LUẬN VĂN: Tỷ giá hối đoái và việc áp dụng chế độ tỷ giá ở Việt Nam pot - Pdf 11



LUẬN VĂN:
Tỷ giá hối đoái và việc áp dụng chế
độ tỷ giá ở Việt Nam lời nói đầu

Xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra một cách sâu sắc, toàn diện
trên phạm vi toàn thế giới. Nó là quy luật khách quan mà Việt Nam cần sớm nắm bắt và
vận dụng. Việc tham gia vào nền kinh tế khu vực và thế giơi sẽ mở ra cho chúng ta
nhiều cơ hội đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đòi hỏi phải có những
chính sách phù hợp. Một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập kinh
tế là ngoại thương. Nhân tố quyết định tới sự thành công hay thất bại của chính sách
kinh tế đối ngoại phải kể đến vai trò quan trọng của chế độ tỷ giá hối đoái của mỗi quốc

vấn đề mang tính chất sống còn đối với mỗi quốc gia và là mối quan tâm hàng đầu của
mọi tổ chức kinh tế trên thế giới. Các quan hệ thương mại , tín dụng , đầu tư, khoa học
kỹ thuật đều có giá cả , biểu hiện bằng những đồng tiền khác nhau của những nước
khác nhau. Do hệ thống tiền tệ và chính sách giá cả mỗi nước một khác, nên việc thanh
toán giữa các nước đòi hỏi phải so sánh giá trị , sức mua của các đồng tiền khác nhau,
và thanh toán với nhau không theo giá cả của từng nước mà theo giá cả quốc tế( còn gọi
là giá ngoại thương). Từ đó xuất hiện khái niệm tỷ giá hối đoái.
Như vậy : Tỷ giá hối đoái theo cách hiểu thông thường là sự so sánh giá trị giữa
đơn vị tiền tệ khác nhau của các nước có quan hệ với nhau.Hay nói cách khác : Tỷ giá
hối đoái là giá chuyển đổi từ một đơn vị tiền tệ nước này sang thành những đơn vị tiền
tệ nước khác.
Ví dụ, trên thị trường hối đoái Việt Nam ngày30/06/2000 là 14087 VND/USD
thì đó là tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam so với đô la Mỹ. Trên phương diện kinh tế, tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế vốn có cuả nền
sản xuất hàng hoá, nó cho thấy sức mua đối ngoại thực tế của một đồng tiền trên thị
trường quốc tế.
Tuy nhiên, không phải đồng tiền quốc gia nào cũng được nhận để thanh toán
bên ngoài quê hương của nó. Để chuyển đổi ra nội tệ của nước nào đó, nó phải được
ngân hàng nước đó thu mua. Trên thế giới hiện nay có một số ngoại tệ mạnh được sử
dụng rộng rãi, phổ biến như: USD(Mỹ), JPY(Nhật), Bảng (Anh)

II.Lịch sử hình thành và phát triển của tỷ giá hối đoái.

1. Thời kỳ lưu thông tiền vàng và tiền đúc :
Từ trước công nguyên, sau cuộc phân công lao động xã hội lần thứ 2, vàng và
bạc đúc thành thỏi đã trở thành đồng tiền ngự trị các loại tiền khác như : ốc , vỏ sò , da
thú và dần chiếm vị trí độc tôn trên thị trường hàng hoá tiền tệ.Tuy nhiên do việc dùng
vàng thỏi tính theo trọng lượng đã gây rất nhiều khó khăn cho trao đổi , nên tiền đúc đã

