lời nói đầu
Xu hớng quốc tế hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra một cách sâu sắc, toàn
diện trên phạm vi toàn thế giới. Nó là quy luật khách quan mà Việt Nam cần
sớm nắm bắt và vận dụng. Việc tham gia vào nền kinh tế khu vực và thế giơi sẽ
mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội đồng thời cũng đặt ra những thách thức không
nhỏ đòi hỏi phải có những chính sách phù hợp. Một hoạt động có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình hội nhập kinh tế là ngoại thơng. Nhân tố quyết định tới sự
thành công hay thất bại của chính sách kinh tế đối ngoại phải kể đến vai trò
quan trọng của chế độ tỷ giá hối đoái của mỗi quốc gia. Chúng ta cha quên sự
can thiệp bất thành của 15 ngân hàng Trung ơng trớc sự sụp đổ của hệ thống tỷ
giá hối đoái Châu Âu những năm 90; sự phá giá bất ngờ của đồng bảng Anh
tháng 9/1992 trớc sự tấn công của những kẻ đầu cơ, mặc dù đã có sự can thiệp
tích cực cuả Ngân hàng Trung ơng Đức và Anh với khối lợng 15 tỷ bảng Anh;
hay hai sự kiện làm rung chuyển thế giới chỉ trong một thời gian ngắn. Đó là: Sự
khủng hoảng của đồng Pê-sô (Mêhicô) tháng 12/1994 và sự mất giá kỷ lục trong
năm 1995, rồi lại sự lên giá đột biến của USD năm 1996.
Là một nớc đang đi những bớc đầu tiên tham gia vào quá trình hội nhập
quốc tế cả về phơng diện lý luận lẫn thực tiễn, hơn bao giờ hết việc nghiên cứu
tỷ giá hối đoái đang trở thành vấn đề cấp bách đặt ra cho chúng ta. Xuất phát từ
thực tế khách quan đó, trong bài viết này, em xin đề cập tới vấn đề: "Tỷ giá hối
đoái và việc áp dụng chế độ tỷ giá ở Việt Nam."
Cấu trúc bài viết gồm 3 chơng:
Chơng I: Tổng quan về tỷ giá hối đoái.
Chơng II: Thực trạng tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong
những năm gần đây.
Chơng III: Một số giải pháp góp phần bổ xung, hoàn thiện
1
chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam.
Tỷ giá hối đoái là vấn đề mới mẻ và rất phức tạp. Hơn nữa, trong quá
trình nghiên cứu, những khiếm khuyết và hạn chế là khó tránh khỏi. Vì vậy, em
rất mong đợc các thầy cô góp ý phê bình để những bài viết sau đạt chất lợng tốt
3
II.Lịch sử hình thành và phát triển của tỷ giá hối đoái.
1. Thời kỳ lu thông tiền vàng và tiền đúc :
Từ trớc công nguyên, sau cuộc phân công lao động xã hội lần thứ 2, vàng
và bạc đúc thành thỏi đã trở thành đồng tiền ngự trị các loại tiền khác nh : ốc ,
vỏ sò , da thú... và dần chiếm vị trí độc tôn trên thị trờng hàng hoá tiền tệ.Tuy
nhiên do việc dùng vàng thỏi tính theo trọng lợng đã gây rất nhiều khó khăn cho
trao đổi , nên tiền đúc đã ra đời . Bắt đầu từ cuộc phân công lao động lần thứ 3 ,
trong lu thông đã xuất hiện loại tiền đúc của các lái buôn giàu có ( khắc tên ngời
phát hành vàng và trọng lợng vàng ) về sau do thơng nghiệp mở rộng thì tiền đúc
không còn do các thơng nhân, nhà thờ đúc mà do nhà nớc . Mỗi nớc tuỳ theo
phong tục của mình đã đa ra những đồng tiền riêng mang dấu ấn quốc gia và
khác với đòng tiền các quốc gia khác về trọng lợng và đơn vị đồng tiền , với đơn
vị tiền vàng khác nhau, dẫn đến xu hớng ngời dân nớc nào sử dụng đồng tiền n-
ớc đó. Trong quan hệ ngoại giao, việc xác định tỷ giá trao đổi hoàn toàn giản
đơn, chỉ việc so sánh trọng lợng kim loại thực tế của hai đồng tiền với nhau.
