LUẬN VĂN:
Chính sách thuế xuất nhập khẩu của
Việt Nam trong điều kiện hội nhập với
khu vực và thế giới
Lời mở đầu.
Thuế là một trong những công cụ quản lý và điều tiết của Nhà nước về
gia khu vực mậu dịch tự do AFTA và gần đây nhất là việc Việt Nam ký hiệp
định song phương với Mỹ đang đặt ra nhiều vận hội cho đất nước, nhưng cũng
đặt ra nhiều thách thức mà chúng ta phải nỗ lực mới đạt được những mục tiêu
phát triển mong muốn. Thách thức trước mắt là chúng ta phải cắt giảm thuế quan
với nhiều mặt hàng theo yêu cầu của CEPT (Common Effective Preferential
Tariffs) trong chuơng trình tiến tới AFTA (ASEAN FREE TRADE AREA), xa
hơn nữa là ra nhập WTO. Các chương trình này đòi hỏi chúng ta phải có những
thay đổi về chính sách thuế xuất nhập khẩu cho phù hợp.
Hơn nữa, quá trình quốc tế hoá đang diễn ra mạnh mẽ, ở khắp các châu
lục, các khu vực của thế giới, kéo theo sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của các
nước chậm phát triển nhất. Sự hoà nhập quốc tế này đòi hỏi phải có sự thống
nhất ngày càng rộng rãi của những quy định pháp luật,và thông lệ quốc tế trong
hợp tác phát triển. Sự hoà nhập tất yếu của Việt Nam vào hợp tác khu vực và
quốc tế cũng đặt ra nhiệm vụ thích hợp hoá các chính sách quản lý phát triển
kinh tế, trong đó đặc biệt nhấn mạnh chính sách thuế xuất nhập khẩu, đối với các
điều kiện và thông lệ chung thế giới.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi thực hiện bài viết này với
tiêu đề: “Chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội
nhập với khu vực và thế giới”.
Mục đích của bài viết là nhằm làm sáng tỏ một phần về chính sách thuế
xuất nhập khẩu hiện hành và những biện pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế
xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới.
I.Thương mại quốc tế trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá:
1. Sự hình thành các khu vực mậu dịch tự do và các tổ chức thương mại
quốc tế :
Trên thế giới, xu hướng quốc tế hoá đang trở nên ngày càng mạnh mẽ. Các
chức quốc tế; Xây dựng Đông Nam á thành khu vực hoà bình, tự do, thịnh
vượng và trung lập không có sự can thiệp từ bên ngoài với bất kỳ hình thức nào.
Nguyên tắc hoạt động của ASEAN.
Một là, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc
của tất cả các quốc gia.
Hai là, tôn trọng quyền của mọi quốc gia được tồn tại mà không có sự can
thiệp, lật đổ hoặc áp bức từ bên ngoài.
Ba là, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Bốn là, giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình.
Năm là, từ bỏ việc đe doạ hoặc sử dụng vũ lực.
Sáu là, hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.
Ngoài hai tổ chức trên hiện nay trên thế giới tồn tại rất nhiều các tổ chức
thương mại mang tính quốc tế và khu vực như: APEC (Nhóm hợp tác kinh tế
Châu á Thái Bình Dương).v v.Hay những hiệp định chung về thương mại, như:
Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, hiệp định về khu vực mậu dịch tự do
Bắc Mỹ(NAFTA).
Hiện nay việc hợp tác giữa các quốc gia để giải quyết các vấn đề chung
thường thông qua hình thức đối thoại có thể là song phương hoặc đa phương.
Trong thương mại cũng vậy các nước thường đàm phán với nhau để ký kết các
hiệp định thương mại chung, từ đó thành lập nên các tổ chức thương mại. Các
nước khác có nhu cầu sẽ xin ra nhập các tổ chức đó và xu hướng hội nhập trở
nên phổ biến. Việc hội nhập đặt ra cho các quốc gia những thời cơ nhưng cũng
không ít thách thức. Khi là thành viên của các tổ chức thương mại, các quốc gia
được hưởng các ưu đãi về nhiều mặt, tạo điều kiện để phát triển nền kinh tế
trong nước. Tuy nhiên, các quốc gia muốn trở thành các quốc gia thành viên
phải có đầy đủ điều kiện và phải thoả mãn được những yêu cầu rất cao của các
tổ chức mà họ muốn ra nhập. Chính vì vậy các quốc gia tham gia quá trình hội
giới. Mỗi quốc gia đều có lợi thế so sánh khác nhau vì mỗi nước đều có điều
kiện tài nguyên thiên nhiên khác nhau. Do đó, mỗi nước đều có vai trò tích cực
trong hội nhập.