nghèo thì tiền dấu hiệu tràn lan và họ cũng không có khả năng đúc vàng vì lượng vàng
dự trữ đã cạn kiệt. Để đối phó với tình hình này, chính phủ ở các nước nghèo đã ngăn
cấm việc xuất khẩu vàng tự do.Như vậy, trong quan hệ giữa các nước chế độ bảo vệ
mậu dịch tự do đã thay thế cho chế độ mậu dịch tự do,vàng không còn được lưu thông
giữa các nước- chế độ bản vị vàng bắt đầu tan giã vào đầu chiến tranh thế giới thứ nhất.
Đến năm 1924, nước Anh chuyển chế độ bản vị vàng sang chế độ giấy bạc ngân
hàng được chuyển đổi ra vàng không đầy đủ: Không lưu hành tiền đúc bằng vàng, tiền
giấy chỉ được đổi lấy vàng thoi( chế độ bản vị vàng thoi- mỗi thoi nặng 12,444kg vàng
). Khi đó bảng Anh (GBP) là loại ngoại tệ mạnh chủ chốt trong thanh toán quốc tế, dự
trữ quốc tế. Tiền giấy của các nước tuy không đổi được lấy vàng nhưng có thể đổi lấy bảng Anh. Chế độ tiền tệ thông qua ngoại tệ mạnh đổi lấy vàng gọi là chế độ bản vị
vàng hối đoái ( ở đây là chế độ bản vị bảng Anh). Trong chế độ này bảng Anh được tự
do chuyển đổi ra vàng:
1700 GBP = 400 ounce = 12,444 kg vàng.
Khi bảng Anh sụp đổ thì cuộc săn vàng lại di chuyển ồ ạt sang Mỹ. USD là loại
ngoại tệ mạnh thứ hai trên thế giới lúc bấy giờ. Chính phủ Mỹ vì không muốn dự trữ
vàng cạn kiệt nên đầu năm 1934 phải tuyên bố đình chỉ đổi USD ra vàng ở trong nước.
Như vậy, từ năm 1934, tạm thời không còn đồng tiền nào có thể đổi ra vàng
được nữa. Một lần nữa tiền vàng lại rút khỏi lưu thông và thay thế bằng tiền dấu hiệu.
3. Chế độ tỷ giá cố định - chế độ bản vị USD:
Đến năm 1944, tại hội nghị Bretton Woods, quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ra đời, với
điều lệ đầu tiên là xây dựng tỷ giá cố định cho mỗi đồng tiền. Theo chế độ này, các
nước phải quy định hàm lượng vàng riêng cho đồng tiền của mình và so sánh với hàm
lượng vàng của USD (1 USD = 0,88867 gr vàng nguyên chất ) để có một tỷ giá chính
thức. Biên độ giao động của tỷ giá không được vượt quá 1% của tỷ giá chính thức đã
được đăng ký tại IMF. Nếu vượt quá biên độ này thì ngân hàng TW phải can thiệp bằng
cách mua vào hoặc bán ra một lượng USD nhất định nhằm bảo vệ tỷ giá chính thức với
USD. Thông qua tiền tệ sẽ được đổi ra vàng theo giá: 35 USD = 1 ounce vàng. Như vậy


Từ năm 1970, các nước tư bản hội viên của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã thành
lập một cơ chế tiền tệ – tín dụng mới để điều tiết cán cân thanh toán quốc tế mà không
cần đến dự trữ vàng hoặc ngoại hối.
SDR không phải là tiền, nên không có nội dung vật chất, hình dáng, mầu sắc cụ
thể, mà nó chỉ là một đơn vị thanh toán ghi sổ (chuyển khoản) trên danh nghĩa có nội
dung vàng là 0.888671 gr vàng nguyên chất (bằng 1 USD trước đây). IMF mở sổ riêng
cho từng nước để theo dõi việc phân phối SDR. Chỉ có những nước bị thiếu hụt trong cán cân thanh toán giữa các nước hội viên của IMF mới được vay để trả nợ. Có thể nói
đây là tiền ghi sổ của IMF.
Các nước tư bản, thông qua quỹ tiền tệ quốc tế, trong nhiều năm đã cố gắng thực
hiện cuộc cải cách tiền tệ quốc tế trên tinh thần học thuyết phi tiền tệ hoá vàng, tức loại
bỏ chức năng làm tiền tệ quốc tế của vàng, xây dựng cho được một đồng tiền làm bản vị
cho các quốc gia trên thế giới, thay thế cho USD làm chức năng thước đo giá trị,
phương tiện chi trả và dự trữ quốc tế, xoá bỏ chế độ công bố nội dung vàng của các
đòng tiền quốc gia. SDR là loại vàng giấy thay cho kim loại vàng do IMF phát hành .
Các nước phương tây muốn nâng vai trò của vàng lên nhằm mục đích loại bỏ
USD ra khỏi vị trí một đồng tiền chủ đạo thao túng các đồng tiền khác trong hệ thống
tiền tệ. Như vậy, trong cuộc tranh chấp trên, nhiễm nhiên SDR được cả Mỹ và Tây Âu
đưa lên làm phương tiện thanh toán và dự trữ quốc gia, làm thước đo già trị của các
đồng tiền khác. Chế độ tiền tệ mới ra đời – chế độ bản vị SDR. Nội dung SDR ngày nay
đã được thay đổi, không còn nội dung vàng nữa, mà được tính bằng 16 đồng tiền mạnh
nhất thế giới. Hiện nay là 5 đồng tiền mạnh của 5 quốc gia có tiềm lực về kinh tế tài
chính.
Kể từ khi thực hiên chế độ này, hàm lượng vàng chứa đựng trong mỗi đồng tiền
đã mất dần đi ý nghĩa kinh tế của nó. Việc xác định tỷ giá không dựa vào ngang giá
vàng như trước đây mà hoàn toàn thả nổi theo quan hệ cung cầu về ngoại hối trên thị
trường. Qua đó việc xác định tỷ giá được hợp lí hơn, chính xác hơn. Thông qua việc xác

