Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1
Đề tài: Tỷ giá hối đoái: Phân loại các chế độ. Các chính sách Tỷ giá hối đoái
của Việt Nam.
LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các phạm
trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quả trong
việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực
kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia. Đã bao thời nay, loài người đã và
đang tiếp tục đứng trước một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt này và cố gắng
tiếp cận nó, mong tìm ra một nhận thức đúng đắn để từ đó xác định và đưa vào vận
hành trong thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến nó trở thành một công
cụ tích cực trong quản lý nền kinh tế ở mỗi nước. Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là
cái gì đó để ngắm mà trái lại, là cái mà con người cần phải tiếp cận hàng ngày,
hàng giờ, sử dụng nó trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc xử lý những
vấn đề cụ thể liên quan đến các chính sách kinh tế trong nước và quốc tế. Và do
vậy, nhận thức một cách đúng đắn và sử lý một cách phù hợp một cách tỷ giá hối
đoái là một nghệ thuật.
Xuất phát từ những lý do trên đây, Em chọn đề tài của mình là "Một số vấn
đề về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam".
CHƯƠNG 1: Tỷ giá hối đoái. Phân loại và chế độ
I – Tỷ giá hối đoái :
Khái niệm:
Mối liên hệ kinh tế giữa các nước, các nhóm nước với nhau mà trước hết là
quan hệ mua bán trao đổi đầu tư dẫn đến việc cần có sự trao đổi đồng tiền của các
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2
nước khác nhau với nhau, đông tiền này đổi lấy đồng tiền kia. TGHĐ là giá cả của
1 đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ của 1 quốc gia khác, hay là quan
hệ so sánh về mặt giá cả giữa 2 đồng tiền của các quốc gia khác nhau. Thông
thường, thuật ngữ "Tỷ giá hối đoái" được ngầm hiểu là số lượng đơn vị tiền nội tệ
nước đang thực hiện chuyển đổi cơ chế thực sự là vấn đề nan giải.
1.Tỷ giá hối đoái cố định bản vị vàng
Theo chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái được qui định căn cứ vào hàm
lượng vàng của các đồng tiền. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, khi
thương mại quốc tế tăng lên cùng với hoạt động đầu cơ, chế độ bản vị vàng này
không đáp ứng được nhu cầu phát triển và các nước thôi áp dụng từ năm 1971.
2.Tỷ giá hối đoái cố định Bretton Woods:
Theo chế độ này, về nguyên tắc vẫn coi vàng làm bản vị, tỷ giá giữa các đồng
tiền vẫn dựa trên cơ sở so sánh nội dung vàng của các đồng tiền và đồng USD.
Đồng USD đóng vài trò tiền chủ chốt trong thời kỳ này vì nó có hai cơ sở đảm bảo
vững chắc: hàng hóa và vàng.
3.Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do
Theo chế độ tỷ giá hối đoái này, mức tỷ giá hối đoái được quyết định hoàn
toàn bởi các lực lượng cung cấp cầu về ngoại tệ. Trong hệ thống này chính phủ giữ
thái độ thụ động, để cho thị trường ngoại tệ đánh giá giá trị của ngoại tệ - loại tỷ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
4
giá hối đoái này ít được áp dụng vì các thị trường tiền tệ thường không hoàn hảo
và do vậy luôn cần có vai trò can thiệp của nhà nước.
4.Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết
Theo chế độ này, chính phủ không cam kết duy trì một tỷ lệ cố định với
ngoại tệ, mà thả nổi đồng tiền của mình và có biện pháp can thiệp mỗi khi thị
trường trở nên (mất trật tự) , hoặc khi tỷ giá hối đoái đi chệch xa mức thích hợp
loại tỷ giá hối đoái này hiện đang được áp dụng tại các nước Tư Bản Chủ Nghĩa,
nơi mà lạm phát đạt thấp, các thị trường phát triển ở trình độ cao.
5.Tỷ giá hối đoái ổn định có điều tiết
Theo chế độ này, chính phủ không để ngoại tệ trôi nổi tự do, mà can thiệp
vào thị trường ngoại tệ bằng cách mua bán ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá qui định.
Sau mỗi thời gian nhất định, mức tỷ giá hối đoái lại được điều chỉnh cho phù hợp
và duy trì ổn định.
bó là thả nổi có điều tiết nhưng thực chất trong thời kì này NHNN cũng không theo
kịp diễn biến của thị trường ngoại tệ. Các cơn sốt ngoại tệ liên tục xảy ra, đặc biệt
là cuối năm khi nhu cầu ngoại tệ cho thanh toán lớn. Nhờ những cố gắng của
Chính phủ và NHNN thể hiện ở việc thành lập hai trung tâm giao dịch ngoại tê tại
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Quỹ bình ổn ngoại tệ, kết hợp với chủ trương
thu hút ngoại tệ từ các nguồn khác nhau từ nước ngoại, tỷ giá đồng Việt Nam được
ổn định dần từ cuối năm 1992.