2. Chế độ bản vị vàng và vàng - hối đoái :
Trong chế độ này, việc xác định tỷ giá giữa các đồng tiền vẫn là việc so
sánh trọng lợng vàng mà mỗi đơn vị tiền giấy làm đại biểu , hay có thể nói là
việc so sánh hàm lợng vàng chứa đựng trong mỗi đơn vị tiền tệ của mỗi nớc.
Tỷ giá hối đoái trong giai đoạn này giao động xung quanh điểm vàng.
Điểm vàng là ngang giá vàng của các đồng tiền cộng ( hoặc trừ) chi phí vận
chuyển vàng( phí vận tải , phí bảo hiểm, phí đóng góp và thủ tục phí) giữa các n-
ớc hữu quan. Khi tỷ giá vợt điểm vàng thì nớc mắc nợ sẽ không dùng tiền quốc
gia mình để mua ngoại tệ dùng vào việc trả nợ, mà họ sẽ chuyển vàng ra nớc
ngoài để trả nợ.
Với đặc trng này chế độ bản vị vàng là một chế độ ổn định , sức mua của
đồng tiền rất ít khi bị biến động. Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế t bản chủ
nghĩa , chế độ này đã tỏ ra có nhiều u điểm. Nó có khả năng điều tiết khối lợng
tiền trong lu thông một cách tự phát không cần đến sự can thiệp của nhà nớc
3. Chế độ tỷ giá cố định - chế độ bản vị USD:
Đến năm 1944, tại hội nghị Bretton Woods, quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ra
đời, với điều lệ đầu tiên là xây dựng tỷ giá cố định cho mỗi đồng tiền. Theo chế
độ này, các nớc phải quy định hàm lợng vàng riêng cho đồng tiền của mình và
so sánh với hàm lợng vàng của USD (1 USD = 0,88867 gr vàng nguyên chất ) để
có một tỷ giá chính thức. Biên độ giao động của tỷ giá không đợc vợt quá 1%
của tỷ giá chính thức đã đợc đăng ký tại IMF. Nếu vợt quá biên độ này thì ngân
5
hàng TW phải can thiệp bằng cách mua vào hoặc bán ra một lợng USD nhất
định nhằm bảo vệ tỷ giá chính thức với USD. Thông qua tiền tệ sẽ đợc đổi ra
vàng theo giá: 35 USD = 1 ounce vàng. Nh vậy về nguyên tắc vàng vẫn đóng vai
trò trung tâm để so sánh sức mua của các đồng tiền với nhau thông qua USD.
VD: Nội dung vàng của GBP là 2,488281 gr vàng nguyên chất. Nh vậy
đồng giá vàng của GBP sẽ là : 1 GBP = 2,488281/0,888671=2,8 USD. Nh vậy tỷ
giá chính thức của 1GBP sẽ là 2,8 USD nếu nh không có những yếu tố trên thị
trờng tác động.
Sở dĩ chế độ này có thể tồn tại trong suốt thời gian dài là do lúc đó Mỹ có
lợng dự trữ vàng lớn nhất thế giới 24,7 tỷ USD khoảng 20000 tấn vàng, chiếm
70% dự trữ vàng của thế giới t bản- USD trở thành phơng tiện thanh toán và dự
trữ quốc tế.
Vào những năm 70, tình trạng khủng hoảng USD diễn ra thờng xuyên,
Mỹ đã phát hành trên 166 tỷ USD tiền giấy, điều này có nghĩa là ngân hàng TW
của các nớc luôn phải mua USD để bảo vệ tỷ giá.Lợng USD này lại đợc đổi ở
cục dự trữ liên bang Mỹ làm cho kho vàng của Mỹ giảm đi nhanh chóng . Để
đối phó với tình ttạng này, ngày 15-08-1971 Mỹ đã phải tuyên bố ngừng chuyển
đổi USD ra vàng theo tỷ giá chính thức. Sau đó ngày 18-12-1971 thì tuyên bố
phá giá USD ở mức 7,89%. Tới ngày 12-02-1973Mỹ lại phá giáUSD tiếp 10%.