kết quả các hoạt động kinh tế đối ngoại của các nước trọng một thời kì nhất định. Vì
thế, thông qua việc biểu hiện tương quan giá trị các đồng tiền của các nước với nhau mà
tỷ giá hối đoái có một vai trò quan trọng đối với quá trình trao đổi ngang giá và cùng
với nhiều nhân tố khác, tỷ giá hối đoái tác động tương quan giữa giá cả hàng hoá xuất
nhập khẩu cũng như khả năng cạnh tranh của hàng hoá các nước.
Trong trường hợp đồng bản tệ xuống giá- Tỷ giá của đồng bản tệ tăng so với
đồng ngoại tệ. Giả dụ đầu năm 1USD = 11.000 VNĐ cuối năm 1USD = 13.000 VNĐ, tức là một đơn vị ngoại tệ đổi được nhiều đơn vị bản tệ hơn trước. Để thu được một
lượng ngoại tệ như đầu năm, vào cuối năm nhà xuất khẩu đầu tư nước ngoài khi bán
hàng vào Việt nam buộc phải tăng giá (Tính theo VNĐ). Bởi nếu nhà sản xuất xuất
khẩu không tăng giá thì họ sẽ bị thiệt thậm chí lỗ.
Trong khi đó, việc đồng bản tệ xuống giá lại có xu hướng kích thích tăng cường
khối lượng đẩu tư xuất khẩu. Bởi vì : cũng là một lượng ngoại tệ thu được do xuất khẩu
có thể đổi được nhiều bản tệ hơn. Do vậy, nhà xuất khẩu khi thấy tỉ giá của đồng bản tệ
tăng so với đồng ngoại tệ có thể bán hàng ra nước ngoài với gía rẻ hơn vẫn thu được
một khoảng lợi nhuận như trước. (Tính theo đồng bản tệ)
Tình hình sẽ hoàn toàn ngược lại khi đồng bản tệ lên giá-Tỷ giá của đồng bản tệ
giảm so với đồng ngoại tệ.
Như vậy, tỷ giá hối đoái có thể điều các hoạt động xuất nhập khẩu về tỷ trọng,
khối lượng và cơ cấu mặt hàng……
Ngoài khả năng điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái còn tác động
trực tiếp đến các hoạt động kinh tế đối ngoại khác.
Trong quan hệ vay nợ quốc tế, khi đồng bản tệ của nước đi vay mất giá, các
khoản nợ thực tế của của đồng bản tệ giảm xuống, nhưng gáng nặng nợ nước ngoài tăng
lên. Chính vì vậy chúng ta vay nợ nước ngoài với tỷ giá 900đ/1USD mà hiên nay là
15.000đ/1USD .
Ngoài ra tỷ giá hối đoái còn ảnh hưởng đến dòng vốn tiền tệ từ những hoạt động
mang tính chất phi mậu dich như : Du lịch, kiều hối …

