Các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế, xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới - Pdf 27

Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
1PHỤ LỤC:
LỜI MỞ ðẦU .....................................................................................2
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ðỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ.................................... 4
I. Những vấn ñề chung về thuế.................................................................. 4
1. Sự ra ñời và tính chất tất yếu khách quan của thuế......................4
2. Khái niệm ........................................................................................ 6
3. ðặc ñiểm..........................................................................................6
4. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường...............................7
II. PHÂN LOẠI THUẾ ............................................................................ 11
1. Phân loại theo tính chất chuyển dịch của thuế............................ 12
2. Phân loại theo ñối tượng chịu thuế .............................................. 13
CHƯƠNG II: THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM – QUÁ TRÌNH
HOÀN THIỆN .................................................................................. 14
I. Thực trạng thuế XNK ở Việt Nam trước khi gia nhập WTO............. 14
1. Tổng quan...................................................................................... 14
1.1. Những chính sách của nhà nước ............................................... 14
1.2. Những mặt tích cực.................................................................... 15
1.3. Những mặt hạn chế.................................................................... 16
1.3.1. Sơ hở trong chính sách ưu ñãi và miễn giảm thuế củaNhà nước.
............................................................................................................ 16
1.3.2. Khâu quản lý khai báo và thu thuế còn chưa hiệu quả......... 17
1.3.3. Mức thuế suất còn khá cao ..................................................... 18
II. Những ñổi mới thuế XNK sau khi Việt Nam gia nhập WTO............ 28
1. ðánh giá tổng quan về hoạt ñộng XNK giai ñoạn 2001-2010. ... 28
2. Những ñổi mới về thuế xuất nhập khẩu ...................................... 32
2.1. ðổi mới trong các chính sách của nhà nước............................. 32
2.1.1. Thương mại về không phân biệt ñối xử................................. 32

nhập khẩu.......................................................................................... 58

KẾT LUẬN: ....................................................................................................... 59 Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
3LỜI MỞ ðẦU
Thuế là một trong những công cụ quản lý và ñiều tiết của Nhà nước
về tình hình sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hoá dịch vụ trong
nước. Ngoài ra chính sách thuế còn là một trong những công cụ ñể thực
hiện chiến lược kinh tế của ñất nước. Trong hoạt ñộng kinh doanh thương
mại quốc tế, các nước thường dùng công cụ quản lý như: hạn ngạch, tỷ
giá, giấy phép, thuế quan. Trong ñó thuế xuất nhập khẩu thường ñược sử
dụng cơ bản nhất bởi nó là cơ sở trong trao ñổi buôn bán và là một nguồn
thu ñối với ngân sách quốc gia.
Ở Việt Nam, thuế xuất nhập khẩu ñược ban hành thành Luật vào
tháng 12 năm 1987, có hiệu lực vào 01/ 01/ 1988 với tên gọi Luật Thuế
xuất nhập khẩu hàng mậu dịch. Sau hai lần sửa ñổi vào các năm 1991 và
1993 và gần ñây nhất là tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá X (tháng 4, tháng
5 năm 1998), Luật Thuế xuất nhập khẩu ñã có những nội dung thay ñổi
cơ bản về thời hạn tính thuế, thuế suất, về xử lý vi phạm.v.v. Tuy vậy
trong quá trình thực hiện, thuế xuất nhập khẩu vẫn còn nhiều hạn chế và
có những ñiểm chưa phù hợp với tình hình thực tế trong nước, cần phải
tiếp tục bổ xung sửa ñổi. Mặt khác, trong thực tiễn phát triển kinh tế của