Có thể đơn cử như trường hợp của Việt Nam và Trung Quốc. Quan hệ ngoại
thương của Việt Nam và Trung Quốc là quan hệ hàng dọc( Việt Nam xuất khẩu
nguyên liệu, nông lâm thuỷ sản, và nhập khẩu hàng công nghiệp). Những mặt
hàng ở nhóm A là lĩnh vực Việt Nam có lợi thế so sánh. Còn Trung Quốc thì có
lợi thế so sánh ở những mặt hàng thuộc nhóm B.
Tuy nhiên hội nhập đặt ra một cuộc chiến không khoan nhượng trên mọi
mặt của đời sống kinh tế. Nó đặt các chủ thể của các nền kinh tế trước tình thế
phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Vậy tại sao Việt Nam quyết định hội nhập?
Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị chính là câu trả lời. Hội nhập sẽ đem lại
nhiều cơ hội phát triển có tầm vóc chiến lược lâu dài, nếu chúng ta biết tổ chức
và chuẩn bị tốt để đương đầu với những thách thức mới.
2.3. Tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam với khu vực và thế giới:
Vào năm 1993, hiệp định khung về hợp tác Việt Nam-EU đánh dấu bước
phát triển quan trọng trong quan hệ thương mại giữa hai bên. Hiệp định về buôn
bán hàng dệt may giữa Việt Nam và EU được ký tắt cuối tháng 12 năm 1992 và
bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/1993.
Tiếp đó, vào ngày 01/10/1996 Việt Nam ra nhập hiệp hội các quốc gia
Đông Nam á (ASEAN). Nội dung chính là việc thực hiện chương trình ưu đãi
thuế quan có hiệu lực chung CEPT, để thành lập một thị trường khu vực rộng
lớn và mở cửa với mức thuế quan thấp (từ 0-5%), xoá bỏ các hàng rào thương
mại cho các nước thành viên.
Gần đây, Việt Nam và Hoa Kỳ vừa ký kết hiệp định thương mại Việt
Nam-Hoa Kỳ. Mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và
Mỹ. Tạo điều kiện cho hàng hoá Việt Nam xâm nhập vào thị trường Mỹ ,một thị
trường lớn và quan trọng bậc nhất thế giới.
Trong những năm đầu cải cách định hướng thị trường, Việt Nam đã áp dụng
thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng xuất khẩu. Điều đó là cơ sở để bảo vệ môi
trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, và giữ đầu vào cho sản xuất trong nước.
Những loại thuế này đã dần được bãi bỏ. Đến năm 1998, chỉ còn hai sản phẩm là
dầu thô và kim loại phế thải là chịu thuế xuất khẩu.
2.Tác dụng của thuế xuất nhập khẩu:
Một là, thuế xuất nhập khẩu là một trong những biện pháp tài chính mà
các nước dùng để can thiệp vào hoạt động ngoại thương. Thuế xuất nhập khẩu
thực chất là một khoản thu bắt buộc điều tiết vào giá của hàng hoá, dịch vụ được
trao đổi buôn bán giữa các quốc gia mà chủ sở hữu chúng phải nộp thuế cho nhà
nước.