Qua 2 lần phá giá liên tiếp, chế độ bản vị USD sụp đổ hoàn toàn.
Sau khi chế độ USD sụp đổ thì toàn bộ cơ chế thanh toán quốc tế t bản
chủ nghĩa bị hỗn loạn, USD bị dình chỉ đổi ra vàng. Do đó trong thanh toán
Mỹ và Tây Âu đa lên làm phơng tiện thanh toán và dự trữ quốc gia, làm thớc đo
già trị của các đồng tiền khác. Chế độ tiền tệ mới ra đời chế độ bản vị SDR.
Nội dung SDR ngày nay đã đợc thay đổi, không còn nội dung vàng nữa, mà đợc
tính bằng 16 đồng tiền mạnh nhất thế giới. Hiện nay là 5 đồng tiền mạnh của 5
quốc gia có tiềm lực về kinh tế tài chính.
Kể từ khi thực hiên chế độ này, hàm lợng vàng chứa đựng trong mỗi đồng
tiền đã mất dần đi ý nghĩa kinh tế của nó. Việc xác định tỷ giá không dựa vào
ngang giá vàng nh trớc đây mà hoàn toàn thả nổi theo quan hệ cung cầu về
ngoại hối trên thị trờng. Qua đó việc xác định tỷ giá đợc hợp lí hơn, chính xác
hơn. Thông qua việc xác định tỷ giá chéo ngời ta cũng có đợc tỉ giá hối đoái của
các đồng tiền các nớc với nhau.
III. Chức năng của tỷ giá hối đoái.
7
Mối quan hệ giữa ngời sản xuất hàng hoá trong nớc với thị trờng thế giới
đựoc thực hiện thông qua tỷ giá hối đoái một phạm trù kinh tế vốn có của
nền sản xuất hàng hoá. Do đó tỷ giá hối đoái có những chức năng sau:
III.1. Chức năng so sánh sức mua
Phạm trù tỷ giá hối đoái thể hiện trong mối tơng quan sức mua của hai
đồng tiền so sánh. Nh ta đã biết: khi tiền tệ thực hiện chức năng thớc đo giá trị,
nó đã biến giá trị của hàng hoá, dịch vụ thành hình thức giá cả. Điều đó chứng
tỏ giá cả hàng hoá chính là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Chính vì
vậy mà mọi sức tăng giảm của giá cả hàng hoá, dịch vụ trên thị trờng cho thấy
sức mua của tiền tệ giảm đi hay tăng lên. Nếu nh trong đồng ngoại tệ có sức
mua cố định trong khi sức mua của đồng nội tệ tăng hay giảm thì tỷ giá hối đoái
giữa đồng nội tệ với đồng khác cũng tăng hoặc giảm. Giá cả của hàng hoá, dịch
vụ trên thị trờng nội địa và thị trờng thế giới có thể so sánh với nhau thông qua
tỷ giá hối đoái. Nhờ đó mà các quốc gia có thể tính toán đợc mức chênh lệch về
năng suất lao động ở trong nớc với thế giới nh thế nào, tính toán đợc hiệu quả
của các hoạt động kinh tế đối ngoại. Qua chức năng so sánh sức mua của các
đồng tiền, tỷ giá hối đoái trở thành một công cụ quan trọng trong việc hoạch
tác động trực tiếp đến các hoạt động kinh tế đối ngoại khác.
Trong quan hệ vay nợ quốc tế, khi đồng bản tệ của nớc đi vay mất giá,
các khoản nợ thực tế của của đồng bản tệ giảm xuống, nhng gáng nặng nợ nớc
ngoài tăng lên. Chính vì vậy chúng ta vay nợ nớc ngoài với tỷ giá 900đ/1USD
mà hiên nay là 15.000đ/1USD .