chính sự tồn tại và phát triển của bản thân mà trông chờ vào sự ñóng góp của
toàn thể công dân. Bằng sức mạnh quyền lực chính trị của mình, Nhà nước
bắt buộc mọi công dân phải chuyển một phần thu nhập của mình vào tay
Nhà nước. Những khoản tiền mà công dân ñóng góp từ thu nhập của mình
chuyển cho Nhà nước nhằm tạo ra nguồn vật chất cung ứng cho mọi hoạt
ñộng của Nhà nước gọi là thuế. Vậy sự ra ñời của thuế chính là sự ra ñời, tồn
tại và phát triển của nhà nước.
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
5Khi xã hội loài người chuyển lên hình thái tư bản chủ nghĩa, Nhà nước
bắt ñầu ý thức ñược vai trò của mình ñối với sự vận ñộng của nền kinh tế.
Nhà nước ngày càng can thiệp nhiều hơn, mạnh mẽ hơn vào tiến trình kinh
tế - xã hội của ñất nước và bước ñầu cao hơn là trực tiếp tham gia thực hiện
và ñiều khiển các tiến trình kinh tế - xã hội.
Khi quyền lực tối cao trong xã hội ngày càng chuyển sang tay dân
chúng, công bằng xã hội ngày càng ñược ñặt ra, ñiều này ñòi hỏi người ñại
diện cho nhân dân (Nhà nước) phải hướng sự hoạt ñộng của mình vào sự
phát triển toàn diện của dân chúng, phải quan tâm ñến người có thu nhập
thấp, thất nghiệp, người gia, trẻ em, người mất khả năng tạo ra thu nhập. Vì
vậy ñể thực hiện việc này Nhà nước phải có chính sách nhất ñịnh ñể tạo ra
thu nhập của ngân sách dùng cho mục tiêu xã hội.
Tóm lại: Khi Nhà nước giữ vai trò trung lập trong xã hội, chỉ giới hạn
nhiệm vụ của mình ở các hành vi bạo lực và quản lý hành chính. ðơn thuần
thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cũng giới hạn ở ñây và nó kéo theo sự hạn
chế tương ứng các mục tiêu của thuế. Khi Nhà nước có thêm nhiệm vụ ñiều
hành và quản lý nền kinh tế tức là tăng thêm nhu cầu chi tiêu thì thuế cũng
gia tăng cả về chất lẫn về lượng. Cho ñến khi ñại ña số dân chúng trở thành
chủ xã hội thì khát vọng bình quyền buộc Nhà nước hoạt ñộng hướng theo

ñó là Quốc hội. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
ñịnh: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy ñịnh, sửa ñổi hoặc bãi bỏ các
luật thuế. Tuy vậy, do yêu cầu ñiều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế,
Quốc hội có thể giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ñịnh, sửa ñổi
hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc
Nghị quyết về thuế.
* Tính không ñối giá trực tiếp
Nộp thuế là một nghĩa vụ xã hội mà công dân không có quyền trốn
tránh và cũng không có quyền ñòi hỏi trao ñổi ngang giá (ñối giá trực tiếp).
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
7Số tiền thuế mà các cá nhân và tổ chức kinh tế phải nộp không phụ thuộc
vào mức ñộ thụ hưởng các dịch vụ công cộng do Nhà nước cung cấp tức là
lợi ích riêng mà tuỳ theo khả năng thu thuế.
*Tính chi tiêu cho lợi ích công cộng
ðặc ñiểm này làm giảm ý niệm cưỡng bức của thuế. Tổng thu nhập từ
thuế Nhà nước chỉ chi một phần cho quản lý hành chính, ñại bộ phận số thu
nhập còn lại ñược chuyển giao cho dân chúng thông qua các hoạt ñộng sự
nghiệp và phúc lợi công cộng như: văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh quốc
phòng, thông tin, thể thao, bảo vệ môi trường, bảo trợ xã hội…
4. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường:
Các nhà kinh tế học thường ñề cập vai trò của thuế ñối với ngân sách
Nhà nước và ñời sống xã hội. Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt ñộng thu
thuế, Nhà nước tập trung ñược một bộ phận của cải của xã hội từ ñó hình
thành nên quỹ ngân sách Nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế - xã
hội.
Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước ñặt ra
thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật. Các văn bản quy phạm pháp