quản lý.
Việc áp dụng chế độ tỷ giá nào của mỗi quốc gia phụ thuộc vào :
 Trình độ phát triển kinh tế.
 Tính chất tham gia hợp tác quốc tế.
 Mức độ mở cửa kinh tế.  Tốc độ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp.
Trong thực tế, dù áp dụng chế độ tỷ giá nào, đều có những điểm tích cực và hạn
chế của chúng. Điều nay đẫ được Samuelson mô tả như sau “Chế độ tỷ giá cố định cung
cấp cho ta một cái neo, nhưng con tàu bỏ neo nhiều khi lại nguy hiểm hơn con tàu đang
đi và nếu để các đồng tiền theo giá cả thị trường tự do thì chúng ta lang thang, quanh
quẩn như vị thuỷ thủ say khướt”.

IV.1. Chế độ tỷ giá cố định.

Một điều không thể không thừa nhận rằng trong lịch sử tài chính quốc tế, chế độ
tỷ giá cố định đã từng đóng một vai trò quan trọng. Có thể nói, sau chiến tranh thế giới
thứ II, Châu Âu bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế bị kiệt quệ và đình đốn. Trong thời gian
chưa đầy một thập kỷ, các nước Châu Âu đã hồi phục được nền kinh tế của mình và
đang trên đà phát triển với tốc độ kinh tế ngày càng cao. Một trong những nhân tố quan
trọng giúp các nước này và thế giới tư bản nói chung phục hồi và thịnh vượng là nhờ
vào việc áp dụng chế độ tỷ giá cố định trên phạm vi quốc tế trong một thời gian dài, mà
những nguyên tắc của nó được thể hiên trong hiệp ước Bretton Woods.
Những ưu điểm của tỷ giá cố định là :
Tỷ giá giữa các đồng tiền được ấn định cố định , không thay đổi cho nên đã
khuyến khích được thương mại quốc tế phát triển, phát huy được lợi thế so sánh của
mỗi quốc gia trong ngoại thương, thúc đẩy quá tình phân công lao động quốc tế tăng
năng suất lao động, giảm thất nghiệp và ổn định giá cả .
Tỷ giá cố định đã khuyến khích được sự chung chuyển tư bản giữa các quốc

Chế độ thả nổi có quản lý là chế độ mà về nguyên tắc, việc hình thành tỷ giá hối
đoái cũng do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định, nhưng không phải hoàn toàn. Trong những trường hợp cần thiết chính phủ sẽ có những biên pháp can thiệp để dữ
vững sức mua của đồng tiền trong nước.
Chế độ tỷ giá thả nổi đã được sử dụng hơn 20 năm nay cho ta thấy những ưu
điểm và hạn chế sau:
Ưu điểm:
Chế độ tỷ giá này được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị
trường ngoại hối, các quan hệ này thường xuyên biến động theo nhiều nhân tố kinh tế.
Do đó tỷ giá luôn luôn linh họat.
Hạn chế:
Tính không ổn định là dặc trưng cơ bản của chế độ tỷ giá thả nổi. Mặc dù có một
số quan điểm ủng hộ cho chế độ tỷ giá này và cho rằng biến động của tỷ giá chỉ ở trong
một giới hạn nhất định, phản ánh mức độ khác nhau trong lạm phát giữa các quỗc gia và
coi đó như là một công cụ bù trừ trong điều chỉnh những thay đổi thực tế của các yếu tố
kinh tế. Trong thực tế, tính không ổn định của chế độ thả nổi tỷ giá thể hiên ở chỗ : tỷ
giá biến động một cách thường xuyên, không thể dự đoán được chiều hướng tăng hay
giảm của nó trong thời gian tới. Không ổn định về tỷ giá sẽ dẫn tới không ổn định về thị
trường ngoại tệ và thị trường hàng hoá.
Chế độ thả nổi là một trong những nguyên nhân làm tăng tốc độ lạm phát. Thực
tế đã chứng minh được rằng việc áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi đã gây ra lạm phát ở hầu
hết các quỗc gia, với tốc độ ngày càng cao. Tỷ giá của một đồng tiền giảm xuống đã trở
thành nguyên nhân lạm phát trong nền kinh tế, do giá cả hàng hoá nhập khẩu tăng lên.
Vì vậy, chế độ tỷ giá thả nổi trong một số trường hợp không những không kiềm chế
được lạm phát mà còn làm cho lạm phát diễn ra ngày càng nhanh hơn.
Qua việc phân tích hoạt động của các chế độ tỷ giá và phân tích hạn chế của
chúng, chúng ta thấy rằng: Để ổn định (đối nội và đối ngoại) và phát triển kinh tế mỗi
quốc gia, thì ổn định tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng, ổn định không có nghĩa là