Ngoài ra tỷ giá hối đoái còn ảnh hởng đến dòng vốn tiền tệ từ những hoạt
động mang tính chất phi mậu dich nh : Du lịch, kiều hối
Tỷ giá hối đoái còn có chức năng điều tiết mặt bằng giá cả trong nớc. Khi
giá trị của đồng bản tệ giảm sẽ hạn chế nhập khẩu, song với nhng mặt hàng thiết
yếu phục vụ cuộc sống và yếu cầu phát triển kinh tế thì khi giá cao vẫn phải
nhập về, vì thế giá cả của mặt hàng này tất nhiên sẽ tăng do đó ảnh hởng tới
mặt bằng giá cả nói chung.
III.3. Chức năng phân phối.
Tỷ giá hối đoái thể hiện chức năng phân phối của mình thông qua sự thay
đổi thu nhập của các ngành kinh tế đối ngoại nói riêng và các ngành kinh tế
quốc dân nói chung. Nhờ có chức năng này, Nhà nớc đã sử dụng tỷ giá hối đoái
nh một công cụ quan trọng điều tiết phân phối lại thu nhập giữa các nớc có quan
hệ với nhau. Một số nớc có quan hệ với nhau. Một số nớc đã xử dụng tỷ giá hối
9
đoái nh một công cụ lợi hại trong cuộc chiến tranh thơng mại, giành giật thị tr-
ờng.
Ví dụ: trong những năm 1994-1996, Mỹ đã kéo dài thời gian không can
thiệp vào việc giảm giá USD so voi yên Nhật (JPY). Điều này đã gây khó khăn
cho Nhật Bản xuất khẩu hàng hoá sang thị trờng Mỹ, đặc biệt là mặt hàng xe
hơi. Đây là đòn kinh tế nặng nề của Mỹ dành cho Nhật Bản. Nó làm giảm thu
nhập lớn tới ngành sản xuất xe hơi ở Nhật Bản.
IV. Chế độ tỷ giá cố định và thả nổi, nhng u điểm và hạn chế.
Đối với mỗi quốc gia và ngay trên phạm vi quốc tế thì việc lựa chọn, áp
dụng chế độ tuỷ giá nào là hết sực quan trọng. Bởi vì các chế độ tỷ giá khác
nhau sẽ có ảnh hởng khác sẽ có ảnh hởng khác nhau đến cân bằng kinh tế đối
của mỗi quốc gia trong ngoại thơng, thúc đẩy quá tình phân công lao động quốc
tế tăng năng suất lao động, giảm thất nghiệp và ổn định giá cả .
Tỷ giá cố định đã khuyến khích đợc sự chung chuyển t bản giữa các quốc
gia.Vốn t bản đợc chuyển đến nhiều nghành nhiều quốc gia mà ở đó ầu t có hiệu
quả cao. Nhu vậy, xét trong phạp vi quốc tế thì tổng đầu t sẽ nhiều hơn ,góp
phần tăng cờng tiềm lực kinh tế trong mỗi quốc gia.
Những hạn chế :
Chế độ tỷ giá cố định là chế độ tỷ giá đợc hình thành không do ảnh hởng
của quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối mà bằng sự ấn định chủ
quan mang tính chất áp đặt của chính phủ. Vì tỷ giá là một công cụ tài chính hết
sức nhậy cảm và quan trọng, chịu tác động bởi nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô, nh:
Tốc độ tăng trởng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát lãi suất Cho nên sự biến
động thờng xuyên của nó với mức độ khác nhau là điều khó tránh khỏi. Do đó,
việc tỷ giá công bố (cố định) tách rời khỏi giá trị thực của đồng tiền là tất yếu.