Hai là, thuế chính là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Thông
thường nguồn thu từ thuế chiếm từ 60-90% ngân sách. Cho nên thuế thường trở
nên là một công cụ quan trọng của chính phủ góp phần tích cực vào việc điều
chỉnh các mất cân đối lớn trong nền kinh tế; góp phần khuyến khích tăng trưởng
kinh tế; khuyến khích cạnh tranh và mở rộng các thành phần kinh tế, động viên
khai thác tài nguyên lao động, nguyên nhiên vật liệu trong nước; kích thích
nguồn vốn khai thác từ nước ngoài; mở rộng giao lưu hàng hoá Ngoài ra, thuế
còn có tác dụng góp phần đảm bảo công bằng xã hội, bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế
Ba là,Việt Nam là một trong những nước mà hệ thống thuế chưa phát triển
thì thuế xuất nhập khẩu được xem là nguồn thu quan trọng trong ngân sách
Chính phủ. Khối lượng thuế nhập khẩu là chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ
nguồn thu của nước ta, do đặc điểm là sản xuất công nghiệp còn non yếu và tiêu
thụ lại theo xu hướng chuộng đồ ngoại. Nên tốc độ nhập khẩu luôn tăng nhanh
hơn tốc độ phát triển kinh tế và vì vậy thuế nhập khẩu càng trở nên quan trọng.
Sau khi gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và chuẩn bị để ra
nhập WTO, việc cơ cấu lại một cách căn bản hệ thống thuế quan đã được tiến
hành từ đầu năm 1999 (theo Quyết định 1983 của Bộ Tài chính, ban hành ngày
11-12-1998). Theo cơ cấu thuế quan mới thì biểu thuế xuất nhập khẩu nước ta
bao gồm hai loại thuế xuất là thuế xuất ưu đãi và thuế xuất phổ thông, được chia
thành ba loại thuế suất (ba thuế suất khác nhau cho cùng một hạng mục thuế):
Một là, thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng cho hàng nhập khẩu từ các nước
thành viên Hiệp hội Thương mại tự do ASEAN (thuế suất ưu đãi có hiệu lực
chung, CEPT).
Hai là, thuế suất ưu đãi áp dụng cho những nước mà Việt Nam được hưởng
quy chế tối huệ quốc (Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, hầu hết các nước Châu á
ngoài ASEAN, New Zealand, Australia và Mỹ)
Với điều kiện phải ghi rõ ràng từng mặt hàng, số lượng, mức thuế suất ưu
đãi cụ thể.
Ba là, thuế suất thông thường được áp dụng cho các loại hàng hoá nói chung
không phụ thuộc vào xuất xứ của hàng hoá từ nước nào, hàng hoá từ mọi nước
dùng chung một mức thuế.(Thuế suất danh nghĩa cao hơn cao hơn so với thuế
suất ưu đãi loại hai 50% )
Để khuyến khích xuất nhập khẩu, đặc biệt đối với việc nhập khẩu hàng
hoá phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu, chính sách thuế xuất nhập khẩu còn quy
định các trường hợp được miễn giảm và hoàn lại thuế.
Đã có sự điều chỉnh đáng kể trong cơ cấu thuế quan mới trong những năm
qua. Thuế suất trung bình (không gia quyền) đã tăng từ 12,8% năm 1995 lên
13,4% năm 1997, lên 15,7% vào năm 2002. Sự gia tăng đôi chút này lại kèm
theo việc giảm đáng kể về độ phân tán của từng loại thuế suất riêng biệt xung
quanh thuế suất trung bình; hệ số biến thiên đã giảm từ 131% năm 1997 xuống
116,3% năm 2002. Cơ cấu thuế quan hiện tại chỉ có 15 dòng thuế, so với 35 vào
Quốc, Indonesia,Philippines, Malaysia và Thái Lan. Thuế suất trung bình của
Việt Nam (theo bình quân đơn giản và gia quyền theo lượng nhập khẩu) là ngang
với Trung Quốc và Thái Lan, nhưng cao hơn nhiều so với ba nước còn lại. Điều
suy luận này cũng đúng cho hàng công nghiệp chế tạo và hàng nông sản nhập
khẩu. Tuy nhiên, cơ cấu thuế quan của Việt Nam cho đến nay tỏ ra có độ phân
tán cao nhất (chênh lệch xa so với mức thuế trung bình) so với năm nước kia.
Việc thay đổi chính sách thuế xuất nhập khẩu đã mang lại một số kết quả
khả quan. So với năm 1994, năm trước khi Việt Nam ra nhập ASEAN, kim
ngạch xuất khẩu năm 2001 của Việt Nam sang các nước khác thuộc ASEAN đạt
trên 2,55 tỷ USD, lớn gấp 2,8 lần. Còn kim nghạch nhập khẩu từ các nước khác
trong hiệp hội đạt khoảng 4,12 tỷ USD gấp hơn 2,3 lần.