nhu cầu về ngoại tệ, từ đó làm cho tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ
tăng lên hay giảm đi.
Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước cũng ảnh hưởng rất lớn tới tỷ giá hối đoái.
Khi lãi suất thực tế trong nước tăng làm cho nhu cầu về nội tệ để đầu tư tăng do đó làm
tăng sức mua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ, làm tăng tỷ giá của đồng nội tệ và
ngược lại. Lãi xuất tiền gửi bằng ngoại tệ tăng làm cho lượng ngoại tệ vào nhiều làm dịu
nhu cầu về ngoại tệ làm cho tỷ giá đồng nội tệ tăng lên…
Ngoài ra sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể do tác động của các sự kiện kinh
tế xã hội, do ảnh hưởng của chiến tranh, thiên tai …

V.2 Một số biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái:
Ngày nay, dấu hiệu giá trị cũng như các phương tiện lưu thông hiện đại được sử
dụng rất phổ biến. Trong điều kiện ấy, vấn đề tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành tỷ giá
hối đoái ở cả tầm vi mô và vĩ mô đều thực sự trở thành vấn đề lớn trong chính sách tiền
tệ của bất cứ quốc gia nào. Việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái có thể sử dụng 1 số biện pháp
sau:
Điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu: 1 trong số những biện pháp mà ngân hàng
Trung ương sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái là biện pháp điều chỉnh lãi suất tái
chiết khấu, nhằm thay đổi quan hệ cung cầu về ngoại tệ trong nước. Khi tỷ giá hối
đoái trong nước bị giảm thấp đi, nếu NHNN tăng lãi suất tái chiết khấu thì những nguồn
ngoại tệ sẽ chảy vào trong nước góp phần làm dịu bớt căng thẳng về ngoại tệ, do đó làm
cho tỷ giá hối đoái của đồng tiền trong nước nâng dần lên và ngược lại.Tuy nhiên, chính
sách lãi suất tái chiết khấu cũng có những hạn chế nhất định, vì quan hệ giữa lãi suất và
tỷ giá chỉ là quan hệ tác động qua lại một cách gián tiếp, chứ không phải quan hệ trực
tiếp nhân quả.Các yếu tố để hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do đó biến
động của lãi suất không nhất thiết phải kéo theo biến động của tỷ giá. Lãi suất cao có
thể thu hút vốn ngắn hạn từ nước ngoài, nhưng nếu tình hình kinh tế chính trị xã hội
không ổn định thì khó có thể thực hiện được vì vấn đề an toàn vốn phải đặt lên trên hết.



Điều chỉnh tỷ giá hối đoái là việc làm thường xuyên, liên tục của Nhà nước nhằm
điều chỉnh,duy trì sự ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế,
đẩy lùi lạm phát. Tỷ giá hối đoái được điều chỉnh theo nguyên tắc duy trì biên độ dao
động cho phép tăng hoặc giảm một tỷ lệ nhất định so với tỷ giá hối đoái chính thức. Nó
khác hẳn với phá giá đồng tiền- một biện pháp bất đắc dĩ của Nhà nước, chỉ áp dụng
trong những trường hợp hết sức cần thiết khi sức mua của đồng nội tệ thường xuyên bị
sụt thấp so với ngoại tệ.
Tuy phá giá tiền tệ chỉ là biện pháp tình thế nhưng nếu được sử dụng đúng đắn
nó cũng phát huy những tác dụng nhất định:
-Kích thích các hoạt động xuất khẩu, từ đó góp phần tăng thu ngoại tệ, hạn chế
nhập khẩu, giảm chi ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
-Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối, hạn chế xuất khẩu vốn cũng như các
hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, làm tăng khả năng cung ngoại tệ, kết quả làm
cho sức mua đối ngoại của tiền trong nước sẽ tăng dần lên.
-Khuyến khích các hoạt động du lịch vào trong nước và hạn chế du lịch ra nước
ngoài, kết quả làm cho quan hệ cung cầu về ngoại tệ bớt căng thẳng.

chương II:
thực trạng tỷ giá hối đoái ở việt nam
trong những năm gần đây.