nước từ ñó mới ñáp ứng ñược nhu cầu chi ngày càng tăng.
Thuế là công cụ quan trọng nhất ñể phân phối lại tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân theo ñường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Hiện nay nguồn thu từ nước ngoài ñã giảm nhiều, kinh tế ñối ngoại chuyển
thành có vay có trả. Trước tiên, thuế là một công cụ quan trọng ñể góp phần
ổn ñịnh trật tự xã hội, chuẩn bị ñiều kiện và tiền ñề cho việc phát triển lâu
dài.
Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế mới ñược
áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Thuế ñã ñiều chỉnh ñược
hầu hết các hoạt ñộng sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu
dùng xã hội. Ðây là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước.
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
9* Thuế là công cụ ñiều tiết vĩ mô của Nhà nước ñối với nền kinh tế và
ñời sống xã hội.
Ngoài việc huy ñộng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, pháp luật thuế
còn có vai trò quan trọng trong việc ñiều tiết vĩ mô ñối với nền kinh tế. Ðiều
26 Hiến pháp 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc
dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách. Là một bộ phận của hệ thống pháp
luật Việt Nam, pháp luật thuế ñóng vai trò là công cụ ñiều tiết vĩ mô của
Nhà nước. Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước
thể chế hoá và thực hiện chính sách ñiều tiết ñối với nền kinh tế, ñiều tiết thu
nhập và tiêu dùng xã hội.
Ðiều tiết ñối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của
Nhà nước trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường. Thông qua các quy ñịnh
của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi ñối tượng nộp thuế, thuế
suất, miễn giảm thuế...Nhà nước chủ ñộng phát huy vai trò ñiều tiết ñối với
nền kinh tế. Vai trò này của pháp luật thuế ñược thể hiện ở chỗ pháp luật

Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước
ñể ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.Thông qua pháp luật thuế, Nhà
nước có tác ñộng tích cực trong việc thúc ñẩy sản xuất phát triển trên cơ sở
tận dụng, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực của ñất nước trong
việc ñiều chỉnh cung - cầu và cơ cấu kinh tế.
* Pháp luật thuế là công cụ góp phần ñảm bảo sự bình ñẳng giữa các
thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
Hệ thống pháp luật thuế mới ñược áp dụng thống nhất chung cho các
ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm ñảm bảo sự
bình ñẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ ñối với mọi thể
nhân và pháp nhân.
Sự bình ñẳng và công bằng ñược thể hiện thông qua chính sách ñộng
viên giống nhau giữa các ñơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
11những ñiều kiện hoạt ñộng giống nhau, ñảm bảo sự bình ñẳng và công bằng.
Vai trò ñiều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác ñộng của
pháp luật thuế ñối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã
hội.
Sự vận ñộng của nền kinh tế theo cơ chế thị trường ñòi hỏi Nhà nước
phải sử dụng ñồng bộ nhiều công cụ khác nhau ñể khắc phục sự mất cân ñối
về mặt xã hội trong ñó có mất cân ñối về thu nhập. Nhà nước sử dụng pháp
luật thuế làm công cụ ñể ñiều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội. Sự ñiều tiết
này thể hiện ở chỗ thông qua các quy ñịnh của pháp luật thuế, Nhà nước
thực hiện việc ñiều tiết thu nhập của các ñối tượng nộp thuế và các thành
viên trong xã hội. Sự thay ñổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế
trong hệ thống thuế, về thuế suất... ñều có tác ñộng ñến thu nhập và sử dụng
thu nhập trong xã hội.

chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ.
* Ưu ñiểm
Thuế gián thu dễ thu hơn thuế trực thu vì tránh ñược quan hệ giữa
người chịu thuế với cơ quan thuế
Dễ ñiều chỉnh tăng hơn thuế trực thu vì người chịu thuế không cảm
nhận ñầy ñủ gánh nặng của các loại thuế này.
* Nhược ñiểm
Tính luỹ thoái vì ñánh như nhau trên cùng một loại hàng hóa và dịch vụ
nên người giàu và người nghèo nếu tiêu dùng cùng một hàng hóa và dịch vụ
như nhau thì chịu thuế như nhau. Do ñó người giàu sẽ chịu thuế thấp hơn
người nghèo, người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế càng thấp.
b. Thuế trực thu
Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập
của các pháp nhân hoặc thể nhân.
Bản chất: người nộp thuế theo quy ñịnh của pháp luật ñồng thời là
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
13người chịu thuế.
Các loại thuế trực thu: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá
nhân…
* Ưu ñiểm
Thuế trực thu trực tiếp ñộng viên, ñiều tiết thu nhập của người chịu thuế
Thuế trực thu cho phép tính ñến các yếu tố ñộc lập với thu nhập của
người nộp thuế: hoàn cảnh gia ñình, tình trạng hôn nhân…
Ít gây ra tác ñộng ñến tiêu dùng và không làm giảm sản lượng của nền
kinh tế
* Nhược ñiểm
Do thuế trực thu thu trực tiếp trên thu nhập của người nộp thuế nên làm

ñồ ñiện tử, ñiện lạnh, ñiện gia dụng, hàng trang trí nội thất, thiết bị y tế, ñồ
gia dụng, các sản phẩm công nghệ thông tin ñã qua sử dụng cũng nằm trong
danh mục hàng cấm nhập. Nhà nước còn quy ñịnh hạn ngạch XNK ñối với
mặt hàng thuốc lá nguyên liệu, bông, sữa nguyên liệu cô ñặc, sữa nguyên
liệu chưa cô ñặc, muối, ngô hạt và trứng gia cầm,... Số lượng hàng hóa nhập
khẩu sẽ ñược ñiều chỉnh thuế suất dựa trên sự cân ñối giữa nhu cầu và năng
lực sản xuất trong nước. Ngoài ra còn có những quy ñịnh về việc cấp phép
nhập khẩu tùy ý ñối với một số mặt hàng (ñường,…)
Về xác ñịnh trị giá tính thuế nhập khẩu, chủ trương áp dụng bảng
giá tối thiểu và giá tham khảo ñể tính thuế nhập khẩu với một số mặt hàng:
rượu vang, rượu mạnh, gạch lát, v.v…
Về quyền kinh doanh XNK của các doanh nghiệp, quy ñịnh rõ:
doanh nghiệp FDI và cá nhân nước ngoài không ñược chuyên kinh doanh
XNK, mà doanh nghiệp FDI chỉ ñược nhập khẩu những mặt hàng qui ñịnh
trong giấy phép ñầu tư nhằm phục vụ mục ñích sản xuất của mình.
Về biểu thuế nhập khẩu: Ban hành biểu thuế xuất khẩu theo danh
mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất ñối với từng nhóm hàng, biểu
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
15thuế nhập khẩu ưu ñãi theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế
suất ưu ñãi ñối với từng nhóm hàng.
1.2 Những mặt tích cực
Những chính sách trên ñã có tác ñộng không nhỏ tới nền kinh tế ñất
nước. Thực tế cho thấy những chính sách này ñược ñặt ra có rất nhiều mặt
phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong những năm ñầu thời kì hội
nhập.
• Trước tiên các chính sách trên giúp hạn chế những mặt hàng xa xỉ phẩm
vì một số mục ñích xã hội. Nếu chính phủ cho phép nhập khẩu những