III. Những ưu điểm, những hạn chế và các giải pháp nhằm hoàn thiện chính
sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập với khu
vực và thế giới hiện nay:
1. Những ưu điểm của thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay:
Chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành hiện nay đã có nhiều
thay đổi căn bản và hoàn thiện hơn trước đây. Cụ thể:
Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu hiện hành được xây dựng trên cơ sở danh
mục điều hoà(HS) 1996 của Hội đồng hợp tác hải quan thế giới, đã bước đầu tạo
điều kiện thuận lợi cho việc phân loại hàng hoá dựa trên cấu tạo, đặc điểm của
hàng hoá góp phần làm cho chính sách thuế xuất nhập khẩu dần dần phù hợp
với thông lệ quốc tế.
Thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được thiết kế hợp lý hơn. Hiện
nay đối với phần lớn hàng xuất khẩu có thuế suất 0%, trừ một số hàng như dầu
thô, một số loại quặng và song mây. Thuế nhập khẩu được quy định có 3 mức là
thuế suất ưu đãi, thuế suất thông thường và thuế suất ưu đãi đặc biệt để áp dụng
trong những trường hợp khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ quan hệ thương mại
thương mại
5.459
8.155
2.707
7.256
11.144
9.888
9.145
11.622
2.477
1.861
11.494
2.133
Nguồn: Thống kê hải quan-Tổng cục hải quan.
Thị truờng xuất khẩu của nước ta được mở rộng và ngày càng tăng so với
trước đây. Nhiều thị trường xuất nhập khẩu đã được mở ra như thị trường Liên
minh Châu Âu(EU), Nhật Bản, Hồng Kông, Trung quốc, Australia, Trung cận
đông, Châu Phi và các nước Đông Nam á. Đến nay Việt Nam đã đặt quan hệ
buôn bán với 105 quốc gia, trong đó có 10 quốc gia là bạn hàng lớn nhất chiếm
trên dưới 75% tổng kim nghạch xuất khẩu, nhập khẩu. Hàng Việt Nam đã từng
bước thâm nhập thị trường Mỹ, hiện nay ta đang khôi phục lại thị trường truyền
thống đối với các nước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu
Có thể nói rằng chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã có tác động
tích cực trong việc quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế
đối ngoại, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần phát triển, bảo
Việc ban hành biểu thuế nhập khẩu hiện nay có quá nhiều mức thuế suất
dưới 5% làm cho kết quả thu vào ngân sách bị hạn chế, dồn gánh nặng về yêu
cầu động viên ngân sách nhà nước cho các mặt hàng khác. Biểu thuế nhập khẩu
mặc dù quy định theo khung thuế suất tạo điều kiện cho việc quy định mức thuế
suất được linh hoạt nhưng lại dẫn đến thiếu ổn định, làm cho doanh nghiệp thiếu
yên tâm trong việc đầu tư phát triển sản xuất và nhập khẩu.
2.2.Thuế nhập khẩu bao gồm nhiều thứ thuế, cả thuế doanh thu cả thuế
tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng nên thuế suất rất cao (như rượu, bia từ
100-150%, ôtô từ 50%-200% ). Tuy có thuận tiện là tập trung nhưng không phù
hợp với thông lệ quốc tế, dễ bị hiểu lầm là hạn chế hàng nước ngoại nhập khẩu
vao Việt Nam.
2.3.Thuế suất cao và quá cao đánh vào một số mặt hàng tiêu dùng trong
nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ đã khuyến khích tình trạng buôn
lậu và trốn thuế của các doanh nghiệp. Nhiều phương thức trốn thuế được sử
dụng kể cả hối lộ cán bộ hải quan và kết hợp với nhiều hiện tượng tiêu cực khác.
Biểu thuế nhập khẩu càng có nhiều tầng, nhiều sự phân biệt chiếu cố theo mục
tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế hay hạn chế tiêu thụ đều là chỗ dựa cho hiện tượng
tiêu cực. Việc giảm xuất nhập khẩu tiểu nghạch đã phần nào hạn chế hiện tượng
tiêu cực theo các cửa khẩu biên giới rất khó kiểm soát.