Tỷ giá hối đoái đóng vai trò là một trong những công cụ quan trọng không thể
thiếu của chính sách tiền tệ mà quá trình điều hành nền kinh tế vĩ mô cần phải sử dụng
như một chi tiết trong cỗ máy khi đưa vào vận hành. chính vì lẽ đó, yêu cầu cấp thiết đặt
ra là phải dấnh giá hợp lý hệ thống tỷ giá hiện nay. Việc làm này không thể tiến hành
một cách riêng rẽ, đơn lẻ, phiến diện mà phải thực hiện trong mối quan hệ nhiều mặt

có khuôn khổ, là một chế độ tỷ giá thả nổi có sự quản lý của nhà nước.
Mục tiêu hàng đầu của chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam là góp phần ổn
định sức mua của đồng tiền Việt Nam. Kết quả của việc điều hành chính sách tỷ giá hối
đoái của Nhà nước ta trong thời gian qua đã và đang nhận được sự đồng tình của dư
luận trong và ngoài nước. Những thành quả mà chúng ta đã đạt được đó là:
Góp phần giữ vững sức mua của đồng Việt Nam, kìm hãm và đẩy lùi lạm phát,
đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế.
Góp phần tăng cường tính ổn định của môi trường kinh tế cũng như giải pháp
để duy trì, mở rộng và phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là thu hút vốn
đầu tư nước ngoài.
Bảo vệ lợi ích của các thành viên trong xã hội, kể cả những người cư trú và
không cư trú.
Củng cố lòng tin của mọi người vào đồng Việt Nam. Đây là một yếu tố tâm lý
đóng vai trò quyết định trong việc duy trì sự ổn định đời sống kinh tế, chính trị xã hội.
Nó khơi dậy , kích thích và thúc đẩy mọi tầng lớp dân cư,mọi thành phần kinh tế đầu tư
vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, làm thay đổi nhanh chóng, làm lành mạnh hoá bộ
mặt kinh tế của đất nước. Để có căn cứ đánh giá chính xác chính sách tỷ giá hối đoái của nước ta trong
những năm qua và xây dựng các quan điểm điều hành tỷ giá hối đoái trong thời gian tới,
ta cần điểm qua các giai đoạn hình thành và phát triển của chính sách tỷ giá hối đoái ở
nước ta.
Trước năm 1988, từ ngày 25/11/1955 tỷ giá chính thức giữa đồng Việt Nam và
đồng Nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc là : 1NDT = 1.470 VND; 1Rup (Liên Xô) =
0,5 NDT, tỷ giá chéo là 735 VND= 1 Rup. Sau đổi tiền ( 1959) tỷ giá VND so với Rúp
và NDT thay đổi. Đến năm 1977 các nước XHCN thoả thuận thanh toán với nhau bằng
đồng Rúp chuyển nhượng (RCN). Mỗi RCN có hàm lượng vàng là 0,98712 gr.
Bên cạnh tỷ giá trên, Nhà nước còn dùng tỷ giá thanh toán nội bộ để thanh toán
giữa các tổ chức và các đơn vị có thu chi ngoại tệ với ngân hàng ngoại thương, tính thu

Sau khi có chủ trương thu hút vốn nước ngoài (1985) và thông qua luật đầu tư
nước ngoài (1987) luồng ngoại tệ bằng USD lần lượt vào Việt Nam. Tuy nhiên, chúng
ta chỉ dùng tỷ giá chính thức do Ngân hàng Trung ương áp đặt nên vẫn còn khoảng cách
khá xa so với sức mua thực tế của USD và thị trường chợ đen.