Nhìn chung, khi một đồng tiền đợc định giá thấp thì chính phủ đễ duy trì
nó hơn la khi nó đợc định giá cao. Những quố gia có đồng tiền định giá cao phải
bán nguồn dự trữ ngoại tệ của mình trên thị trờng hối đoái, nhng điều này là có
giới hạn vì nó còn phụ thuộc vào nguồn dự trữ ngoại tệ của chính phủ. Ngợc lại,
những quốc gia có đồng tiền định giá thấp, chỉ cần bán đồng tiên của mình trên
thị trờng hối đoái là dự tr ngoại tệ sẽ tăng lên. Về khả năng thực hiên biện phấp
11
này đối với chính phủ là không hạn chế, song điều này sẽ gây lạm phát trong n-
ớc. Chính hạn chế này đã khiến hệ thống Bretton Woods sụp đổ là một tất yếu.
IV.2. Chế độ tỷ giá thả nổi.
Sau khi hên thống Bretton Woods sụp đổ hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều thả nổi tỷ giá. Tuy nhiên, thả nổi tỷ giá cũng đợc chia làm hai loại: Thả
nổi tự do và thả nổi có quản lý.
Chế độ thả nổi tự do là chế độ mà tỷ giá hối đoái không có sự can thiệp
nào của chính phủ, hoàn toàn do quan hệ cung cầu trên thị trờng quyết định. Chế
độ tỷ giá này chỉ áp dụng ở các nớc có nền kinh tế phát triển cao.
kinh tế mỗi quốc gia, thì ổn định tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng, ổn định
không có nghĩa là cố định tỷ giá mà là chủ động điều chỉnh (can thiệp) tỷ giá đi
theo những chiều hớng có lợi trong những điều kiện cụ thể theo những mục tiêu
đề ra. Ngày nay, để đạt đợc sự ổn định trong lĩnh vực tỷ giá thì ngoài những cố
gắng, lỗ lự của mỗi quốc gia còn đặt ra yêu cầu khách quan không thể phủ nhận,
đó là hợp tác có hiệu quả giữa các quốc gia trong lĩnh vực này.
V. Các nhân tố ảnh hởng và một số biện pháp chủ yếu điều
chỉnh tỷ giá hối đoái.
V.1 Các nhân tố ảnh hởng.
Là một phạm trù kinh tế phức tạp, tỷ giá hối đoái của một đồng tiền ổn
định hay thờng xuyên biến động là do có sự tác động của nhiều nhân tố. Sau đây
là một số nhân tố ảnh hởng chủ yếu:
Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế, tốc độ lạm phát có ảnh hởng lớn đến tỷ
giá hối đoái. Sự trênh lệch về tốc độ lạm phát của một nớc so với một số nớc
khác sẽ làm cho tỷ giá hối đoái của đồng tiền nớc đó so với đồng tiền nớc ngoài
bị biến động. Một nớc có mức lạm phát cao hơn các nớc khác thì sức mua của
đồng tiền nớc đó sẽ thấp hơn các nớc khác. Khi đó thì tỷ giá hối đoái của đồng
tiền xẽ thấp hơn so với đồng tiền các nớc khác và ngợc lại.
Tình hình về quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trờng hối đoái : tại một
thời điểm nào đó, nếu cung về ngoại tệ lớn hơn cầu về ngoại tệ thì tỷ giá ngoại
tệ sẽ bị sụt mạnh, tỷ giá tiền trong nớc sẽ đợc nâng lên và ngợc lại, tình trạng
này giống nh quan hệ về cung cầu về hàng hoá trên thị trờng.
Sự tác động của các giao dịch trên thị trờng hối đoái và các hoạt động đầu
cơ ngoại tệ (chủ yếu trên thị trờng t nhân) làm cho tỷ giá biến động.
13
Sự tăng truởng hay suy thoái của nền kinh tế cũng là một nguyên nhân
ảnh hởng đến tỷ giá hối đoái. Mức độ tăng, giảm GDP thực tế cũng sẽ làm tăng
hay giảm nhu cầu về ngoại tệ, từ đó làm cho tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so
với đồng ngoại tệ tăng lên hay giảm đi.