2.4. Việc ban hành biểu thuế với nhiều thứ thuế suất cao, thấp còn căn
cứ vào mục đích sử dụng chứ không theo tính chất hàng hoá. Vì vậy nhiều mặt
hàng có cùng tính chất nhưng mục đích sử dụng khác nhau có thuế suất nhập
khẩu chênh lệch khá lớn như: Xe đua(thuế suất 5%), xe đạp thường (70%), ôtô 4
chỗ (200%), xe cứu thương (0%) Cho nên nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng điều
này để thực hiện hành vi gian lận thương mại, trốn thuế. Thủ thuật quan trọng
nhất để trốn thuế là hạ thấp giá trị hàng nhập khẩu để hạ thấp giá trị tính thuế
hay hạ quy cách kê khai để hưởng mức thuế suất thấp hơn đã trở nên phổ biến
với hàng hoá có đơn giá lớn và thuế suất cao như: xe hơi, rượu mạnh Điển hình
là các doanh nghiệp nhập khẩu xe tải nhẹ nhưng nguỵ trang dưới hình thức là
lý. Với biểu thuế từ 30%-40% cho những lô hàng nguyên liệu, phụ liệu để sản
xuất hàng xuất khẩu, trong thời gian nộp thuế 30 ngày thì cơ sở sản xuất sẽ
không đủ vốn để tạm ứng nộp thuế, vì khi nguyên liệu về, cơ sở phải lo triển
khai sản xuất trong thời gian vài tháng thậm chí có lô kéo dài tới nửa năm.
2.7.Việc thực hiện thuế xuất nhập khẩu tiểu ngạch biên giới còn bất
hợp lý. Điều này được thể hiện ở chỗ: Thông thường thì các mặt hàng Việt Nam
xuất sang Trung Quốc là những mặt hàng khuyến khích xuất khẩu như than số
11, 12; chuối xanh, tiêu, điều, ớt, dừa Với số lượng ít, kém chất lượng, những
mặt hàng khó xuất sang theo con đường chính ngạch. Nhưng xuất khẩu theo con
đường tiểu ngạch phải chịu mức thuế suất là 5%, cao hơn xuất khẩu chính
ngạch Chính thuế nhập khẩu đánh vào hàng nguyên liệu đầu vào đã làm tăng
giá cả hàng sản xuất và xuất khẩu trong nước, làm giảm khả năng cạnh tranh
hàng hoá của ta trên trường quốc tế. Như vậy thuế xuất đó là một lực cản kìm
hãm xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước.
Hiện nay, Việt Nam đã ký kết hiệp định thương mại với nhiều nước, trong
đó có điều khoản dành cho nhau ưu đãi tối huệ quốc về thuế nhập khẩu (MFN)
nhưng không ghi rõ từng mặt hàng với số lượng cụ thể . Do đó, trên thực tế, biểu
thuế nhập khẩu hiện hành của Việt Nam chỉ có duy nhất một loại thuế suất áp
dụng phổ cập cho tất cả các loại hàng hoá không phân biệt nguồn gốc xuất xứ
hoặc tình huống áp dụng. Hơn nữa, Việt Nam đã tham gia khu vực mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA), Diễn đàn kinh tế châu á Thái Bình Dương (APEC), và sắp
tới sẽ là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) nên trong quan hệ
thương mại với các thành viên của các tổ chức này và một số nước Việt Nam có
chung biên giới. Việt Nam đã, đang và sẽ có những thoả thuận ưu đãi riêng. Như
vậy quy định về thuế suất ưu đãi của Luật Thuế xuất nhập khẩu hiện hành chưa
cụ thể, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế về ưu đãi tối huệ quốc (MFN).