Đơn vị tính: VND/USD.
Năm Tỷ giá chính thức Tỷ giá thị trường
1985 15 115
1986 80 425
1987 368 1270
1988 3000 5000
1989 3900 4100

Tuy nhiên mức chênh lệch giữa 2 loại tỷ giá tính theo tỷ lệ % cũng dần giảm rõ
rệt ( năm 1985 là 666,67% năm 1989 chỉ còn 5,12%). Từ khi chúng ta xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá với những điều
chỉnh mang tính hành chính này không còn phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế ở
nước ta nữa. Việc từ bỏ chế độ này là một xu thế tất yếu khi chúng ta mở cửa và hội
nhập với nền kinh tế thế giới.
Từ những năm 1989- 1990 khi quan hệ ngoại thương được bao cấp với thị
trường truyền thống Đông Âu và Liên Xô cũ bị gián đoạn khiến chúng ta phải chuyển
sang buôn bán với khu vực thanh toán bằng USD. Kể từ đó, cơ chế tỷ giá cố định đã
được thay thế dần bằng cơ chế điều tiết của Nhà nước theo tín hiệu thị trường. Tuy
nhiên để đi đến một chính sách tỷ giá tự chủ,có thể kiểm soát được các biến động thị
trường, cơ chế quản lý ngoại tệ nói chung và cơ chế quản lý hối đoái nói riêng đã trải
qua những điều chỉnh lớn. Có thể chia thành những giai đoạn như:
Giai đoạn thả nổi tỷ giá hối đoái 1989- 1992:

Hơn nữa phần ngoại thương ngoài kế hoạch ngày càng lớn khiến cho thị trường
ngoại tệ ngầm ngày càng phát triển và có xu hướng phản ánh tương quan giá trị thực
giữa đồng nội tệ với đồng ngoại tệ.
Tình trạng leo thang của giá đồng USD đã kích thích tâm lý dự trữ USD, nhằm
mục đích đầu cơ ăn chênh lệch giá. Ngoại tệ vốn đã khan hiếm lại không được dùng cho
hoạt động xuất nhập khẩu mà còn bị buôn bán vòng vèo giữa các tổ chức trong nước.
Mọi cố gắng quản lý ngoại tệ của chính phủ ít đem lại kết quả, thậm chí có những quyết
định của chính phủ về quản lý ngoại tệ đã bị mất hiệu lực ngay khi vừa mới công
bố.Giai đoạn này ngân hàng không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ. Qua kiểm tra 26
đơn vị sử dụng ngoại tệ ở Thừa Thiên Huế thấy tất cả đều có sai phạm:
Bán USD ra thị trường: 996,682 USD.
Cho vay lấy lãi : 102,694 USD. Chuyển nhượng cho nhau hơn 2 triệu USD lấy chênh lệch 3,5 tỷ USD.
Tình trạng tỷ giá hối đoái bị thả nổi thời kỳ này có nguyên nhân do cơ chế quản
lý ngoại tệ chậm sửa đổi,không theo kịp bước chuyển của nền kinh tế thị trường. Nhưng
nguyên nhân quan trọng nhất là do những khó khăn trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Do
mất nguồn nhập siêu từ Liên Xô cũ nên đất nước thiếu ngoại tệ nghiêm trọng.Điều này
dẫn đến tình trạng phải mua USD để trả nợ đến hạn do đó đã dẫn đến "cơn sốt" USD
theo chu kỳ vào cuối quý, cuối năm trong các năm 1990- 1991. Tình trạng leo thang giá
USD đã thúc đẩy lạm phát do đồng Việt Nam bị mất giá mạnh và do giá hàng nhập
khẩu tăng nhanh. Trước tình hình đó từ năm 1992 chính phủ đã chọn con đường thay
đổi cách quản lý ngoại tệ, đổi mới chính sách và cơ chế điều hành tỷ giá theo hướng:
Thay thế biện pháp hành chính, bắt buộc các đơn vị kinh tế quốc doanh có ngoại
tệ phải bán cho Ngân hàng theo tỷ giá ấn định bằng biện pháp kinh tế như: mở trung
tâm giao dịch ngoại tệ để cho các doanh nghiệp và ngân hàng trao đổi mua bán ngoại tệ
với nhau theo thoả thuận.
Thay đổi cách quản lý ngoại tệ , đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối, bãi bỏ hình
thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thương giữa Ngân sách với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status