và gây một số ñiểm bất bình ñẳng.
Một ví dụ là chính sách ân hạn thuế trong Luật thuế XNK có phần hơi
“thông thoáng”. Cụ thể, thời hạn nộp thuế nhập khẩu ñối với hàng xuất khẩu
là 15 ngày, với nguyên phụ liệu nhập khẩu ñể làm hàng xuất khẩu là 275
ngày kể từ ngày ra thông báo nộp thuế. ðây là kẽ hở cho doanh nghiệp cho
những doanh nghiệp nhập khẩu nguyên phụ liệu. Họ có thể bán hết số
nguyên phụ liệu ñã nhập về cho thị trường trong nước khi chưa hết hạn nộp
thuế. Sau ñó họ giải tán doanh nghiệp ñể trốn cả thuế tiêu thụ nội ñịa lẫn
thuế nhập khẩu.
Bên cạnh ñó, việc áp dụng nhiều mức thuế khác nhau với các nhãn
sản phẩm khác nhau cũng tạo ñiều kiện cho việc thừa cơ chuộc lợi của nhiều
công ty. Việc áp thuế cho xe 6 – 9 chỗ ngồi thấp hơn xe từ 6 chỗ trở xuống
làm doanh nghiệp hạn chế nhập xe con vì sợ chịu thuế cao. Hay ñơn cử việc
áp dụng Bảng giá tối thiểu tính thuế nhập khẩu cũng dẫn ñến doanh nghiệp
nhập hàng giá cao không có trong danh sách bảng giá này ñể hưởng lợi
nhuận. Minh chứng cho ñiều này là trường hợp của công ty ðông Nam.
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
17Theo Quyết ñịnh 177 của Tổng cục Hải quan thì Bảng giá tối thiểu tính thuế
chỉ quy ñịnh các loại Nokia 3210, 5110, 5510 (90 USD/chiếc), 6110, 6150,
8210 (120 USD/chiếc), 8810, 8850 (190 USD/chiếc), 9910 (400
USD/chiếc); còn các loại khác (chưa quy ñịnh) chỉ chịu thuế 80 USD/chiếc.
Doanh nghiệp ðông Nam ñã lợi dụng kẽ hở này, cho nhập ồ ạt các nhãn ñiện
thoại Nokia như 8250, 8855, 8310,8910 là những sản phẩm giá cao nhưng
chỉ chịu thuế 80 USD/chiếc. Như vậy áp dụng bảng giá tính thuế còn nhiều
bất cập vì các sản phẩm thường ra các dòng mới liên lục và thường ñắt hơn
những loạt trước ñấy. Trong khi ñó, bảng giá chậm cập nhập nên những mặt
hàng mới này lại chỉ chịu thuế thấp.

hàng nhập khẩu có hợp ñồng có trị giá tính thuế ước tính dưới 20 triệu ñồng,
thì Cục trưởng uỷ quyền cho Chi cục trưởng ra quyết ñịnh xây dựng, sau ñó
báo cáo Cục Hải quan tổng hợp ban hành áp dụng thống nhất trong Cục và
báo cáo Tổng cục Hải quan''. Các doanh nghiệp ái ngại không chỉ vì mỗi chi
cục tính giá mỗi khác, mà ngay khi Cục Hải quan tổng hợp từ các chi cục ñể
ban hành bảng giá áp dụng thống nhất thì cũng không áp dụng hồi tố, các
doanh nghiệp ñã ñóng thuế rồi thì không ñược áp mức giá thống nhất ấy.
Việc xây dựng giá cũng tạo kẻ hở cho tiêu cực.
Thêm nữa, nhiều cán bộ hải quan còn thiếu sự nhạy bén và hiểu biết
tường tận về Luật thuế XNK. ðiều này dẫn ñến không phát hiện ñược hành
vi gian lận thuế.
1.3.3 Mức thuế suất còn khá cao.
Mức thuế còn khá cao so với nhiều nước trong ASEAN và trên thế
giới. ðể bảo vệ sức mạnh của hàng hoá trong nước, nhà nước ñã áp dụng
mức thuế cao. Nhưng ñiều này gây khó khăn cho nhiều mặt hàng nhập khẩu
có nhu cầu lớn.
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
19Có thể xem xét mặt hàng sữa nhập khẩu tại Việt Nam là một ví dụ.
Theo ñánh giá của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp
nông thôn, giá sữa bán lẻ ở Việt Nam ñứng ở mức cao nhất thế giới. Tính
bình quân cho các nước Bắc Mỹ, châu ðại Dương, Trung Quốc, Israel và
EU là 0,8 USD/kg; các nước thuộc khu vực ðông Âu, Nam Mỹ có mức giá
trung bình thấp nhất là 0,4 USD/kg. Trong khi ñó, giá sữa bán lẻ Việt Nam
lại lên ñến 0,82 USD/kg.