Đặc biệt, gần đây ta mới ký hiệp định thương mại song phương với Hoa
hoạt động xuất nhập khẩu và đảm bảo nguồn thu ngân sách từ hoạt động xuất
nhập khẩu phù hợp với cải cách toàn diện hệ thống thuế nước ta hiện nay. Để
phù hợp với nội dung này cần bổ xung những quy định về giá tính thuế, kê khai,
nộp thuế, thời hạn nộp thuế một cách rõ ràng, chặt chẽ tạo điều kiện cho doanh
nghiệp dễ dàng xác định được nghĩa vụ thuế của mình và thực hiện nộp thuế đầy
đủ nghiêm túc theo đúng luật định. Đồng thời phải tiếp tục hoàn thiện việc tổ
chức, quản lý thực hiện chính sách thuế, giảm thiểu những phiền hà, tạo điều
kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động xuất nhập
khẩu, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia.
Hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện hội nhập với
khu vực và thế giới đòi hỏi chính sách thuế phải phù hợp với yêu cầu của hội
nhập kinh tế, thông lệ quốc tế chống lại thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh
của nước ngoài. Tham gia vào các khối liên kết kinh tế, chúng ta đã ký các cam
kết về ưu đãi thuế nhập khẩu, ưu đãi tối huệ quốc trong hiệp định thương mại
giữa Việt Nam với các nước, ưu đãi đặc biệt với các nước ASEAN, APEC, EU
trong thời gian qua và cam kết trong thời gian tới với các nước thành viên của tổ
chức thương mại thế giới WTO và mới đây là hiệp định thương mại Việt-Mỹ.
Các cam kết này là cơ sở pháp lý, cũng như thể hiện rõ ràng chính sách thuế
xuất nhập khẩu được phân biệt theo mức độ quan hệ thương mại giữa Việt Nam
với các nước, tạo thuận lợi cho đàm phán về thuế với các nước trong khu vực và
thế giới. Vì vậy chính sách thuế xuất nhập khẩu cũng cần phải quy định các mức
thuế suất khác nhau.
Đồng thời, để tăng cường các công cụ pháp lý bảo hộ sản xuất trong nước
phù hợp với thông lệ quốc tế trong điều kiện tự do hoá thương mại hiện nay,
thuế xuất nhập khẩu cần được bổ xung những quy định về các mức thuế suất tạm
thời áp dụng trong các trường hợp nước nào đó sử dụng những biện pháp cạnh
tranh không lành mạnh, hoặc có những phân biệt đối xử trong buôn bán với Việt
Hai là, giảm mức thuế nhập khẩu hiện nay xuống còn bốn hoặc năm mức.
Sự chênh lệch giữa các mức là do yêu cầu bảo hộ đối với từng nghành sản xuất.
Nếu bảo hộ ở mức 1 là dưới 10% thì mức 2 là 20%, mức 3,4,5 tương ứng là
30%, 40%, 50%. Thuế suất cao tối đa chỉ nên chiếm khoảng trên dưới 10% tổng
danh mục hàng nhập khẩu chịu thuế. Và để phù hợp với yêu cầu hội nhập ta phải
giảm dần mức thuế cao nhất và giảm số lượng mức thuế. Về lâu dài mức thuế
phù hợp với yêu cầu của AFTA là từ 0-5%, nhưng trước mắt ta phải giảm dần.
Đối với các mặt hàng mà chúng ta không có tiềm năng lợi thế và chưa có khả
năng sản xuất trong những năm sắp tới, những mặt hàng là nguyên liệu vật tư
quan trọng và chủ yếu cho sản xuất của các ngành có thể nhấn mạnh cạnh tranh
và xuất khẩu hoặc là thiết bị đặc biệt chuyên dùng cho các ngành quốc phòng, an
ninh, ytế, giao thông, nông nghiệp, cần xây dựng các mức thuế nhập khẩu từ
0%-5%. Cùng với việc thu hẹp đến mức tối cần thiết diện mặt hàng có mức thuế
suất 0%, cần giảm bớt diện mặt hàng miễn thuế nhập khẩu, theo hướng chỉ miễn
thuế suất thuế nhập khẩu cho một số trường hợp theo thông lệ quốc tế.