Mức chênh lệch lãi suất giữa các nớc cũng ảnh hởng rất lớn tới tỷ giá hối
Can thiệp ngoại hối: Thông qua việc áp dụng biện pháp điều chỉnh này,
NHNN trực tiếp can thiệp vào thị trờng hối đoái bằng các hoạt động mua bán
vàng và ngoại tệ nhằm điều chỉnh quan hệ cung cầu về hàng và ngoại tệ trên thị
trờng, từ đó tỷ giá hối đoái của đồng tiền trong nớc đợc điều chỉnh.Tuỳ điều
kiện quốc gia mà việc tổ chức thực hiện nghiệp vụ này có sự khác nhau về phạm
vi, quy mô tác động. Với những nớc có nền kinh tế phát triển cao, các nghiệp vụ
thị trờng hối đoái đợc thực hiện trên quy mô rộng lớn. đôi khi mở ra trên phạm
vi cả một khu vực, thậm chí thế giới.Điều chỉnh tỷ giá theo phơng pháp này,
Chính phủ thờng gặp phải phản ứng ngợc chiều nhau của các doanh nghiệp cũng
nh các tầng lớp dân c trong xã hội bắt nguồn từ lợi ích kinh tế. Những mâu
thuẫn này thờng xảy ra giữa những nhà xuất khẩu và nhập khẩu, giữa những ng-
ời đang nắm trong tay lợng ngoại tệ lớn và những ngời trong túi chỉ có nội tệ.
Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, Chính phủ cần có lợng dự trữ
ngoại tệ đủ lớn để can thiệp vào thị trờng khi cần thiết. Điều đó có nghĩa là cần
lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái. Nguồn vốn để hình thành quỹ này là :
-Phát hành trái phiếu kho bạc bằng tiền nội tệ.
-Sử dụng vàng để lập quỹ bình ổn hối đoái.
Hạn chế của công cụ này là nó chỉ tác động lớn khi khủng hoảng tiền tệ ít
nghiêm trọng. Hơn nữa, việc lập quỹ bình ổn hối đoái đòi hỏi các quốc gia phải
có một thực lực nhất định về kinh tế.
Phá giá tiền tệ: Phá giá đồng tiền là việc Nhà nớc chính thức hạ thấp sức
mua của đồng tiền nớc mình so với các ngoại tệ hay là việc nâng cao tỷ giá hối
đoái của ngoại tệ.Kết quả của phá giá sẽ ảnh hởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái.
Đây là điểm giống nhau giữa phá giá đồng tiền và điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nh-
ng không phải không có sự khác biệt.
Điều chỉnh tỷ giá hối đoái là việc làm thờng xuyên, liên tục của Nhà nớc
nhằm điều chỉnh,duy trì sự ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định sức mua của đồng
tiền, kiềm chế, đẩy lùi lạm phát. Tỷ giá hối đoái đợc điều chỉnh theo nguyên tắc
duy trì biên độ dao động cho phép tăng hoặc giảm một tỷ lệ nhất định so với tỷ
giá hối đoái chính thức. Nó khác hẳn với phá giá đồng tiền- một biện pháp bất
thực tế cho việc thực hiện tốt yêu cầu trên.
I. tình hình tỷ giá hối đoái trong những năm vừa qua:
Lựa chọn chế độ tỷ giá nào luôn là bài toán hóc búa đối với mọi quốc gia.