Tóm lại các chính sách như trên ñã kìm hãm sự phát triển của các doanh
nghiệp chuyên kinh doanh XNK, hạn chế sự phát triển một số mặt hàng, làm

ñịnh thương mại Việt Mỹ vào 7/2000....
Hệ thống kế hoạch hoá ngoại thương cứng nhắc của Việt Nam ñã ñược
cải cách theo xu hướng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.
• Về cơ chế nhập khẩu:
Chính phủ ñã sử dụng những công cụ chính sách thông thường như thuế
quan, quota, cấp giấy phép nhập khẩu.
Thuế quan: Việt Nam ñã ñạt ñược những bước cắt giảm thuế quan rất
quan trọng kể từ năm 1996 khi tiến hành gia nhập AFTA. Trong quá trình
hội nhập kinh tế khu vực, Việt Nam ñã cam kết cắt giảm thuế quan ñối với
5.505 sản phẩm, trong ñó có 80% sản phẩm cắt giảm ở mức thuế 0-5% và
20% sản phẩm ở mức thuế trên 5%. Khi hiệp ñịnh thương mại Việt - Mỹ
chính thức có hiệu lực, Việt Nam ñã cam kết giảm thuế nhập khẩu ñối với
244 mặt hàng trong vòng 3-6 năm với mức thuế giảm bình quân từ 35%
xuống còn 26% (trong ñó có 80% là sản phẩm nông nghiệp). Cũng theo cam
kết này, Việt Nam ñang tiến hành bãi bỏ ưu ñãi về thuế nhập khẩu theo tỷ lệ
nội ñịa hoá và dần dần tháo bỏ việc áp dụng chế ñộ thu phí và lệ phí liên
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
21quan ñến hàng hoá XNK. Tuy nhiên, Việt Nam hiện duy trì thuế suất, thuế
nhập khẩu trung bình ñối với hàng nông sản là khoảng 25%, với thuế suất
ñỉnh lên ñến từ 40% ñến 100% áp dụng cho hoa quả tươi, ñường kính, ngũ
cốc, rượu vang, bia, thuốc lá... Mà theo quy ñịnh của WTO, các nước xin gia
nhập thường phải giảm thuế suất trung bình ñối với hàng nông sản xuống
còn khoảng 20%, ñối với hàng chế tạo còn 10%.
Hệ thống miễn thuế nhập khẩu hàng hoá cũng ñược chính phủ áp
dụng, ñặc biệt ñối với hai loại hàng hoá chủ yếu là nguyên liệu thô và hàng
hoá trung gian phục vụ sản xuất hoặc các hàng hoá lắp ráp sử dụng ñể xuất
khẩu. Hệ thống pháp luật phục vụ các hoạt ñộng chế biến xuất khẩu ở Việt

