiệp, chú trọng
phát triển công nghiệp nông thôn. Vì vậy, ở Thái Lan có rất nhiều xí nghiệp
gia công sản xuất đã được xây dựng ở nông thôn. Ngoài ra, chính phủ còn
khuyến khích các doanh nghiệp ở thành phố và nông thôn xây dựng xí nghiệp,
nhất là xí nghiệp gia công nông sản phẩm và thủ công nghiệp. Nhờ vậy, sản
phẩm xuất khẩu của Thái Lan được mở rộng (ngoài các mặt hàng xuất khẩu
truyền thống như gạo, ngô, cao su, đường, ở nông thôn còn có thêm mặt hàng
22
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
xuất khẩu mới như hải sản đông lạnh, gia cầm, hoa quả tươi, chế biến rau
xanh…).
Bên cạnh đó, Thái Lan còn có phong trào “one Tambon, one product”
hay còn gọi là “Thai Tambon project” (tiếng Thái “Tambon” nghĩa là làng).
Đây được gọi là mỗi làng một sản phẩm, được phát động sau khi thủ tướng
Thái Lan đi thăm cửa hàng “one village, one product” tại Nhật Bản. Chương
trình này được giới thiệu tại Thái Lan vào năm 1999, chính thức đi vào hoạt
Trong bối cảnh đó, Nghị viện Nhật Bản năm 1974 đã ban hành Luật
phát triển nghề TCTT. Được sự hỗ trợ của chính phủ, phong trào “mỗi làng
một sản phẩm” được khai sinh tại quận Oita vào năm 1979 với ý tưởng làm
sống lại các ngành nghề TCTT. Có hai khẩu hiệu nổi tiếng là “Nghĩ về tổng
thể, hành động ở địa phương”, và “Độc lập sáng tạo”. Nhờ phong trào, một số
sản phẩm truyền thống của Oita trở thành nổi tiếng không chỉ ở Nhật Bản,
mà còn trên thị trường nhiều nước.
Từ thành công của quận Oita, sau 5 năm phát động cả nước Nhật đã có
20 quận hưởng ứng các dự án tương tự như “sản phẩm của làng”, “chương
trình phát triển thành phố quê hương”, “chương trình làm sống lại địa
phương”…Tinh thần của phong trào này đã hấp dẫn nhiều nước trong khu
vực và trên thế giới.
1.3.2. Kinh nghiệm rút ra từ tình hình phát triển ngành nghề, LNTT ở một số
nước.
Từ thực tiễn phát triển ngành nghề, LNTT ở một số nước trên, chúng ta
có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, phát triển làng nghề, ngành nghề truyền thống gắn với quá trình
CNH nông thôn.
Trong quá trình CNH, đô thị hoá, thương mại hoá ở các nước đã có lúc
làm cho nét độc đáo, tinh xảo của các làng nghề bị phai nhạt, lu mờ. Nhưng
với cách nhìn nhận mới, các nước đã chú trọng và coi làng làng nghề là một
24
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn
(
: 6.280.688
bộ phận của quá trình CNH nông thôn. Do vậy, khi tiến hành CNH họ thường
kết hợp thủ công với kỹ thuật cơ khí hiện đại tuỳ điều kiận cơ sở vật chất của
mỗi nước mà áp dụng công nghệ cổ truyền hay công nghệ hiện đại. Đồng thời
tổ chức các cơ sở sản xuất gần vùng nguyên liệu và đặt tại làng xã có truyền
thống để tiện cho việc phát triển sản xuất, giao lưu hàng hoá.