Thực tế đã chứng minh đó là cả một nghệ thuật. Trong lịch sử, nhiều quốc gia đã
thành công trong việc lựa chọn chế độ tỷ giá thích hợp. Bên cạnh đó, không ít
quốc gia đã phải trả giá đắt cho việc sai lầm khi lựa chọn chế độ tỷ giá. Để có đ-
ợc chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp với nền kinh tế thị trờng góp phần ổn định
phát triển nền kinh tế, Thủ tớng chính phủ đã cho phép áp dụng chế độ tỷ giá hối
đoái thả nổi có sự quản lý của nhà nớc. Đây là một chủ trơng đúng đắn, phù hợp
với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam trong tiến trình đổi mới kinh tế vì nó
cho phép chúng ta thực hiện một chính sách tiền tệ độc lập vừa tuân theo quy
luật cung cầu thị trờng vừa phát huy vai trò quản lý điều tiết linh hoạt của Nhà
nớc để thực hiện đợc mục tiêu, yêu cầu phát triển kinh tế.Với chủ trơng
này,Ngân hàng Nhà nớc (NHNN) đã phối hợp cùng các bộ ngành thuộc lĩnh vực
kinh tế nh: Bộ Tài Chính- Bộ Thơng Mại - Bộ Kế Hoạch & Đầu T trong việc đề
ra chính sách cũng nh các biện pháp thực thi. Trong quá trình thực hiện chính
17
sách tỷ giá hối đoái NHNN đã thờng xuyên phối hợp với các ngành hữu quan
trong việc phát hiện những bất hợp lý của chế độ tỷ giá hiện hành để đề xuất
những giải pháp sửa đổi, bổ xung, giúp cho chính sách tỷ giá ngày càng hoàn
thiện hơn. Nhờ vậy, NHNN luôn nhận đợc sự ủng hộ từ các ngành liên quan
trong quá trình hoạch định cũng nh tổ chức thực hiện chính sách tỷ giá. Đây là
nguyên nhân cho sự tồn tại một cách vững chắc chế độ tỷ giá hiện hành. Đó là
một chế độ tỷ giá linh hoạt, năng động và có khuôn khổ, là một chế độ tỷ giá thả
nổi có sự quản lý của nhà nớc.
Mục tiêu hàng đầu của chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam là góp
phần ổn định sức mua của đồng tiền Việt Nam. Kết quả của việc điều hành
chính sách tỷ giá hối đoái của Nhà nớc ta trong thời gian qua đã và đang nhận đ-
ợc sự đồng tình của d luận trong và ngoài nớc. Những thành quả mà chúng ta đã
đạt đợc đó là:
Năm 1987: 1 Rúp = 150 VND.
Năm 1988: 1 Rúp = 700 VND.
Đến tháng 3/1989 chế độ kết toán nội bộ bị huỷ bỏ.
Trong giai đoạn trớc 1988, với chế độ độc quyền ngoại thơng và ngoại
hối, Nhà nớc trực tiếp can thiệp vào việc xác định tỷ giá, không xét tới quan hệ
cung cầu thực tế trên thị trờng ngoại hối. Nhà nớc đã thi hành chế độ tỷ giá cố
định và đa tỷ giá. Quan hệ thơng mại của chúng ta chủ yếu là với các nớc trong
khối SEV với hình thức phổ biến là hàng đổi hàng theo một tỷ giá cố định đã đ-
ợc thoả thuận theo hiệp ớc song phơng và đa phơng giữa các chính phủ. Các
doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu hàng hoá hạch toán theo tỷ giá kết toán
nội bộ mà thực chất là một hình thức bù lỗ có tính chất bao cấp thông qua tỷ giá.
Trong giai đoạn này, tỷ giá hối đoái chỉ đóng vai trò thuần tuý là phơng tiện ghi
chép thụ động của ngân hàng trong lĩnh vực xuất nhâp khẩu hàng hoá. Vai trò
công cụ quản lý vĩ mô, để thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của
tỷ giá hối đoái bị gạt bỏ hoàn toàn.Việc xác lập tỷ giá hối đoái duy ý chí, không
tuân thủ các quy luật kinh tế , các quy trình kinh tế ngay cả với kinh tế kế
hoạch, gạt bỏ cả yếu tố lạm phát đã không chỉ cản trở các quan hệ kinh tế của ta
với khối SEV mà còn gây nhiều khó khăn trong thanh toán nội bộ, trong công
tác quản lý điều hành của Nhà nớc,thủ tiêu động lực đối với hoạt động xuất
khẩu. Ngoài ra, việc sử dụng tỷ giá kết toán nội bộ trong quản lý ngân sách Nhà
nớc nên việc tính toán và phản ánh thu chi ngân sách nhà nớc bị sai lệch nghiêm
trọng, làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân sách Nhà nớc, đặc biệt là
khâu quản lý và sử dụng vốn. Hơn nữa, VND đợc đánh giá cao một cách giả tạo
19