Với việc giảm số lượng mức thuế nhập khẩu, có những mặt hàng thì tăng
thuế nhập khẩu, có những mặt hàng nhập khẩu thì giảm thuế. Đối với những mặt
hàng mà Việt Nam có thế mạnh cạnh tranh và xuất khẩu được thì tăng thuế sát
thuế nhập khẩu, còn đối với những mặt hàng sẽ tăng thuế tiêu thụ, thuế giá trị
gia tăng hoặc chuyển sang thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, hoặc
những mặt hàng mà mức thuế nhập khẩu cao quá mức cần thiết thì giảm mức
thuế suất nhập khẩu. Điều này sẽ tạo điều kiện để Việt Nam hoà nhập vào hệ
thống thuế quan của các nước ASEAN trong thời gian tới và thực hiện đảm bảo
nguồn thu cho ngân sách.
Ba là, có thể áp dụng một phương pháp khác trong việc sửa đổi biểu thuế
nhập khẩu để cho nó phù hợp với các quy định quốc tế mà nước ta đã cam kết và
sẽ thực hiện, để áp dụng trong các trường hợp khác nhau tuỳ thuộc vào quan hệ
quy định miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cần phải ghi rõ hơn đối với những
hàng hoá liên quan tới khuyến đầu tư nước ngoài, phục vụ liên doanh liên kết.
3.4. Thực hiện đồng bộ thuế xuất nhập khẩu với thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc
biệt và các loại thuế khác:
Cho đến nay, do trình độ phát triển của nền kinh tế nước ta ở mức độ thấp,
các ngành kinh tế chưa đạt được trình độ phát triển đồng đều thể hiện ở những
mức độ khác nhau về hiệu qủa sản xuất và tỷ lệ lợi nhuận, đòi hỏi những mức độ
khác nhau về sự trợ giúp của Nhà nước , về bảo hộ, về điều tiết. Trong điều kiện
như vậy, chính sách thuế bị chi phối và chưa thể tính toán về các mức thuế suất
dựa trên mức lợi nhuận bình quân trong các ngành. Việc tham gia vào quá trình
hội nhập đòi hỏi chúng ta phải xây dựng một hệ thống thuế trung lập thể hiện rõ
nhất ở việc đơn giản các mức thuế để tạo điều kiện phân bổ các nguồn lực một
cách hợp lý, khuyến khích các nhà sản xuất đầu tư vào các lĩnh vực có lợi thế so
sánh, có thể đạt được hiệu quả sản xuất cao, có khả năng cạnh tranh được với
hàng hoá các nước. Một hệ thống thuế trung lập và rõ ràng sẽ tạo điều kiện thu
ngoài, khơi trong. Việc đơn giản các mức thuế suất này cần được thực hiện cụ
thể với từng sắc thuế.
Cùng với việc giảm số lượng các mức thuế suất và giảm dần thuế suất của
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như đã trình bày ở trên đây, cần nhanh chóng mở
rộng thuế tiêu thụ đặc biệt, áp dụng thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh
nghiệp và tiến tới áp dụng thuế thu nhập dân cư Với các biện pháp như vậy, thì
nguồn thu của ngân sách Nhà nước bị giảm sút do giảm thuế suất nhập khẩu sẽ
phần nào được bù bằng các loại thuế khác.
3.5. Đổi mới công tác tổ chức, quản lý thi hành chính sách thuế xuất
nhập khẩu:
Những nội dung về chính sách thuế xuất nhập khẩu nêu trên không thể
thực hiện tốt nếu công tác tổ chức, kiểm tra việc thi hành các chính sách, luật
4. Nghị định 57/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31-07-1998. Quy định chi
tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất nhập khẩu,
5. Nghị định 14/ 1999/ NĐ-CP về ban hành Danh mục hàng hoá và thuế
suất của Việt Nam để thực hiện hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT) của các nước ASEAN cho năm 2000
6. Nghị định 09/ 2000/ NĐ-CP về ban hành Danh mục hàng hoá và thuế
suất của Việt Nam để thực hiện hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT) của các nước ASEAN cho năm 2000
7.Hiệp định thương mại Viêt Nam- Hoa Kỳ.
8.Chính sách thuế trong kế hoạch năm năm 1996-2000.
III.Báo, tạp chí, bài viết :
+Tạ Cả( Thứ trưởng Bộ Thương mại)- Xuất nhập khẩu trong quá trình đổi
mới và hội nhập thị trường thế giới- Tạp chí Thương mại.