công ty thuộc nhiều thành phần kinh tế của Việt Nam ñã ñược phép tham gia
các hoạt ñộng thương mại quốc tế. Trong những năm sau ñó, quyền tham gia
kinh doanh nhập khẩu của các doanh nghiệp ñược mở rộng hơn. Mọi doanh
nghiệp ñều có thể ñược cấp giấy phép kinh doanh XNK nếu ñảm bảo một số
ñiều kiện như phải có mức vốn lưu ñộng tối thiểu là 200.000 USD, hoạt
ñộng ñúng ngành hàng ñăng ký, và không hạn chế kim ngạch nhập khẩu....
Cho ñến năm 1998, theo nghị ñịnh 57/1998/Nð-CP, những quy ñịnh về các
ñiều kiện kinh doanh XNK ñề ra trước ñây ñã ñược bãi bỏ hoàn toàn nhằm
khuyến khích hơn nữa các thành phần doanh nghiệp tham gia hoạt ñộng
XNK.
• Về cơ chế xuất khẩu
Cải cách cơ chế xuất khẩu của nước ta cũng có những thành tích nổi bật
như cải cách hệ thống quản lý nhập khẩu. Hệ thống lập kế hoạch xuất khẩu
trực tiếp mang tính cứng nhắc dần ñược thay thế bằng những hoạt ñộng phi
tập trung hoá và theo cơ chế thị trường. Xu hướng thờ ơ và không coi trọng
xuất khẩu của hệ thống thương mại trước cải cách dần dần ñã ñược huỷ bỏ
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
23vì chính phủ phi tập trung hoá hoạt ñộng ngoại thương và ñưa vào thực hiện
các chính sách tỷ giá hối ñoái không ñối xử phân biệt với hàng xuất khẩu.
Mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu: Thay ñổi quan trọng nhất là
mở rộng quyền kinh doanh thương mại cho hoạt ñộng xuất khẩu. Như trên
ñã ñề cập, quyền kinh doanh XNK ñã ñược nới lỏng, và ngay cả những mặt
hàng thiết yếu Nhà nước cũng không có chủ trương ñộc quyền hoàn toàn về
kinh doanh XNK. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu ñược miễn
thuế doanh thu, nếu doanh nghiệp dùng lợi nhuận ñầu tư vào sản xuất hàng
xuất khẩu thì ñược giảm thuế lợi tức. Các doanh nghiệp sản xuất hàng cần
thay thế nhập khẩu ñược xét giảm thuế doanh thu, thuế lợi tức trong thời

sách tỷ giá trong thời gian qua ñã có những ñiều chỉnh, phân theo ba giai
ñoạn sau:
• Thời kỳ thứ nhất: 1988-1991: tỷ giá ñược nới lỏng ñể ñưa dần các
yếu tố thị trường vào cơ chế xác ñịnh tỷ giá.
• Thời kỳ thứ hai: 1992-1997 (trước khi nổ ra khủng hoảng tài chính
tiền tệ), tỷ giá ñược ấn ñịnh và ñiều chỉnh gần như cố ñịnh ñể kiềm chế lạm
phát, ổn ñịnh thị trường tài chính tiền tệ và thu hút ñầu tư nước ngoài.
• Thời kỳ thứ ba: từ sau khủng hoảng ñến nay, chính phủ ñã có những
ñiều chỉnh có tính chủ ñộng hơn ñể khắc phục khủng hoảng và tránh ñồng
Việt Nam bị ñịnh giá quá cao.
Chính sách tỷ giá như trên ñã có tác ñộng tích cực ñến ngoại thương,
ñặc biệt ñối với lĩnh vực xuất khẩu. ðồng tiền ñã ñược ñịnh giá ngày càng
sát với giá trị thực của nó. Tuy nhiên, tỷ giá hối ñoái như hiện nay vẫn cần
phải có sự ñiều chỉnh hơn nữa, tiến tới tự do hoá tỷ giá trong giai ñoạn sớm
nhất.
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
25Hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu cho nông nghiệp: Hiệp ñịnh
nông nghiệp của WTO yêu cầu các nước phải giảm các hình thức trợ cấp
bóp méo thương mại. Hiệp ñịnh nông nghiệp của WTO ñã chia trợ cấp thành
4 nhóm: trợ cấp hộp xanh lơ, trợ cấp hộp xanh lá cây, trợ cấp hộp vàng và
trợ cấp hộp ñỏ. Trợ cấp thuộc diện hộp xanh lơ và xanh lá cây là các biện
pháp trợ cấp ñược phép mà không phải chịu sự ñiều chỉnh. Trợ cấp hộp vàng
ảnh hưởng ñến thương mại, phải ràng buộc và cam kết ñiều chỉnh. Trợ cấp
hộp ñỏ bị cấm và phải loại bỏ khi ñã trở thành thành viên chính thức của
WTO. Ở Việt Nam, trợ cấp hộp vàng trước kia ñược sử dụng ñể hỗ trợ nông
phẩm thông qua Quỹ bình ổn giá. Gần ñây, Quỹ này ñược ñổi tên là Quỹ hỗ
trợ xuất khẩu. Tổng trợ cấp tính gộp hàng năm của Việt Nam trong thời kỳ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status